Indonesia – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Fri, 31 Oct 2025 03:39:14 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 Chính quyền Trump dùng thuế quan để buộc Indonesia hợp tác trên vấn đề Biển Đông https://biendong.net/2025/10/22/chinh-quyen-trump-dung-thue-quan-de-buoc-indonesia-hop-tac-tren-van-de-bien-dong/ Wed, 22 Oct 2025 03:31:53 +0000 https://biendong.net/?p=159018 Ngày 15/7, Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố Mỹ và Indonesia đã nhất trí về một thỏa thuận thuế quan, theo đó, Mỹ sẽ giảm thuế đối với hàng hóa của Indonesia từ 32% như đã đe dọa xuống còn 19%. Dù các thông tin chi tiết của thỏa thuận không được công bố, song có những ý kiến cho rằng Mỹ đã gắn việc giảm thuế quan với chính sách chiến lược của Indonesia ở Biển Đông.

Trước khi ông Trump đưa ra tuyên bố trên, các quan chức Indonesia đã chia sẻ riêng những lo ngại về vấn đề này với học giả Aristyo Rizka Darmawan của trường Đại học Quốc gia Australia và nhà nghiên cứu về Đông Nam Á của Viện Lowy Abdul Rahman Yaacob. Họ cho biết Washington đã gắn thuế quan với các vấn đề địa chiến lược, và tranh chấp Biển Đông là trọng tâm.

Tin tức ngày 11/7 của Hãng tin IDN Times của Indonesia củng cố thêm nhận định trên khi trích dẫn phản hồi của Jakarta đối với các đề xuất thương mại mới nhất của Trump ngày 7/7, những đề xuất là cơ sở cho thỏa thuận mà hai bên đạt được ngày 15/7. Theo đó, để tránh bị áp mức thuế quan cao, Indonesia đề nghị tăng cường hợp tác an ninh, hàm ý rõ ràng rằng Mỹ đã gắn vấn đề này với vấn đề thương mại. Cụ thể, “chính phủ Indonesia cam kết tăng cường hợp tác chiến lược với Mỹ trong các lĩnh vực hàng hải và quân sự, cũng như tăng cường giám sát biên giới tại các khu vực nhạy cảm như Biển Đông”. Indonesia cũng đề nghị “hợp tác chặt chẽ hơn với Mỹ về các vấn đề kinh tế và an ninh thông qua chính sách hàng hải, nhưng không bao gồm việc đẩy nhanh tiến trình phê chuẩn Hiệp định phân định vùng đặc quyền kinh tế Indonesia-Việt Nam. Đề nghị hợp tác kinh tế và an ninh chặt chẽ hơn này chỉ bao gồm kiểm soát xuất khẩu, tăng cường hợp tác quân sự, sử dụng công nghệ truyền thông an toàn và tăng cường giám sát và kiểm soát biên giới, đặc biệt là ở Biển Đông”.

Tài liệu được hãng tin IDN Times trích dẫn cho thấy Washington nỗ lực để có được hai cam kết của Indonesia về Biển Đông trong thỏa thuận thương mại. Thứ nhất, Washington thúc đẩy Jakarta hợp tác an ninh chặt chẽ hơn, đặc biệt là tại khu vực tranh chấp ở Biển Đông. Sự hợp tác chặt chẽ này có thể bao gồm các cuộc tập trận quân sự và tuần tra chung. Thứ hai, Mỹ muốn Indonesia đẩy nhanh việc phê chuẩn Hiệp định phân định vùng đặc quyền kinh tế Indonesia-Việt Nam. Điều này rất quan trọng vì hiệp định phân định biển mà Indonesia và Việt Nam ký kết chồng lấn với yêu sách “đường chín đoạn”, vốn vạch ra yêu sách (mơ hồ) của Trung Quốc đối với Biển Đông. Việc phê chuẩn hiệp định sẽ tái khẳng định rằng Indonesia không công nhận bất kỳ yêu sách nào của Trung Quốc. Cam kết này cũng có thể khuyến khích Indonesia rút khỏi kế hoạch hợp tác khai thác chung vùng biển tranh chấp với Trung Quốc được công bố hồi tháng 11/2024. Mặc dù Tổng thống Prabowo Subianto đã tuyên bố Indonesia cam kết phê chuẩn hiệp định, nhưng quá trình phê chuẩn tại Quốc hội Indonesia đã bị trì hoãn hơn 1 năm.

Giới quan sát nhận định hiện Mỹ đang tích cực thúc đẩy đàm phán thương mại với nhiều quốc gia, riêng đàm phán với Indonesia có sự khác biệt so với các quốc gia khác. Trong quan hệ thương mại với nhiều quốc gia khác, chính quyền Trump chỉ tập trung vào kinh tế. Thế nhưng, trong trường hợp với Indonesia, rõ ràng Washington đang cố ép buộc chính sách Biển Đông của Indonesia phải phù hợp với lợi ích của Mỹ và làm suy yếu ảnh hưởng khu vực của Trung Quốc.

Những gì chúng ta đang thấy là việc chính quyền Trump sẵn sàng sử dụng áp lực kinh tế để điều hướng các quyết định chính sách đối ngoại của Indonesia, cụ thể là sử dụng Indonesia để thách thức vị thế của Trung Quốc ở Biển Đông. Trên thực tế, Trung Quốc cũng đã từng dùng áp lực kinh tế để “bẻ cong” chính sách của Indonesia. Kế hoạch hợp tác khai thác chung là ví dụ điển hình, bởi một tuyên bố chung của Indonesia với Trung Quốc công nhận yêu sách chồng lấn sẽ hàm ý rằng Indonesia công nhận các quyền của Trung Quốc tại khu vực đó. Đáng chú ý, đi kèm với thỏa thuận này chính là sự hấp dẫn của cam kết đầu tư 10 tỷ USD của Trung Quốc vào Indonesia.

Bắc Kinh đã đe dọa trả đũa các quốc gia ký kết các thỏa thuận thương mại với Mỹ mà gây tổn hại đến lợi ích của Trung Quốc. Một quan chức Trung Quốc tuyên bố: “Trung Quốc kiên quyết phản đối bất kỳ bên nào đạt được thỏa thuận mà gây tổn hại đến lợi ích của Trung Quốc… Nếu điều này xảy ra, Trung Quốc sẽ không bao giờ chấp nhận và sẽ kiên quyết thực hiện các biện pháp đối phó theo cách có đi có lại”.

Jakarta đang rơi vào tình thế khó khăn khi cố gắng đi theo đường lối không liên kết và không chọn bên trong cuộc cạnh tranh địa chính trị Mỹ-Trung ở khu vực. Mặc dù vùng đặc quyền kinh tế của Indonesia chồng lấn với yêu sách “đường chín đoạn”, nhưng Jakarta vẫn luôn tự coi mình là một bên không có yêu sách ở Biển Đông. Dưới thời của cựu Tổng thống Indonesia, Jakarta đã công khai từ chối công nhận các yêu sách biển quá mức của Trung Quốc ở Biển Đông, đã nhiều lần công khai bác bỏ yêu sách “đường 9 đoạn”, thậm chí gửi công hàm lên Liên hợp quốc khẳng định quan điểm này. Tuy nhiên, sau khi lên cầm quyền, Tổng thống đương nhiệm Prabowo Subianto đã có những động thái gây tranh cãi xung quanh vấn đề này khi đồng ý đưa vào Tuyên bố chung trong chuyến thăm Trung Quốc tháng 11/2024 nội dung về hợp tác khai thác chung trên biển với Trung Quốc.

Với chính sách không liên kết, Indonesia đã từ chối ủng hộ Mỹ trong việc chống lại ảnh hưởng của Trung Quốc ở Đông Á, đồng thời cũng không ủng hộ Trung Quốc. Indonesia giờ đây có ít lý do hơn để khiêu khích Trung Quốc so với vài năm trước, có ít tàu chính phủ và tàu cá Trung Quốc xâm phạm vùng biển Indonesia xung quanh đảo Natuna hơn so với trước đây. Giới quan sát nhận định đây có thể là lý do Jakarta đang trì hoãn việc phê chuẩn Hiệp định phân định vùng đặc quyền kinh tế Indonesia-Việt Nam để tránh làm “mất lòng” Bắc Kinh.

Việc Indonesia đồng ý tăng cường hợp tác an ninh biển với Mỹ khiến Trung Quốc lo ngại bởi từ lâu, Bắc Kinh luôn tìm cách loại trừ các cường quốc ngoài khu vực khỏi các tranh chấp ở Biển Đông. Hoạt động chung giữa Indonesia và Mỹ ở Biển Đông có thể tiếp tục trì hoãn những nỗ lực đàm phán kéo dài về Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông nhằm điều chỉnh các hoạt động trong khu vực tranh chấp giữa Trung Quốc và ASEAN.

Indonesia là nước lớn nhất trong ASEAN và có vai trò quan trọng trên các vấn đề an ninh khu vực, trong đó có Biển Đông, hay nói cách khác, Indonesia có tiềm năng quyền lực rất lớn. Nước này là nơi sinh sống của 280 triệu người, không kém so với Mỹ. Đất nước vạn đảo này dồi dào tài nguyên thiên nhiên. Dân số đông và nền kinh tế đang phát triển sẽ cho phép Indonesia đóng vai trò hàng đầu ở Đông Nam Á và khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Trong thời gian qua, Washington cơ bản thành công trong việc củng cố, tăng cường quan hệ đồng minh quân sự với Philippines trong việc thành lập mặt trận chống lại Trung Quốc. Giới chuyên gia nhận định với mục tiêu kiềm chế, ngăn chặn Bắc Kinh trong chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương thì việc tăng cường hợp tác an ninh, quân sự với Jakarta nằm trong tính toán lâu dài của Washington. Chính quyền Trump nhiệm kỳ 2 đang dùng thuế quan để chống lại Trung Quốc, do vậy việc Mỹ dùng vấn đề thuế quan để gây sức ép buộc Indonesia hợp tác với Mỹ trên vấn đề Biển Đông là điều dễ hiểu.

Cùng với việc công bố mức thuế cho Indonesia, Tổng thống Donald Trump cho biết: “Indonesia đã cam kết mua 15 tỷ USD năng lượng của Mỹ, 4,5 tỷ USD nông sản Mỹ và 50 máy bay Boeing, đa số là máy bay 777”. Phát biểu tại một hội nghị năng lượng ở Pennsylvania hôm 15/7, Tổng thống Trump bày tỏ sự quan tâm đến đồng của Indonesia khi nhấn mạnh “Indonesia thực sự có nguồn đồng dồi dào, rất mạnh”.

Liên quan tới thoả thuận về thuế quan với Mỹ, Tổng thống Indonesia Prabowo cho biết đây là một cuộc đàm phán khó khăn. “Nhưng cuối cùng chúng tôi đã đạt được thỏa thuận. Chúng tôi hiểu lợi ích của họ, và họ cũng hiểu lợi ích của chúng tôi”. Trong khi đó, Bộ trưởng Năng lượng Indonesia Bahlil Lahadlia cho biết nước này sẽ tiếp tục xuất khẩu tinh quặng đồng sang Mỹ thay vì quặng thô, phù hợp với chính sách hạn chế xuất khẩu khoáng sản thô của Jakarta.

Việc Tổng thống Mỹ Donald Trump hôm 15/7 tuyên bố áp dụng mức thuế 19% đối với Indonesia mới chỉ là sự thống nhất về nguyên tắc giữa nguyên thủ 2 quốc gia, hai bên vẫn phải tiếp tục thảo luận về những nội dung cụ thể, chi tiết để tiến tới để ký kết thoả thuận và Jakarta đang tiếp tục nỗ lực đàm phán các vấn đề liên quan nhằm tối ưu hoá lợi ích của mình trong quan hệ thương mại với Mỹ. Ông Susiwijono Moegiarso, Bộ trưởng Bộ Điều phối Kinh tế Indonesia cho biết: “Danh sách các mặt hàng đang đàm phán rất dài, và chúng tôi hy vọng mức thuế sẽ là 0%”.

Ông Susiwijono Moegiarso cho biết Indonesia đặc biệt yêu cầu mức thuế 0% đối với các sản phẩm chủ chốt có nhu cầu cao tại Mỹ bao gồm dầu cọ thô, cà phê, ca cao và kền. Ông Moegiarso nói vẫn còn “cửa” để đàm phán, đồng thời trích dẫn thỏa thuận của Indonesia về mức thuế 0% đối với 99% sản phẩm mà Mỹ có thể xuất khẩu sang nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á này.

Theo ông Moegiarso, Jakarta và Washington sẽ có tuyên bố chung sau khi các cuộc đàm phán kết thúc. Hiện vẫn chưa rõ về việc liệu mức thuế 19% có áp dụng cho tất cả các sản phẩm của Indonesia hay chỉ áp dụng cho các mặt hàng chủ chốt như dầu cọ và hàng dệt may. Ngoài ra, hàng hoá của nước thứ ba xuất khẩu vào Mỹ qua Indonesia sẽ chịu mức thuế lên tới 40% như Mỹ công bố áp dụng đối với Việt Nam. Giới chuyên gia nhận định mặc dù không nói rõ hàng hoá nước thứ ba là nước nào, song rõ ràng điều khoản này là nhằm vào hàng hoá Trung Quốc muốn mượn đường các nước Đông Nam Á để vào Mỹ.

Giới phân tích nhận định Indonesia có sự phụ thuộc lớn về kinh tế với Bắc Kinh, chính quyền Tổng thống Prabowo cũng muốn tranh thủ số vốn 10 tỷ USD đầu tư mà Trung Quốc đã cam kết tháng 11/2024 để phát triển đất nước, tuy nhiên Jakarta luôn cảnh giác trước nguy cơ đến từ chủ nghĩa bá quyền của Bắc Kinh. Indonesia dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Prabowo Subianto đã tăng chi tiêu quốc phòng từ 1% GDP hiện nay lên 1,5% GDP cho lực lượng vũ trang vào năm 2029. Hiện mong muốn mạnh mẽ của Indonesia là cải tổ quân đội trước mối đe dọa từ Trung Quốc. Jakarta đặc biệt quan tâm đến việc củng cố năng lực phòng thủ của các đảo cực Bắc vốn đang nằm trong tầm ngắm trong các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với toàn bộ Biển Đông. Để thực hiện mục tiêu này, Indonesia nhận thức rõ cần tăng cường hợp tác an ninh quốc phòng với Mỹ. Theo đó, Indonesia mong muốn được huấn luyện với quân đội Mỹ, mua vũ khí Mỹ và cải thiện năng lực tương tác với các lực lượng Mỹ. Đây là điều mà chính quyền Tổng thống Trump khuyến khích. Trên thực tế, Washington đã hỗ trợ Jakarta xây dựng một trung tâm huấn luyện hàng hải trên đảo Batam nhìn ra Eo biển Malacca. Vào tháng 6/2023, máy bay ném bom chiến lược B-52 của Mỹ đã có chuyến thăm đầu tiên tới Indonesia – điều không thể tưởng tượng được một thập kỷ trước đó. Mỹ là một thị trường đặc biệt quan trọng đối với các hàng hoá xuất khẩu của Indonesia. Chính quyền Trump hiểu rõ điều này nên đã dùng vấn đề thuế quan để gây sức ép kéo Jakarta hợp tác với Washington ở Biển Đông. Giới phân tích cho rằng đối mặt với áp lực kinh tế từ Washington, có lẽ Indonesia đã cam kết hợp tác an ninh chặt chẽ hơn với Mỹ để đổi lấy các nhượng bộ về thuế quan. Điều này đặt Indonesia vào thế khó xử vì đã phá vỡ cam kết lâu dài về chính sách không liên kết. Mặt khác, Indonesia có nguy cơ bị Trung Quốc trả đũa.

]]>
Tăng cường hợp tác quốc phòng Indonesia – Nhật Bản và tác động tới Biển Đông https://biendong.net/2025/10/08/tang-cuong-hop-tac-quoc-phong-indonesia-nhat-ban-va-tac-dong-toi-bien-dong/ Wed, 08 Oct 2025 03:16:06 +0000 https://biendong.net/?p=158985 Indonesia là một trong hai nước Đông Nam Á được Thủ tướng Nhật Bản Ishiba Shigeru chọn để thực hiện chuyến công du nước ngoài đầu tiên sau khi nhậm chức tháng 10/2024.

Trong cuộc hội đàm tại Jakarta tháng 1/2025 Thủ tướng Nhật Bản Ishiba Shigeru và Tổng thống Indonesia Prabowo Subianto chia sẻ quan điểm về điều cần thiết phải củng cố trật tự quốc tế tự do và rộng mở dựa trên luật lệ. Bên cạnh nhiều dự án hợp tác được công bố, điểm nhấn quan trọng trong chuyến thăm là thoả thuận về việc tăng cường hợp tác an ninh, quốc phòng giữa hai nước, theo đó hai bên nhất trí khôi phục các cuộc họp giữa Bộ trưởng Quốc phòng và Ngoại giao hai nước (2+2); nhất trí thiết lập các cuộc tham vấn quốc phòng cấp làm việc về an ninh hàng hải, bao gồm cả hợp tác kỹ thuật về trang bị quốc phòng; Nhật Bản cung cấp cho Indonesia tàu tuần tra cao tốc thông qua Hỗ trợ An ninh Chính thức.

Thủ tướng Nhật Bản Ishiba Shigeru (trái) và Tổng thống Indonesia Prabowo Subianto sau cuộc gặp tại dinh tổng thống ở Bogor, Tây Java (Indonesia) ngày 11.1. Ảnh: AFP

Trước đó, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Gen Nakatani đã có chuyến thăm Jakarta vào đầu tháng 1, trao đổi với người đồng cấp Indonesia về việc tăng cường hợp tác an ninh quốc phòng giữa hai nước. Sau những thoả thuận ở cấp cao nhất, các công việc liên quan đang được tích cực triển khai.

Theo Đại sứ Indonesia tại Tokyo – ông Heri Akhmadi, các cuộc đàm phán giữa Tokyo và Jakarta về tiềm năng phát triển và sản xuất chung các khinh hạm tiên tiến cho Hải quân Indonesia vẫn đang được tiến hành ở cấp cao nhất, khi hai nước tìm cách tăng cường hợp tác công nghiệp quốc phòng. Chủ đề này nằm trong chương trình nghị sự khi Tham mưu trưởng Yoshihide Yoshida – người đứng đầu Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản (JSDF) – tới thăm Indonesia vào cuối tháng 4/2025.

Đại sứ Heri Akhmadi cho biết những nỗ lực mua sắm và sản xuất chung một biến thể của tàu khu trục lớp Mogami của Nhật Bản – loại tàu mà Tokyo cũng hy vọng sẽ xuất khẩu sang Australia – vẫn là ưu tiên hàng đầu trong chính quyền của Tổng thống Indonesia Prabowo Subianto. Ông Prabowo Subianto, người dự kiến sẽ thăm Nhật Bản vào cuối năm nay, lần đầu tiên bày tỏ sự quan tâm đến việc hợp tác với Nhật Bản về việc đóng tàu chiến khi ông đến nước này với tư cách là Bộ trưởng Quốc phòng hồi năm 2021 để ký một Biên bản ghi nhớ về hợp tác chuyển giao công nghệ và thiết bị quốc phòng.

Dự án đề xuất của Tokyo, được cho là có giá trị 300 tỷ Yên, sẽ bao gồm việc đóng 4 khinh hạm tại Nhật Bản, và một số lượng tương đương sẽ được đóng tại Indonesia bởi Công ty PT PAL Indonesia để đáp ứng các yêu cầu của hải quân. Tuy nhiên, các cuộc đàm phán đã bị đình trệ do đại dịch COVID-19 và những hạn chế về tài chính liên quan đến dự án đầy tham vọng của Indonesia về việc di dời thủ đô.

Trong khi Tokyo được cho là đã đề nghị cho vay, vấn đề tài trợ vẫn chưa được giải quyết vì quy định của Indonesia yêu cầu Chính phủ phải cung cấp trước 10 – 20% số tiền. Tuy nhiên, Đại sứ Akhmadi chỉ ra động lực ngày càng tăng trong các cuộc đàm phán về dự án đóng tàu khu trục nói trên dưới thời Tổng thống Prabowo, đặc biệt là khi Nhật Bản nới lỏng các biện pháp kiểm soát xuất khẩu quốc phòng nghiêm ngặt trong những năm gần đây.

Đại sứ Akhmadi cho biết một khía cạnh quan trọng khác của các cuộc đàm phán xoay quanh việc chuyển giao công nghệ quốc phòng. Jakarta không chỉ quan tâm đến việc cùng phát triển và sản xuất các tàu, mà còn muốn tiếp cận các công nghệ Nhật Bản được sử dụng trong một số hệ thống trên các tàu lớp Mogami, vốn là một trong những hệ thống tiên tiến nhất của JSDF. Ông Akhmadi nói thêm: “Do mối quan hệ ngày càng chặt chẽ với Nhật Bản, chúng tôi (Indonesia) cũng muốn hợp tác chặt chẽ hơn về các hệ thống như vậy thông qua chuyển giao công nghệ”. Lấy một ví dụ về sự hợp tác như vậy, ông Akhmadi đã trích dẫn thỏa thuận của Ấn Độ với Tokyo vào năm 2024 để cùng phát triển một hệ thống radar cho tàu chiến của Hải quân Ấn Độ. Hệ thống radar tiên tiến này đang được lắp đặt trên một số khinh hạm lớp Mogami.

Theo giới chuyên gia quân sự, hợp tác này sẽ hỗ trợ nỗ lực của Nhật Bản nhằm phát triển ngành công nghiệp quốc phòng trong nước thông qua xuất khẩu toàn cầu. Đồng thời, nó cũng sẽ phù hợp với các chính sách và mục tiêu dài hạn của Indonesia là xây dựng ngành quốc phòng của riêng mình, khi Jakarta tìm cách giảm sự phụ thuộc vào thiết bị quân sự do nước ngoài sản xuất. Tuy nhiên, quyết định của Indonesia cũng sẽ phụ thuộc vào khả năng tương tác và các yếu tố về lực lượng lao động, đặc biệt là khi nước này đã đặt hàng một số tài sản hải quân khác từ các đối tác châu Âu.

Trên thực tế, mối quan hệ an ninh ngày càng phát triển giữa hai nước đã vượt xa phạm vi hợp tác tiềm năng về việc sản xuất chung các khinh hạm. Giới quan sát nhận định rằng việc Thủ tướng Nhật Bản Shigeru Ishiba lựa chọn Malaysia và Indonesia để thực hiện chuyến thăm nước ngoài đầu tiên trên cương vị Thủ tướng và tiếp đó là chuyến thăm tới Việt Nam, Philippines hồi đầu tháng 5/2025 thể hiện rõ sự coi trọng khu vực Đông Nam Á trong chính sách của Thủ tướng Ishiba. Trong khi các quốc gia này từ lâu theo đuổi chính sách đối ngoại dựa trên nguyên tắc không liên kết, các chuyến thăm của Thủ tướng Ishiba báo hiệu cam kết liên tục của Tokyo đối với khu vực có tầm quan trọng chiến lược khi Nhật Bản tìm cách phòng ngừa nguy cơ biến động kinh tế toàn cầu ngày càng gia tăng và tạo ra môi trường an ninh thuận lợi hơn.

Mặc dù Indonesia không phải là một trong những quốc gia có yêu sách trong các tranh chấp lâu dài ở Biển Đông, nhưng nước này đã có những vụ va chạm với các tàu Trung Quốc ở vùng biển giàu tài nguyên xung quanh quần đảo Natuna. Tokyo đã giúp Jakarta cải thiện năng lực tuần tra hàng hải thông qua huấn luyện chung và cung cấp tàu, bao gồm 2 tàu tuần tra cao tốc mới sẽ được chuyển giao cho Hải quân Indonesia theo chương trình Hỗ trợ an ninh nước ngoài (OSA) mới của Nhật Bản.

Hai nước cũng đã tăng cường các cuộc tập trận quân sự chung, với việc Đại sứ Akhmadi lưu ý rằng cuộc tập trận đa quốc gia “Siêu lá chắn Garuda” (Super Garuda Shield) năm nay sẽ chứng kiến Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản (JSDF) có sự đóng góp lớn nhất từ trước đến nay, với hơn 250 quân nhân và một tàu chiến. Tokyo và Jakarta cũng đã nhất trí tổ chức vòng đàm phán “2+2” lần thứ 3 giữa Bộ trưởng Ngoại giao và Quốc phòng vào cuối năm nay. Cùng với đó, tăng cường hợp tác kinh tế với Đông Nam Á vẫn là một trong những ưu tiên hàng đầu của Nhật Bản trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gia tăng với Trung Quốc. Tháng 1/2025, ông Ishiba đã nhấn mạnh vai trò trung tâm của Indonesia trong nỗ lực này.

Đại sứ Akhmadi nhấn mạnh: “An ninh năng lượng và kinh tế đóng vai trò ngày càng quan trọng trong quan hệ hai nước”. Jakarta đã đồng ý tiếp tục cung cấp khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) cho Nhật Bản trong khi Tokyo sẽ tiếp tục hỗ trợ phát triển dự án khí đốt Abadi của Indonesia, dự kiến sẽ bắt đầu sản xuất vào khoảng năm 2029 hoặc 2030 với sự hỗ trợ của Inpex, công ty thăm dò dầu khí lớn nhất Nhật Bản. Jakarta và Tokyo cũng đang trong giai đoạn đàm phán cuối cùng về một thỏa thuận khoáng sản quan trọng, dự kiến sẽ bao gồm việc thăm dò, phát triển, sản xuất, tinh chế và chế biến tại Indonesia các khoáng sản thiết yếu như niken, nhằm mục đích thúc đẩy sản xuất pin và đa dạng hóa chuỗi cung ứng.

Trao đổi với tờ “Japan Times”, Đại sứ Akhmadi cho biết: “Với việc Trung Quốc kiểm soát phần lớn hoạt động chế biến lithium trên toàn thế giới, chúng tôi (Indonesia) muốn thấy nhiều khoản đầu tư hơn từ Nhật Bản vào việc sản xuất các khoáng sản quan trọng tại Indonesia”. Ông nói thêm rằng thỏa thuận này dự kiến sẽ được ký kết “trong tương lai gần” và sẽ toàn diện hơn thỏa thuận được ký kết giữa Nhật Bản và Canada vào năm 2023.

Theo Đại sứ Akhmadi, mối quan hệ ngày càng phát triển giữa Jakarta và Tokyo phản ánh chính sách không liên kết của nước này khi muốn mở rộng quan hệ đối tác và tránh đứng về bên nào trong cuộc cạnh tranh ngày càng leo thang giữa Trung Quốc và Mỹ. Ông lưu ý: “Indonesia đặc biệt muốn hợp tác chặt chẽ hơn với các cường quốc tầm trung như Nhật Bản và Ấn Độ vì hợp tác với các siêu cường có nghĩa là có thể có ít đòn bẩy hơn trong các cuộc đàm phán, nhưng với các cường quốc tầm trung thì sẽ có sự bình đẳng hơn và chúng ta có thể làm nhiều hơn nữa để duy trì sự ổn định trong khu vực và tăng cường sự thịnh vượng của mình”.

Giới phân tích cho rằng việc tăng cường hợp tác giữa Indonesia và Nhật Bản nói chung và việc mở rộng hợp tác an ninh quốc phòng giữa hai nước nói riêng không chỉ có lợi cho 2 nước mà còn có những tác động tích cực tới vấn đề an ninh khu vực, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh địa chiến lược giữa các siêu cường ở Biển Đông và khu vực ngày càng gay gắt, thể hiện trên một số điểm sau:

Thứ nhất, Indonesia và Nhật Bản là những nước tầm trung có vai trò quan trọng đối với Biển Đông và an ninh khu vực. Cả hai nước này đều có môi quan hệ hợp tác chặt chẽ với các nước ven Biển Đông như Việt Nam, Philippines, Malaysia. Việc tăng cường hợp tác giữa Indonesia và Nhật Bản nhất là trong lĩnh vực an ninh hàng hải, công nghệ quốc phòng tạo yếu tố quan trọng để đối trọng với một Trung Quốc ngày càng hung hăng ở Biển Đông.

Giới phân tích nhận định Nhật Bản đang ngày càng mở rộng quan hệ an ninh trong khu vực (bao gồm Biển Đông), với sự khuyến khích từ đồng minh lâu năm là Mỹ. Tokyo chính là “cánh tay nối dài” của Washington ở Biển Đông khi Nhật Bản tăng cường hợp tác an ninh hàng hải và quốc phòng với Indonesia hay các nước ven Biển Đông khác. Thủ tướng Nhật Bản Ishiba nhấn mạnh rằng: “Nhật Bản và Mỹ hợp tác vì hòa bình và ổn định của khu vực này sẽ đóng góp đáng kể vào hòa bình và ổn định của khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và toàn thế giới”.

Thứ hai, mặc dù không liên quan trực tiếp tới các tranh chấp Biển Đông, song Indonesia đã nhiều lần phải đối đầu với hoạt động hung hăng của các tàu Trung Quốc tại vùng đặc quyền kinh tế xung quanh quần đảo Natuna. Trong khi đó, Nhật Bản thường xuyên lên án mạnh mẽ các hành vi cưỡng ép, bắt nạt láng giềng của Trung Quốc ở Biển Đông, đồng thời luôn ý thức rằng an ninh ở Biển Đông gắn liền với an ninh của Nhật Bản ở Biển Hoa Đông, hỗ trợ các nước ven Biển Đông trong cuộc đối đầu với Trung Quốc chính là để ngăn chặn các hành động hung hăng của Trung Quốc ở Biển Hoa Đông. Tháng 12/2024, Ngoại trưởng Nhật Bản Takeshi Iwaya đã bày tỏ “quan ngại nghiêm trọng” với người đồng cấp Trung Quốc về các hoạt động quân sự gia tăng của Bắc Kinh, đồng thời nhấn mạnh mối lo ngại về “tình hình tại Biển Hoa Đông, bao gồm cả khu vực xung quanh quần đảo Senkaku,” chuỗi đảo không có người ở do Nhật Bản kiểm soát nhưng bị Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền. Giới chuyên gia đều nhận định động thái tăng cường hợp tác quốc phòng giữa Jakarta và Tokyo cũng là nhằm chống lại sự bành trướng của Bắc Kinh.

Thứ ba, cả Indonesia và Nhật Bản đều đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật trong các hoạt động trên biển. Jakarta đã nhiều lần lên tiếng công khai phản đối yêu sách “đường chín đoạn” của Bắc Kinh ở Biển Đông, kể cả gửi công hàm lên Liên hợp quốc. Năm 2021, Tokyo cũng đã gửi công hàm lên Liên hợp quốc bác bỏ các yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông; ủng hộ phán quyết năm 2016 của Toà Trọng tài vụ kiện Biển Đông, kêu gọi các bên tuân thủ và thực thi phán quyết. Việc mở rộng hợp tác an ninh, quốc phòng giữa Indonesia và Nhật Bản có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo vệ trật tự dựa trên luật lệ ở Biển Đông. Indonesia là nước có vai trò quan trọng trong ASEAN, Nhật Bản là đối tác chiến lược toàn diện của ASEAN và có quan hệ chặt chẽ với tất cả các nước thành viên ASEAN. Việc tăng cường hợp tác giữa Jakarta và Tokyo sẽ tác động tích cực đối với việc củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong ASEAN trên vấn đề Biển Đông và các vấn đề an ninh khu vực, đồng thời góp phần thúc đẩy tiến trình ngoại giao, pháp lý ở Biển Đông mà các nước ASEAN đã nhất trí.

]]>
Indonesia cần tỉnh táo tránh rơi vào bẫy “đường đứt đoạn” của TQ Ở BĐ https://biendong.net/2025/07/07/indonesia-can-tinh-tao-tranh-roi-vao-bay-duong-dut-doan-cua-tq-o-bd/ Mon, 07 Jul 2025 05:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=155049 Nhân dịp 9 năm Toà Trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII của UNCLOS 1982 về Biển Đông đã ra phán quyết bác bỏ các yêu sách về cái gọi là “quyền lịch sử” và “đường đứt đoạn” của Trung Quốc ở Biển Đông, chúng ta cùng đi phân tích những “lỗ hổng” trong chính sách Biển Đông của chính quyền Tổng thống Indonesia Prabowo Subianto có thể khiến nước này đứng trước nguy cơ “mắc bẫy” Trung Quốc về “đường đứt đoạn”.

Được coi là nước không liên quan trực tiếp tới tranh chấp Biển Đông, song Indonesia luôn thể hiện tinh thần thượng tôn pháp luật trên vấn đề Biển Đông, dưới thời của người tiền nhiệm – cựu Tổng thống Joko Widodo liên tục phản đối yêu sách “đường đứt đoạn” của Bắc Kinh, kể cả việc gửi công hàm lên Liên hợp quốc. Khi còn đương nhiệm, ông Joko Widodo còn đích thân ra quần đảo Natuna để cổ vũ các lực lượng Indonesia đối phó với sự xâm nhập của Bắc Kinh vào vùng đặc quyền kinh tế của nước này xung quanh quần đảo Natuna.

Tuy nhiên, trong chưa đầy một năm qua kể từ khi nhậm chức Tổng thống, ông Prabowo Subianto đã có nhiều biểu hiện “nhượng bộ” Trung Quốc ở Biển Đông để đổi lấy sự tăng cường hợp tác kinh tế với Bắc Kinh. Điều này khiến Indonesia đứng trước nguy cơ hy sinh quyền lợi hợp pháp của mình và gây khó khăn cho các nước ven Biển Đông khác trong đấu tranh chống lại sự bành trướng của Bắc Kinh.

Trong Tuyên bố chung được đưa ra sau chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Indonesia Prabowo Subianto vào tháng 11/2024, lần đầu tiên, Indonesia đã công nhận yêu sách hàng hải chồng lấn với Trung Quốc và đề xuất một thỏa thuận khai thác chung. Điều này đã gây ra sự phản đối từ công chúng và các nghị sỹ quốc hội Indonesia do lo ngại rằng việc này sẽ hợp pháp hóa yêu sách “đường đứt đoạn” bất hợp pháp của Trung Quốc. Bộ Ngoại giao Indonesia ngay sau đó tuyên bố rằng hợp tác giữa Indonesia và Trung Quốc không đồng nghĩa với việc công nhận yêu sách đường chin đoạn, tái khẳng định lập trường lâu nay của nước này là yêu sách đường chin đoạn không phù hợp luật pháp quốc tế và Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982); hợp tác không ảnh hưởng đến chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Indonesia ở Biển Đông. Chính phủ Trung Quốc đã nhanh chóng bày tỏ sự sẵn sàng đàm phán thêm về vấn đề này với Indonesia.

Tại Diễn đàn Ngoại giao Antalya vào tháng 4/2024, Tổng thống Indonesia Prabowo đã công bố tầm nhìn của mình về tăng cường an ninh và thịnh vượng toàn cầu. Ông Prabowo đã đưa ra đề xuất gây tranh cãi về phát triển chung giữa Indonesia và Trung Quốc tại các khu vực hàng hải chồng lấn với hy vọng các khoản đầu tư của Bắc Kinh vào nước này có thể hỗ trợ việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Indonesia. Phát biểu tại diễn đàn, Tổng thống Prabowo xác nhận rằng đề xuất phát triển quần đảo Natuna với Trung Quốc là ý tưởng của riêng ông. Tổng thống Prabowo tuyên bố: “Tôi cũng đã đưa ra đề xuất khai thác chung với Trung Quốc, Chủ tịch Tập Cận Bình. Chúng tôi tôn trọng lập trường pháp lý của nhau, nhưng trong thời gian này, tại sao chúng ta không hợp tác? Chúng ta có một vùng biển chồng lấn”. Giới phân tích nhận định cách tiếp cận của Tổng thống Prabowo đặt ra các vấn đề pháp lý và an ninh cho Indonesia.

Tổng thống Prabowo tuyên bố: “Trung Quốc tuyên bố trong lịch sử hàng nghìn năm, ngư dân Trung Quốc đã đánh bắt cá ở vùng biển đó, và chúng tôi tuyên bố trong hàng nghìn năm, ngư dân Indonesia đánh bắt ở vùng biển đó. Vì vậy, tôi đã nói với Chủ tịch Tập, tại sao chúng ta không cùng khai thác?” Các chuyên gia pháp lý cho rằng nội dung phát biểu này của ông Prabowo dựa trên các yêu sách lịch sử hơn là luật pháp quốc tế. Điều này vô hình chung thừa nhận cái gọi là “quyền lịch sử” của Trung Quốc đã bị Phán quyết năm 2016 của Toà Trọng tài Biển Đông bác bỏ.

Các chuyên gia luật pháp nhận xét phát biểu trên của ông Prabowo bỏ qua thực tế rằng, do Indonesia là một bên tham gia UNCLOS 1982, nên nước này không cần phải tuân theo cách tiếp cận yêu sách lịch sử của Trung Quốc. Thay vào đó, Indonesia nên nhấn mạnh rằng việc hợp tác với Trung Quốc chỉ dựa trên các nguyên tắc của UNCLOS 1982. Các quyền của Indonesia dựa trên các điều khoản của UNCLOS 1982 đối với vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của nước này. Trong khi đó, yêu sách của Trung Quốc dựa trên các giả định lịch sử mơ hồ theo “đường đứt đoạn”. Một thỏa thuận khai thác chung không dựa trên các nguyên tắc của luật pháp quốc tế và UNCLOS 1982 sẽ không chặt chẽ về mặt pháp lý cũng như không bảo vệ được các quyền và lợi ích hợp pháp của Indonesia.

Phạm vi của đề xuất khai thác chung cũng vẫn chưa rõ ràng. Trong tuyên bố, ông Prabowo cho biết đề xuất này sẽ tập trung chủ yếu vào nghề cá, với việc cả hai nước đều cấp giấy phép cho ngư dân của mình ở các khu vực hàng hải được cho là chồng lấn. Tuy nhiên, theo luật pháp quốc tế, Indonesia và Trung Quốc không có bất kỳ khu vực hàng hải chồng lấn nào như lập trường nước này vẫn công bố từ trước đến nay.

Theo Điều 56 của UNCLOS 1982, Indonesia không có lý do gì để cấp nhượng bộ đánh bắt cá cho tàu nước ngoài dựa trên các yêu sách không được luật pháp quốc tế cho phép. Indonesia không thể tuyên bố tuân thủ luật pháp quốc tế trong khi dựa trên các nguyên tắc khai thác chung không phù hợp UNCLOS 1982. Tổng thống Prabowo đã tỏ ra ngạc nhiên khi Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nhanh chóng chấp nhận đề xuất của ông, như thể không biết rằng Jakarta đã từng từ chối đề xuất trước đây của Bắc Kinh về khai thác chung với Indonesia.

Rõ ràng là nếu Indonesia nhất trí khai thác chung với Trung Quốc trong khu vực “đường đứt đoạn” đồng nghĩa với việc nước này sẽ ngầm thừa nhận yêu sách của Trung Quốc. Vì lý do này, Indonesia trong 10 năm dưới thời chính quyền tiền nhiệm của Tổng thống Joko Widodo liên tục tuyên bố rằng nước này không có yêu sách chồng lấn với Trung Quốc và sẽ không đồng ý với bất kỳ đề xuất khai thác chung nào.

Một điều cần khẳng định rằng, vùng biển phía Bắc quần đảo Natuna của Indonesia có sự chồng lấn với vùng biển phía Nam Việt Nam theo quy định của UNCLOS 1982. Trên cơ sở luật pháp quốc tế, năm 2003 Jakarta và Hà Nội đã ký Hiệp định phân định ranh giới thềm lục địa; sau khi được 2 nước phê chuẩn, Hiệp định đã có hiệu lực từ tháng 5/2007. Tiếp đó, sau 12 năm đàm phán, tháng 12/2022 Indonesia và Việt Nam đã ký kết Hiệp định đàm phán về việc phân định vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) chồng lấn giữa hai nước ở Biển Đông; hai bên khẳng định sẽ sớm phê chuẩn Hiệp định này.

Các nhà phân tích cho rằng các hiệp định phân định biển giữa Indonesia với Việt Nam, gián tiếp bác bỏ yêu sách “đường đứt đoạn” của Trung Quốc ở Biển Đông, đồng thời mở đường cho các nước láng giềng của Trung Quốc giải quyết các yêu sách biển chồng lấn ở Biển Đông. Giáo sư Jill Goldenziel, Đại học Quốc phòng Mỹ, lưu ý rằng Việt Nam và Indonesia đã quyết định giải quyết tranh chấp ranh giới của hai nước dựa trên UNCLOS 1982, qua đó bác bỏ yêu sách của Trung Quốc về “quyền lịch sử” đối với Biển Đông. Do đó, các hiệp định này là một bước quan trọng hướng tới một mặt trận thống nhất giữa các nước láng giềng của Trung Quốc trong việc giải quyết hòa bình các tranh chấp chủ quyền và biển ở Biển Đông. 

Trung Quốc không hài lòng với hiệp định giữa Indonesia – Việt Nam và sẽ tìm cách phá hoại. Trên thực tế, Trung Quốc đã nhiều lần triển khai lực lượng hải cảnh và dân quân biển có vũ trang, đội lốt tàu cá xâm nhập vào vùng biển phía Bắc quần đảo Natuna để quấy nhiễu hoạt động dầu khí của Indonesia. Câu hỏi đặt ra là việc ông Prabowo đưa ra đề xuất khai thác chung với Trung Quốc là ở khu vực nào. Nếu đó là vùng biển phía Bắc quần đảo Natuna thì vô hình chung, ông Prabowo đã mâu thuẫn với chính mình và đi ngược lại những thoả thuận với Việt Nam.

Giới chuyên gia cảnh báo có vẻ như chính quyền của ông Prabowo đã thay đổi hướng và có nguy cơ rơi vào bẫy “đường đứt đoạn” của Trung Quốc. Hiện vẫn còn nhiều câu hỏi về lý do tại sao Prabowo đưa ra những nhận xét này tại Diễn đàn Ngoại giao Antalya và động lực nào thúc đẩy ông đưa ra đề xuất khai thác chung với Trung Quốc. Một trong nguyên nhân có thể là tầm quan trọng về mặt kinh tế của Trung Quốc đối với Indonesia. Tổng thống Prabowo đã cam kết kinh tế Indonesia sẽ đạt tăng trưởng 8%/năm.  Để đạt được mục tiêu này, Indonesia cần tới khoản đầu tư nước ngoài đáng kể. Trong khi đó, Trung Quốc là nước cung cấp vốn phát triển kinh tế tiềm năng lớn nhất của Indonesia, nên đề xuất khai thác chung trở thành một công cụ tiềm năng để Indonesia đảm bảo nhận được nguồn đầu tư từ Trung Quốc. Mặc dù vậy, Indonesia không nên hy sinh các quyền chủ quyền và quyền tài phán được quốc tế công nhận đối với vùng đặc quyền kinh tế của mình.

Giới chuyên gia nhận định nếu đề xuất về một thỏa thuận phát triển chung giữa Indonesia và Trung Quốc được Tổng thống Prabowo đề cập tại Diễn đàn Ngoại giao Antalya được triển khai sẽ đưa đến những hệ quả xấu không chỉ cho Indonesia và cho cả khu vực:

Thứ nhất, điều này đi ngược lại lập trường và quan điểm lâu nay của Indonesia là “không có vùng biển nào chồng lấn với Trung Quốc”, bác bỏ yêu sách “đường đứt đoạn” của Bắc Kinh. Nếu ông Prabowo làm điều này là đi ngược lại Phán quyết năm 2016 của Toà Trọng tài Biển Đông và trái với các quy định của UNCLOS 1982. Điều này cũng sẽ khiến Indonesia mất uy tín và vai trò trong ASEAN và trong con mắt của cộng đồng quốc tế. Không những thế, điều này còn gây chia rẽ ngay trong nội bộ của Indonesia bởi ngay từ tháng 11/2024, nhiều nghị sĩ và công chúng của Indonesia đã phản đối cách tiếp cận này.

Các chuyên gia cho rằng điều cần làm của ông Prabowo hiện nay là thúc đẩy nhanh chóng phê chuẩn Hiệp định phân định vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) chồng lấn giữa Indonesia – Việt Nam để vô hiệu hoá yêu sách “đường đứt đoạn” của Trung Quốc.

Thứ hai, điều này không chỉ tổn hại tới chủ quyền và các lợi ích trên biển của Indonesia mà còn ảnh hưởng tiêu cực tới các nước ven Biển Đông khác, phá vỡ thế trận pháp lý mà các nước đã tạo ra được để đối phó với Trung Quốc trên Biển Đông. Lâu nay, Trung Quốc luôn tìm cách thúc ép các nước ven Biển Đông thực hiện “cùng khai thác”, nhưng chưa được bất cứ nước nào thực hiện. Nếu Jakarta triển khai một dự án phát triển chung như ông Prabowo đề cập, Bắc Kinh sẽ được đà lấn tới để ép các nước ven Biển Đông như Việt Nam, Philippines, Malaysia “cùng khai thác” ở Biển Đông. Chúng ta còn nhớ, dưới thời của cựu Tổng thống Duterte, năm 2018 Manila và Bắc Kinh đã ký Bản ghi nhớ về khai thác chung dầu khí ở Biển Đông nhưng cuối cùng đã phải tuyên bố huỷ bỏ thoả thuận này vào tháng 6/2022, trước khi ông Duterte kết thúc nhiệm kỳ. Chúng ta tin tưởng rằng với sự sáng suốt và tấm nhìn chiến lược của mình ông Prabowo sẽ không triển khai dự án khai thác chung trên biển với Trung Quốc, tránh rơi vào cái bẫy “đường đứt đoạn” của Bắc Kinh. Vai trò của các quan chức cấp cao và cố vấn pháp lý trong chính phủ Indonesia phải là đảm bảo rằng Prabowo không triển khai được đề xuất này. Họ phải thuyết phục Prabowo rằng hệ quả nghiêm trọng của dự án khai thác chung với Trung Quốc sẽ cản trở lợi ích lâu dài của Indonesia. Tuy nhiên, đây không phải là một nhiệm vụ dễ dàng, vì nó đòi hỏi họ phải có lòng dũng cảm để nói lên sự thật.

]]>
Ảnh hưởng từ chuyến thăm TQ của tân Tổng thống Indonesia đến Biển Đông https://biendong.net/2024/12/05/anh-huong-tu-chuyen-tham-tq-cua-tan-tong-thong-indonesia-den-bien-dong/ Thu, 05 Dec 2024 01:17:00 +0000 https://biendong.net/?p=141850 Từ ngày 8 – 10/11/2024, Tổng thống Indonesia Prabowo Subianto đã chọn Bắc Kinh nơi đầu tiên đến thăm trên cương vị Tổng thống nhằm thể hiện sự coi trọng cao nhất quan hệ với quốc gia này. Ngày 9/11, Trung Quốc và Indonesia đã đưa ra tuyên bố chung, đề cập rằng hai nước đã “đạt được sự hiểu biết chung quan trọng về khai thác chung ở những khu vực có các yêu sách chồng lấn”.

Tuyên bố còn cho biết hai bên đã nhất trí thành lập một Ủy ban chỉ đạo chung liên chính phủ để quản lý hoạt động khai thác, “chiểu theo các luật pháp và quy định hiện hành của mỗi bên”.

Từ lâu nay, các bên có yêu sách đối địch với Trung Quốc ở Biển Đông nhìn chung đã tránh bất kỳ thỏa thuận khai thác chung nào với Bắc Kinh. Nỗi lo sợ ở đây chính là điều này có thể được hiểu là sự công nhận chính thức các yêu sách mở rộng của Trung Quốc đối với tuyến đường thủy quan trọng này.

Trong khi Trung Quốc khẳng định rằng vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa xung quanh quần đảo Natuna của Indonesia chồng lấn với “Đường 9 đoạn”, thì Bộ Ngoại giao Indonesia lâu nay đã bác bỏ yêu sách của Trung Quốc và không thừa nhận rằng họ có bất kỳ quyền tài phán chồng lấn nào với Trung Quốc. Vì lý do này, Indonesia chính thức coi mình là một quốc gia không có yêu sách ở Biển Đông và theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS), họ có quyền chủ quyền đối với EEZ của mình xung quanh quần đảo Natuna và quyền chủ quyền đối với các nguồn tài nguyên nằm trong đó. Việc ngầm thừa nhận “các yêu sách chồng lấn” dường như đang hủy hoại lập trường này.

Collin Koh thuộc Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam đã viết trên X ngày 11/11 rằng thỏa thuận này dường như đánh dấu việc Indonesia rút lại lập trường rằng họ không phải là bên có yêu sách ở Biển Đông. Ông cho rằng điều này “chẳng khác gì một chiến thắng lịch sử dành cho Bắc Kinh”. Ông Aristyo Rizka Darmawan thuộc Đại học Indonesia cho rằng bằng cách đồng ý với tuyên bố chung với Trung Quốc, chính quyền mới của Indonesia đã trở thành “quốc gia thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đầu tiên ngầm công nhận ‘Đường 9 đoạn’ của Bắc Kinh”. Khi làm như vậy, Indonesia dường như đã “phản bội lợi ích quốc gia của nước này” và trao cho Bắc Kinh một “thắng lợi lớn”.

Trong một tuyên bố ngày 11/11/2024, Bộ Ngoại giao Indonesia đã nhanh chóng làm rõ rằng lập trường của họ không thay đổi và tuyên bố chung giữa Trung Quốc và Indonesia hôm 9/11 sẽ không ảnh hưởng đến chủ quyền của họ đối với khu vực mà họ gọi là Biển Bắc Natuna. Tuyên bố nêu rõ: “Indonesia nhắc lại lập trường của mình rằng yêu sách của [Trung Quốc] không có cơ sở trong luật pháp quốc tế và không phù hợp với UNCLOS 1982. Sự hợp tác này không ảnh hưởng đến chủ quyền, quyền chủ quyền hoặc quyền tài phán của Indonesia tại Biển Bắc Natuna”. Bộ Ngoại giao Indonesia tuyên bố rằng thỏa thuận hợp tác được đề xuất với Trung Quốc sẽ bao gồm “nhiều khía cạnh khác nhau của hợp tác kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực ngư nghiệp và bảo tồn nghề cá trong khu vực”. Sự tin tưởng được tạo ra từ đó sẽ giúp thúc đẩy các cuộc đàm phán về Bộ quy tắc ứng xử (COC) ở Biển Đông giữa ASEAN-Trung Quốc bị trì hoãn lâu nay.

Tuy nhiên, ông Aristyo Rizka Darmawan lại không đồng ý với tuyên bố nêu trên của Bộ Ngoại giao Indonesia. Ông Aristyo lập luận rằng thay vì giúp ASEAN đàm phán COC với Trung Quốc, thỏa thuận này có thể làm phức tạp tiến trình đó vì rõ ràng đã phá vỡ chính sách lâu đời của Jakarta rằng mọi yêu sách trong COC phải dựa trên yêu sách hợp pháp chiểu theo UNCLOS.

Một số nhà quan sát còn cho rằng với nội dung về Biển Đông trong Tuyên bố chung Trung Quốc – Indonesia ngày 9/11/2024 nhân chuyến thăm Bắc Kinh của tân Tổng thống Prabowo Subianto, Jakarta đã rơi vào cái “bẫy Đường 9 đoạn” của Trung Quốc. Đây là một tuyên bố quan trọng, “phản bội” chính sách Biển Đông của Indonesia trong nhiều thập kỷ qua. Bằng tuyên bố này, Indonesia dường như là quốc gia thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đầu tiên ngầm công nhận cái gọi là “Đường 9 đoạn” của Bắc Kinh – một tập hợp các đường hết sức mơ hồ trên bản đồ của Trung Quốc phản ánh yêu sách của Bắc Kinh đối với các khu vực trên Biển Đông.

Các chuyên gia nhận định Tuyên bố chung Trung Quốc – Indonesia hôm 9/11 có thể gây nguy hiểm cho Indonesia và tạo hệ luỵ xấu cho các nước ven Biển Đông khác, thể hiện trên một số điểm sau:

Thứ nhất, mặc dù Bộ Ngoại giao Indonesia hiện đã đưa ra một tuyên bố mơ hồ để giải thích rằng Indonesia vẫn không công nhận “Đường 9 đoạn” của Trung Quốc, tuy nhiên, điều này mâu thuẫn với tuyên bố chung và được đơn phương đưa ra, trong khi tuyên bố chung được Indonesia và Trung Quốc cùng đưa ra nên có khả năng Trung Quốc sẽ tiếp tục giữ nguyên cách giải thích được trình bày trong tuyên bố trước đó. Như vậy, Tuyên bố chung Indonesia – Trung Quốc ngày 9/11 có thể đem lại những hệ luỵ xấu cho lợi ích quốc gia của Indonesia, bao gồm quyền chủ quyền, quyền tài phán của Indonesia ở vùng biển xung quanh quần đảo Natuna, nơi lâu nay có sự tròng lấn với yêu sách “Đường 9 đoạn” của Trung Quốc.

Kể từ khi Trung Quốc đưa ra “Đường 9 đoạn”, Indonesia đã kiên quyết bác bỏ vì nó chồng lấn với vùng đặc quyền kinh tế của Indonesia, một yêu sách chính đáng theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS). Phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực về Biển Đông năm 2016 đã nêu rõ rằng yêu sách “Đường 9 đoạn” của Trung Quốc không có cơ sở theo luật pháp quốc tế. Việc công nhận yêu sách này có nghĩa Indonesia đã đồng ý với một điều gì đó trái pháp luật quốc tế. Tệ hơn nữa, Indonesia sẵn sàng chia sẻ quyền chủ quyền của mình trong việc thăm dò và khai thác thủy sản và dầu mỏ với quốc gia đưa ra yêu sách này.

Thứ hai, bằng cách thừa nhận yêu sách chồng lấn với Trung Quốc, Indonesia có nghĩa vụ đàm phán về ranh giới trên biển. Trước sự công nhận này, Indonesia có ranh giới trên biển với 10 quốc gia gồm Australia, Timor-Leste, Papua New Guinea (PNG), Palau, Philippines, Việt Nam, Thái Lan, Malaysia, Singapore và Ấn Độ. Về mặt địa lý, tất cả các quốc gia này đều là láng giềng của Indonesia, nghĩa là theo UNCLOS, Indonesia có quyền đàm phán về phân định ranh giới trên biển đối với vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa hoặc lãnh hải. Tuy nhiên, xét đến vị trí của Trung Quốc nằm ngoài vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa 350 hải lý, Indonesia không có cách nào đàm phán về phân định ranh giới biển với Trung Quốc. Đây là một mất mát lớn đối với khả năng quản lý tài nguyên thiên nhiên của Indonesia.

Việc Indonesia thừa nhận yêu sách chồng lấn của Trung Quốc mâu thuẫn với Hiệp định phân định thềm lục địa giữa Indonesia – Việt Nam được ký kết năm 2003, có hiệu lực tháng 7/2007 và Thỏa thuận về vùng đặc quyền kinh tế giữa Indonesia và Việt Nam đã được hai bên nhất trí tháng 12/2022. Indonesia vẫn chưa phê chuẩn thỏa thuận và tuyên bố gần đây thừa nhận yêu sách chồng lấn của Trung Quốc có thể tạo ra sự không chắc chắn về việc phê chuẩn. Hiệp định năm 2003 và Thỏa thuận 2022 được coi là có ý nghĩa quan trọng vì nó cho thấy các nước ASEAN có khả năng giải quyết các tranh chấp phân định ranh giới biển chồng lấn thông qua đàm phán hòa bình. Hơn nữa, điều này cho thấy rõ rằng cả Indonesia và Việt Nam đều không công nhận yêu sách “Đường 9 đoạn” của Trung Quốc, bất chấp sự phản đối của Bắc Kinh sau khi các văn kiện này được ký kết.

Thứ ba, việc thừa nhận yêu sách “Đường 9 đoạn” của Trung Quốc cũng có tác động đối với quá trình đàm phán đang diễn ra về Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) giữa ASEAN và Trung Quốc. Trong quá trình đàm phán COC, Indonesia đã nói rõ rằng mọi yêu sách trong COC phải dựa trên yêu sách chính đáng theo UNCLOS. Vì vậy, tuyên bố vừa qua dường như đã “phản bội” lập trường của chính Indonesia, từng được Bộ Ngoại giao nước này ủng hộ trong nhiều năm qua.

Vì vậy, Tuyên bố chung Indonesia – Trung Quốc ngày 9/11 có tác động không nhỏ đối với quá trình đàm phán về COC, đồng thời bộc lộ rằng các nước ASEAN không có lập trường thống nhất trong đàm phán với Bắc Kinh. Các quốc gia có yêu sách khác trong ASEAN có thể cảm thấy bị phản bội trước việc Indonesia công nhận yêu sách “Đường 9 đoạn”, điều mà họ đã kiên quyết và cùng nhau bác bỏ cho đến thời điểm này. Nói cách khác, Tuyên bố chung này có thể ảnh hưởng xấu tới tình đoàn kết của các quốc gia ASEAN có yêu sách ở Biển Đông.

Giới phân tích nhận định với những giải thích của Bộ Ngoại giao Indonesia trong tuyên bố hôm 11/11 có thể lý giải nội dung liên quan tới hợp tác trên biển trong Tuyên bố chung Indonesia – Trung Quốc có thể là một lỗi không cố ý của một chính quyền thiếu kinh nghiệm và chưa được kiểm chứng. Sau khi Tổng thống Indonesia Prabowo Subianto nhậm chức vào tháng 10, ông đã bổ nhiệm ông Sugiono, Phó Chủ tịch Đảng Gerindra của mình, làm Bộ trưởng Ngoại giao. Là một chính trị gia mới vào nghề và chỉ mới tham gia chính trường quốc gia vào năm 2019, người đàn ông 45 tuổi này đã đảm nhiệm vị trí này với rất ít kinh nghiệm thực tế về các vấn đề đối ngoại. Về mặt này, ông Sugiono khác biệt đáng kể so với người tiền nhiệm Retno Marsudi, người có thâm niên gần 2 thập kỷ trong đoàn ngoại giao trước khi được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Ngoại giao vào năm 2014. Ông Bill Hayton của Chatham House, Vương quốc Anh, tác giả của một cuốn sách năm 2014 về Biển Đông, đã nói trong một bài đăng trên X rằng tuyên bố chung này “bắt đầu giống như một sai lầm lớn của một bộ trưởng ngoại giao rất thiếu kinh nghiệm”.

          Dù nguyên nhân là gì đi chăng nữa, xem ra các nhân viên Bộ Ngoại giao Indenesia đang phải đối mặt với một mớ hỗn độn khủng khiếp từ Tuyên bố chung trong chuyên thăm Trung Quốc của tân Tổng thống Prabowo Subianto và đang phải dọn dẹp những hệ luỵ xấu có thể xảy ra vì Tuyên bố chung này. Tuyên bố chung gây hoang mang và sự bất bình từ giới chuyên gia, học giả của Indonesia, đồng thời gây sự ngỡ ngàng đối với giới chuyên gia quốc tế. Một số ý kiến cho rằng Tuyên bố chung chưa phải là “dấu chấm hết” đối với chính quyền Jakarta, vấn đề quan trọng nhất vẫn là lập trường chính thức của chính quyền mới ở Indonesia trên vấn đề Biển Đông ra sao thì cần tiếp tục theo dõi. Hôm 12/11/2024, một nhà quan sát đã lưu ý rằng hiện vẫn chưa rõ điều này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến lập trường của Indonesia xung quanh quần đảo Natuna vì “luật pháp và quy định hiện hành” có thể dẫn đến việc thỏa thuận bị chặn tại cơ quan lập pháp Indonesia, nhưng ít nhất thì nó đã tạo ra một loạt các rắc rối không mong muốn đối với Bộ Ngoại giao.

]]>
Những động thái hợp tác biển đáng chú ý giữa các nước nhỏ ven Biển Đông https://biendong.net/2024/03/19/nhung-dong-thai-hop-tac-bien-dang-chu-y-giua-cac-nuoc-nho-ven-bien-dong/ Tue, 19 Mar 2024 01:48:00 +0000 https://biendong.net/?p=125006 Trong nỗ lực tìm kiếm hòa bình trong khu vực, việc hiện thực hóa Bộ quy tắc ứng xử (COC) ở Biển Đông thể hiện khao khát chung về sự hòa hợp giữa Trung Quốc và các đối tác ASEAN. Việc điều chỉnh lại chiến lược đang diễn ra ở Biển Đông đánh dấu một bước ngoặt, trong đó xu hướng của Philippines hướng tới hợp tác với các thành viên ASEAN như Indonesia hay Việt Nam. Giới chuyên gia nhận định trong quan hệ giữa các nước ASEAN thì Trung Quốc luôn là một yếu tố quan trọng.

Trong bối cảnh cạnh tranh địa chiến lược Mỹ – Trung ngày càng gay gắt thì sự hợp tác giữa các nước thành viên ASEAN với nhau, trước mắt giữa các nước ven Biển Đông sẽ là những đóng góp quan trọng vào việc duy trì hòa bình ổn định khu vực và bảo vệ lợi ích hợp pháp riêng của mỗi nước. Nhấn mạnh tinh thần hợp tác này, trong chuyến thăm Philippines đầu tháng 1/2024, Ngoại trưởng Indonesia Retno Marsudi bày tỏ sự mong muốn của nước ông trong việc hợp tác hoàn tất COC ở Biển Đông một cách nhanh chóng. Những quan điểm được bày tỏ trong cuộc họp báo chung với Ngoại trưởng Philippines Enrique Manalo ở Manila cộng hưởng với cam kết về sức mạnh ngoại giao tổng hợp.

Với tư cách là nước đóng vai trò quan trọng nhất trong bối cảnh hiện nay của ASEAN, năm 2023 với tư cách Chủ tịch của ASEAN, Indonesia đã đi đầu trong việc hiện thực hóa COC, song chưa đạt được kết quả. Bước vào năm 2024, tuy đã kết thúc vai trò Chủ tịch ASEAN, nhưng Indonesia tiếp tục nỗ lực thúc đẩy đàm phán về COC. Phát biểu tại Manila sau cuộc hội đàm với người đồng cấp Philippines Enrique A. Manalo tại hôm 9/1, Ngoại trưởng Indonesia Retno Marsudi cho biết Jakarta sẵn sàng làm việc cùng các quốc gia Đông Nam Á khác để hoàn tất Bộ quy tắc về ứng xử ở Biển Đông (COC). Tuyên bố của Marsudi phản ánh mong muốn chung trong ASEAN về việc nhanh chóng thiết lập một Bộ quy tắc ứng xử, được tất cả các quốc gia trong khu vực chấp nhận thông qua các cuộc đàm phán ngoại giao.

Trong chuyến thăm chính thức Philippines của Tổng thống Indonesia Joko Widodo, ngày 10/1/2024, Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. đã tiến hành hội đàm với người đồng cấp Indonesia Joko Widodo thảo luận về một loạt vấn đề khu vực, bao gồm những diễn biến ở Biển Đông và sự hợp tác chặt chẽ hơn giữa các quốc gia thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á. Cuộc trao đổi đã diễn ra một cách thẳng thắn và có kết quả.

Chia sẻ trong cuộc họp báo chung sau cuộc gặp, Tổng thống Philippines Marcos cho biết: “Tổng thống Widodo và tôi đã có một cuộc thảo luận hiệu quả và trung thực về các sự kiện khu vực cùng có lợi, chẳng hạn như những diễn biến ở Biển Đông cũng như các sáng kiến và sự hợp tác của ASEAN”. Trong khi đó, Tổng thống Widodo cho hay hai nước đã nhất trí tăng cường hợp tác quốc phòng và đẩy nhanh việc sửa đổi các thỏa thuận hiện có về hợp tác biên giới. Ông Widodo nêu rõ: “Chúng tôi nhất trí… đẩy nhanh quá trình khôi phục hoạt động tuần tra chung và thỏa thuận đi lại qua biên giới, đồng thời tăng cường hợp tác quốc phòng, bao gồm cả trên phương diện khí tài quân sự”.

Ngoài ra, Philippines và Indonésia đã đạt được nhất trí về tăng cường hợp tác kinh tế, đầu tư song phương; ký thỏa thuận về thúc đẩy hợp tác nhằm khắc phục những khó khăn trong giai đoạn nguồn cung các loại nhiên liệu quan trọng như than đá và khí hóa lỏng tự nhiên có những căng thẳng nhất định. Kết quả chuyến thăm Manila của Tổng thống Widodo thể hiện rõ chính sách tăng cường quan hệ với các nước trong ASEAN của chính quyền Tổng thống Marcos Jr., đông thời cho thấy vai trò quan trọng của Indonesia trong các vấn đề an ninh khu vực, trong đó có Biển Đông.

Sau khi thăm Việt Nam, Tổng thống Indonesia Joko Widodo đã có chuyến thăm cấp nhà nước tới Hà Nội. Ngày 12/1/2024, Tổng thống Widodo đã có các cuộc làm việc với các nhà lãnh đạo Việt Nam, thảo luận về hợp tác kinh tế thương mại, hợp tác quốc phòng song phương và vấn đề an ninh ở Biển Đông cũng như cách thức để thúc đẩy tiến trình đàm phán về COC. Jakarta và Hà Nội vốn có quan hệ mật thiết lâu nay. Năm 2022, hai nước đồng ý công nhận ranh giới Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của nhau ở Biển Đông, một động thái được coi là đòn giáng mạnh vào Trung Quốc, quốc gia yêu sách tới 90% diện tích Biển Đông. Indonesia cũng đã có kế hoạch xuất khẩu khí đốt sang Việt Nam từ các mỏ khí đốt ở Biển Đông.

Tiếp đó, Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. đã có chuyến thăm chính thức Việt Nam trong 2 ngày 29-30/01/2024. Trong các cuộc trao đổi với lãnh đạo Việt Nam, một nội dung quan trọng được ông Marcos Jr. đề cập là vấn đề an ninh biển và hợp tác hàng hải song phương. Phát biểu trước khi lên đường sang Hà Nội, Tổng thống Philippines nhấn mạnh “tăng cường hợp tác hàng hải (với Việt Nam) để cổ vũ cho hòa bình và ổn định trong khu vực”. Trong thời gian chuyến thăm hai bên ký kết Bản ghi nhớ (MOU) về hợp tác giữa lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam và Tuần duyên Philippines. Chuẩn đô đốc Armando Balilo, Phát ngôn viên của Lực lượng Tuần duyên Philippines, cho biết: “Bản ghi nhớ nhằm mục đích tăng cường quan hệ đối tác và hợp tác chiến lược giữa Tuần duyên Philippines và Cảnh sát biển Việt Nam, thúc đẩy, duy trì và bảo vệ lợi ích chung ở khu vực Đông Nam Á”.

Đô đốc Chỉ huy Lực lượng Tuần duyên Philippines Ronnie Gil Gavan, người tháp tùng ông Marcos trong chuyến thăm Hà Nội, nhận xét rằng Bản ghi nhớ này sẽ tăng cường quan hệ đối tác và hợp tác chiến lược giữa cảnh sát biển hai nước nhằm tăng cường “sự hiểu biết, tin cậy và tin cậy lẫn nhau” giữa cảnh sát biển hai nước thông qua thảo luận về các vấn đề và lợi ích chung cũng như thiết lập đường dây nóng. Giới chuyên gia nhận định Thỏa thuận mới này giữa Manila và Hà Nội mang ý nghĩa quan trọng để giảm bớt các vụ va chạm giữa tầu đánh cá hai nước, cũng như giảm căng thẳng về tranh chấp chủ quyền tại các vùng biển chồng lấn. Năm 2021, Việt Nam đã ký kết Bản ghi nhớ hợp tác tuần duyên với Indonesia. Chắc chắn điều này sẽ khiến Bắc Kinh không hài lòng.  

Ngay sau chuyến thăm Hà Nội của Tổng thống Marcos, Lực lượng Tuần duyên Philippines đã mời Cảnh sát biển Việt Nam tham gia diễn tập về ô nhiễm môi trường biển ba bên (Marpolex) vào tháng 6/2024. Hôm 05/2/2023, Phó Đô đốc Armand Balilo, Người phát ngôn của Lực lượng Tuần duyên Philippines, nói rằng cuộc diễn tập Marpolex kéo dài 5 ngày sẽ được tổ chức tại thành phố Bacolod, tỉnh Negros Occidental, Philippines, trong tuần thứ ba của tháng 6/2024 với sự tham gia của với Lực lượng Bảo vệ bờ biển Indonesia và Nhật Bản. Ngoài ra, Lực lượng Tuần duyên Mỹ và Hàn Quốc cũng sẽ được mời tham gia hoặc quan sát.

Giới phân tích nhận định những hoạt động dồn dập giữa Philippines-Indonesia-Việt Nam trong những ngày đầu năm 2024 cho thấy dường như đang có sự tăng cường hợp tác và phối hợp với nhau trên các vấn đề ở Biển Đông giữa các nước ven Biển Đông trong bối cảng Trung Quốc ngày càng trở nên hung hăng và đàm phán về COC giữa Trung Quốc và ASEAN đang rơi vào bế tắc. Giữa lúc Trung Quốc đang chĩa mũi nhọn gây hấn vào Philippines những sự trao đổi thực chất giữa các lãnh đạo và những kết quả cụ thể giữa Philippines-Indonesia-Việt Nam trong các vấn đề hợp tác trên biển là động thái quan trọng để thể hiện sự ủng hộ đối với Philippines trong cuộc đối đầu với Bắc Kinh.

Trong bối cảnh một số quốc gia trong khu vực chịu sức ép và sự chi phối của Bắc Kinh khiến ASEAN chưa có được sự đồng thuận cao trên vấn đề Biển Đông thì việc tăng cường hợp tác, phối hợp giữa Philippines-Indonesia-Việt Nam là rất quan trọng. Tuy nhiên, một số ý kiến băn khoăn về sự thiếu vắng của Malaysia trong khuôn khổ cơ chế hợp tác giữa các nước ven Biển Đông bởi Malaysia là một nước trong tranh chấp Biển Đông và cũng đã từng nhiều lần gặp phải sự quấy rối của lực lượng hải cảnh, dân quân biển Trung Quốc trong các hoạt động kinh tế hợp pháp của mình.

Đặc biệt, một số nhà quan sát rất bất ngờ trước phát biểu của Thủ tướng Malaysia Anwar Ibrahim bên lề Hội nghị Cấp cao Đặc biệt ASEAN-Australia tại Melbourne từ ngày 4-6/3. Tại một cuộc họp báo sau hội nghị với Thủ tướng Australia Anthony Albanese, Thủ tướng Malaysia Anwar Ibrahim bày tỏ sự khó chịu khi bị Mỹ và các đồng minh “quấy rầy” về vấn đề chọn phe. Ông cho rằng “virus bài Trung” đã và đang hoành hành, gây ra không ít vấn đề. Thậm chí, ông Anwar Ibrahim còn cho rằng rủi ro xung đột ở Biển Đông đã bị phóng đại đúng như giọng điệu của Bắc Kinh.

Giới chuyên gia cho rằng do đang phụ thuộc quá lớn vào kinh tế Trung Quốc nên Malaysia đã không muốn làm mất lòng Bắc Kinh. Tuy nhiên, Malaysia là một bên tranh chấp ở Biển Đông và cũng đang là nạn nhân bị xâm lấn của Bắc Kinh nên cho dù Trung Quốc có là nhà đầu tư và thương mại hàng đầu của Malaysia thì người đứng đầu chính quyền Malaysia cũng không nên có những phát biểu như trên bởi phát biểu của người trong cuộc như ông sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới cục diện Biển Đông. Trong bối cảnh, Trung Quốc tìm mọi cách phân hóa, chia rẽ ASEAN trên hồ sơ Biển Đông. Tuy nhiên, Malaysia vẫn kiên quyết triển khai các dự án dầu khí trong thềm lục địa của mình bất chấp sự ngăn cản của Trung Quốc.

Với việc tăng cường phối hợp và hợp tác giữa Philippines-Indonesia- Việt Nam trong các vấn đề trên biển, một số phân tích từ các chuyên gia quốc tế cho rằng có khả năng các nước nước trong ASEAN có thể thảo luận với nhau về COC trước khi thảo luận với Trung Quốc do những bất đồng chưa thể giải quyết giữa Trung Quốc và một số nước ASEAN trong vấn đề Biển Đông. Một cơ chế “tiểu ASEAN” bao gồm các nước liên quan trực tiếp tới tranh chấp Biển Đông như Việt Nam, Philippines, Malaysia và Indonesia- nước không liên quan trực tiếp tới tranh chấp Biển Đông, song cũng phải hứng chịu sự quấy phá hung hăng của các tàu Trung Quốc ở vùng biển xung quanh quần đảo Natuna có thể giúp ASEAN tăng cường sự thống nhất trên vấn đề Biển Đông. Tuy nhiên, với phát biểu mới nhất của Thủ tướng Malaysia Anwar Ibrahim có thể khiến ý tưởng về một cơ chế “tiểu ASEAN” không thể thành hiện thực để tạo thêm sức mạnh trong đàm phán với Trung Quốc về COC. Do vậy, các cuộc đàm phán về COC sẽ còn tiếp tục phải đối mặt với nhiều thách thức.

Năm 2024, Lào-một nước không có biển, không liên quan trực tiếp tới Biển Đông làm Chủ tịch ASEAN, dư luận mong đợi các nước ven Biển Đông sẽ có sự phối hợp chặt chẽ để hỗ trợ Lào trong việc tạo sự đồng thuận trên vấn đề Biển Đông tại các hội nghị của ASEAN, nhất là trong bối cảnh Bắc Kinh đang gây sức ép lớn với Viên Chăn phá hoại sự đoàn kết của ASEAN. Giới phân tích nhận định động thái mới của Malaysia với phát biểu của Thủ tướng Anwar Ibrahim tại Melbourne đang “dội gáo nước lạnh” vào sự nỗ lực thúc đẩy hợp tác của 3 nước Philippines, Indonesia và Việt Nam.

]]>
Quan hệ chiến lược đặc biệt Australia – Indonesia và tác động tới Biển Đông https://biendong.net/2024/03/01/quan-he-chien-luoc-dac-biet-australia-indonesia-va-tac-dong-toi-bien-dong/ Fri, 01 Mar 2024 02:36:00 +0000 https://biendong.net/?p=124091 Nước láng giềng quan trọng và mạnh mẽ nhất của Australia chính là Indonesia – một trong những quốc gia lớn ở Đông Nam Á và có vai trò quan trọng trong ASEAN. Xét từ góc độ địa chiến lược, Indonesia cũng là quốc gia có tầm quan trọng đối với một nước Australia an toàn và mạnh mẽ. Năm 1994, Thủ tướng Australia lúc bấy giờ là Paul Keating đã có nhận xét nổi tiếng rằng “Lãnh thổ Australia trên thực tế chỉ có thể bị đe dọa trực tiếp bằng lực lượng quân sự đến từ hoặc thông qua Indonesia và Papua New Guinea”.

Ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, cả Indonesia và Australia đều quan ngại sâu sắc trước sức mạnh ngày càng tăng của Trung Quốc cũng như môi trường địa chiến lược ngày càng biến động ở Đông Nam Á. Cả hai nước láng giềng đều có cam kết và lợi ích chung về trật tự hàng hải dựa trên luật lệ ở Biển Đông.

Mối quan hệ giữa Australia và Indonesia khá phức tạp, đã từng xảy ra tình trạng bất hòa và mối quan hệ không mấy tốt đẹp đó kéo dài trong mấy thập kỷ. Vào những năm 1960, hai nước đã chiến đấu ở hai phe đối lập trong cuộc đối đầu Indonesia-Malaysia ở Borneo. Trong chiến tranh, Lực lượng Đặc nhiệm Australia đã thực hiện các hoạt động phục kích bí mật vào các vị trí của Indonesia ở Borneo. Tuy nhiên, sau đó mối quan hệ song phương đã bình thường hóa và đạt đến đỉnh cao vào năm 1995 khi hai nước láng giềng ký một thỏa thuận an ninh mang tính bước ngoặt. Đây là thỏa thuận an ninh song phương đầu tiên của Indonesia với bất kỳ quốc gia nào.

Trước khi thỏa thuận an ninh được ký kết, Thủ tướng Australia khi đó là ông Keating đã thuyết phục được Tổng thống Indonesia lúc bấy giờ là Suharto rằng đây là thời điểm thích hợp để hai nước láng giềng tham gia vào một thỏa thuận an ninh vì sức mạnh ngày càng tăng của một Trung Quốc khó lường. Ông Suharto cũng cảnh giác với tham vọng lãnh thổ tiềm tàng của Trung Quốc trong khu vực. Tuy nhiên, thỏa thuận này đã bị Indonesia hủy bỏ vào năm 1999 sau sự can thiệp đa quốc gia do Australia dẫn đầu vào Đông Timor.

Sau sự kiện Đông Timor, quan hệ hai nước từng bước được khôi phục trở lại và tới năm 2006, Indonesia và Australia đã ký một hiệp ước an ninh mới được gọi là Hiệp ước Lombok. Tiếp đó năm 2018, Jakarta và Canberra đã nâng cấp quan hệ chiến lược lên quan hệ đối tác chiến lược toàn diện. Tuy nhiên, vào năm 2021, Indonesia đã phản ứng không thuận trước thông báo về thỏa thuận hiệp ước an ninh AUKUS (Mỹ-Anh-Australia). Sau khi lên cầm quyền ở Australia, Thủ tướng Albanese đã chủ động khôi phục lòng tin lẫn nhau trong mối quan hệ song phương với Indonesia và hai nước láng giềng gần đây đã cam kết sẽ tăng cường hợp tác quốc phòng hiện có.

Sau khi giành thắng lợi trong cuộc bầu cử tháng 5/2022 và lên nắm quyền, Thủ tướng Anthony Albanese đã sớm thăm Indonesia từ ngày 5-7/6/2022. Không kể chuyến sang Nhật Bản dự Hội nghị Thượng đỉnh Nhóm “Bộ tứ” cuối tháng 5 thì Indonesia là nước mà ông Anthony Albanese thực hiện chuyến thăm chính thức đầu tiên trên cương vị Thủ tướng. Trong một tuyên bố bằng văn bản ngày 3/6/2022, Thủ tướng Albanese nhấn mạnh: “Indonesia là một trong những nước láng giềng gần gũi nhất của chúng tôi, đó là lý do tại sao tôi cam kết sẽ tới thăm nước này càng sớm càng tốt. Hai quốc gia của chúng ta có lịch sử hợp tác và hữu nghị lâu đời, và chính phủ của tôi sẽ làm việc với Indonesia để làm sâu sắc hơn mối quan hệ này”. Trong chuyến thăm, ông Albanese đã tìm cách giải thiwch và thuyết phục Indonesia rằng việc củng cố các liên minh với Mỹ, trong đó có việc thành lập liên minh AUKUS, sẽ không thay đổi cam kết của Australia trong việc coi Indonesia là một quốc gia có ảnh hưởng trong ASEAN nhằm duy trì sự ổn định trong khu vực; khẳng định Indonesia luôn là ưu tiên trong chính sách của Canberra,

Tổng thống Indonesia Joko Widodo (Jokowi) đã có chuyến thăm Australia từ ngày 3-5/7/2023. Phát biểu tại họp báo ở sân bay trước khi khởi hành, ông Joko Widodo nhấn mạnh chuyến công du 2 ngày tới Australia “mang tính chiến lược cao” đối với Indonesia; khẳng định mong muốn nâng tầm quan hệ song phương với Australia lên thành đối tác toàn cầu hiệu quả. Giới quan sát nhận định với chuyến thăm chính thức tới Australia lần thứ 5 trên cương vị Tổng thống Indonesia, ông Joko Widodo muốn khẳng định di sản của mình trong quan hệ giữa hai láng giềng quan trọng này. Trước chuyến thăm Bộ trưởng Điều phối các vấn đề hàng hải Indonesia Luhut Pandjiaitan và Phó Tổng thống Indonesia Ma’rut Amin đã gặp những người đồng cấp Australia để chuẩn bị các nội dung cho chuyến thăm. Các quan chức Indonesia và Australia còn đàm phán về một thỏa thuận hợp tác quốc phòng mới có thể mở đường cho các cuộc tập trận quân sự chung.

Với mối quan hệ đang tăng cao, Canberra và Jakarta đang hướng tới việc nâng tầm quan hệ song phương lên quan hệ đối tác chiến lược đặc biệt. Hiện tại, Nhật Bản vẫn là đối tác chiến lược đặc biệt duy nhất của Australia ở châu Á ngoài Mỹ. Thỏa thuận mới về nâng tầm quan hệ Australia-Indonesia sẽ bao gồm sự ủng hộ vững chắc cho tự do hàng hải và thương mại không bị cản trở ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, đồng thời củng cố nhu cầu giải quyết hòa bình các tranh chấp hàng hải trong khu vực theo UNCLOS. Thỏa thuận cũng cần nhấn mạnh vai trò trung tâm của ASEAN và tầm quan trọng của cấu trúc thể chế do ASEAN lãnh đạo đối với hòa bình và thịnh vượng ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Thỏa thuận vê đối tác chiến lược đặc biệt mới này sẽ đảm bảo quân đội Australia và Indonesia đều có quyền tiếp cận các khu vực huấn luyện quân sự tương ứng của nhau. Điều này sẽ tăng cường huấn luyện quân sự chung và các hoạt động quân sự. Việc đào tạo có thể đặc biệt có lợi cho lực lượng quốc phòng Indonesia đóng quân trong và xung quanh quần đảo Natuna. Thỏa thuận mới có thể mở rộng và lồng ghép các chương trình giáo dục quân sự hiện có cũng như trao đổi huấn luyện giữa cả hai lực lượng quốc phòng. Nhìn chung, những thay đổi mới sẽ tăng cường xây dựng năng lực, sẵn sàng chiến đấu và thế trận quân sự của cả hai nước. Thỏa thuận cũng sẽ thúc đẩy đáng kể trao đổi văn hóa, từ đó có thể làm sâu sắc thêm mối quan hệ giữa hai lực lượng quốc phòng.

Cuối cùng, thỏa thuận có thể giải quyết vấn đề tàu đánh cá Indonesia hoạt động trái phép và đánh bắt trái phép ở vùng biển Australia. Trong nhiều thập kỷ, Australia đã đốt các tàu đánh cá của Indonesia được phát hiện trong EEZ của nước này. Năm 2021, Chính phủ Indonesia đã đình chỉ các cuộc tuần tra hàng hải chung với Lực lượng Biên phòng Australia và yêu cầu giải thích về việc bắt giữ 3 tàu Indonesia đánh bắt trái phép trong vùng biển Australia. Trong thỏa thuận mới, đường dây nóng Australia-Indonesia có thể được thiết lập để ngăn chặn các tàu bất hợp pháp đi vào vùng biển Australia và Indonesia từ lãnh thổ của một trong hai nước. Quan hệ đối tác chiến lược đặc biệt mới Australia-Indonesia sẽ đưa hai nước láng giềng xích lại gần nhau hơn. Điều này cực kỳ quan trọng đối với cả hai quốc gia khi Đông Nam Á ngày càng trở nên quân sự hóa và bất ổn.

Vậy điều gì đã khiến Australia và Indonesia vượt qua những khác biệt để cùng nỗ lực hướng tới mối quan hệ đối tác chiến lược đặc biệt mang tính toàn cầu hiệu quả và điều đó tác động gì tới khu vực nói chung hay Biển Đông nói riêng được các nhà phân tích quan tâm và đưa ra những đánh giá bước đầu, cụ thể là:

Trước hết, cả Australia và Indonesia chia sẻ tầm nhìn về một khu vực rộng mở, ổn định và thịnh vượng dựa trên pháp luật và cùng đang phải đối mặt với những thách thức từ chính sách bành trướng của Bắc Kinh. Dù Indonesia không phải là nước liên quan trực tiếp tới tranh chấp Biển Đông, song thời gian gần đây, Trung Quốc đã mở rộng các hoạt động xâm lấn xuống vùng biển xung quanh quần đảo Natuna của Indonesia ở Biển Đông; trong khi đó Bắc Kinh cũng không ngừng lôi kéo, gia tăng ảnh hưởng ở các quốc đảo Tây Thái Bình Dương, lấn sân vào khu vực ảnh hưởng của Australia.

Indonesia ngày càng cảnh giác trước sự quyết đoán ngày càng tăng của Trung Quốc ở Biển Bắc Natuna. Trong khi đó, Trung Quốc tuyên bố rằng EEZ ở Biển Bắc Natuna của Indonesia nằm trong phạm vi yêu sách “Đường lưỡi bò” của nước này. Hải quân Indonesia thời gian gần đây đã phải nỗ lực để ngăn chặn ngày càng nhiều hoạt động xâm nhập của Trung Quốc vào vùng biển của nước này. Những cuộc xâm nhập đó đã thu hút sự chú ý của quốc tế vào năm 2021 khi xảy ra đối đầu lớn giữa hải quân Indonesia và Trung Quốc gần mỏ dầu khí mà Jakarta đang triển khai hoạt động khoan thăm dò. Tình trạng bế tắc càng trở nên trầm trọng hơn khi Trung Quốc lần đầu tiên yêu cầu Indonesia ngừng khoan dầu khí trong khu vực. Đầu năm 2023, một tàu chiến Indonesia đã được điều động tới Biển Bắc Natuna để giám sát tàu Haijing 3901 của hải cảnh Trung Quốc (tàu hải cảnh lớn nhất thế giới) đang hoạt động trong vùng biển này.

Năm 2016, Tòa Trọng tài về Biển Đông được thành lập theo Phụ lục VII của Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển (Tòa Trọng tài) đã đưa ra phán quyết coi yêu sách “Đường lưỡi bò” của Bắc Kinh ở Biển Đông là không có cơ sở pháp lý theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS). Indonesia đã nhiều lần công khai phản đối yêu sác “Đường lưỡi bò” của Trung Quốc; năm 2021 Australia đã gửi công hàm lên Liên hợp quốc bác bỏ yêu sách “Đường lưỡi bò”, ủng hộ phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài. Giới phân tích nhận định, lợi ích chung của Indonesia và Australia đối với trật tự hàng hải dựa trên luật lệ ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, bao gồm Biển Đông chính là chất xúc tác cho thỏa thuận hợp tác chiến lược mới giữa hai nước láng giềng.

Thứ hai, nhằm đối phó với các hoạt động xâm lấn của Trung Quốc xung quanh quần đảo Natuna, Indonesia tiến hành quân sự hóa quần đảo này. Tuy nhiên, tiềm lực của Jakarta vẫn còn hạn chế nên hiện tại các lực lượng vũ trang và tuần duyên của Indonesia chưa được trang bị đầy đủ để bảo vệ EEZ. Năm 2022, Tư lệnh Lực lượng Vũ trang Indonesia (TNI) khi đó là Tướng Andika Perkasa đã thừa nhận rằng khả năng tuần tra EEZ ở Natuna của Indonesia chỉ có thể kéo dài vài ngày. Ông Perkasa kêu gọi Indonesia tăng cường quan hệ với các nước trong Nhóm “Bộ tứ”, bao gồm cả Australia, để ngăn chặn các hành động xâm nhập của Trung Quốc.

Trước hành vi ngày càng hung hăng của Trung Quốc tại Vùng EEZ ở Biển Bắc Natuna giàu tài nguyên của Indonesia trong những năm gần đây, Jakarta đã tăng cường quan hệ quốc phòng với Mỹ và các đối tác trong khu vực. Bất chấp truyền thống không liên kết của Indonesia, trong chuyến thăm Mỹ của Bộ trưởng Quốc phòng Indonesia tháng 8/2023, Indonesia và Mỹ đã công bố một thông cáo báo chí chung tố cáo yêu sách “Đường lưỡi bò” bất hợp pháp của Trung Quốc ở Biển Đông; đồng thời hai nước đã ký Biên bản ghi nhớ (MoU) về việc Mỹ bán 24 máy bay chiến đấu 15EX tiên tiến cho Indonesia.

Các chuyên gia quân sự cho rằng Australia là đồng minh của Mỹ lại là láng giềng quan trọng của Indonesia, do đó Jakarta tăng cường quan hệ quốc phòng với Canberra là lẽ đương nhiên. Quan hệ đối tác chiến lược đặc biệt Australia-Indonesia tạo điều kiện thuận lợi cho Jakarta tăng cường tiềm lực quốc phòng, nâng cao năng lực hải quân và không quân để đối phó với các thách thức đang đặt ra. Các nhân viên của Lực lượng Phòng vệ Australia tham gia cuộc tập trận “Siêu lá chắn Garuda” ở Indonesia đầu tháng 9 vừa qua – cuộc tập trận do Mỹ – Indonesia đồng tổ chức lớn nhất từ trước đến nay – là dấu hiệu cho thấy Canberra cùng với Indonesia sẽ đóng một vai trò quan trọng trong các vấn đề an ninh khu vực. Nhìn chung, mối quan hệ chiến lược đặc biệt giữa Australia và Indonesia sẽ tác động tích cực tới cục diện Biển Đông và khu vực. Là 2 nước lớn trong khu vực và cùng có quan hệ tốt với các nước nhỏ ven Biển Đông, do vậy việc Australia – Indonesia tăng cường hợp tác không chỉ là lợi ích chung song phương của họ mà còn có lợi cho các nước ven Biển Đông. Xét từ mọi khía cạnh, quan hệ đối tác chiến lược đặc biệt giữa Australia – Indonesia sẽ là một yếu tố quan trọng ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông và trong khu vực.

]]>
Cách thức Malaysia và Indonesia đối phó với TQ xâm phạm chủ quyền của họ ở Biển Đông https://biendong.net/2023/07/12/cach-thuc-malaysia-va-indonesia-doi-pho-voi-tq-xam-pham-chu-quyen-cua-ho-o-bien-dong/ Wed, 12 Jul 2023 01:38:17 +0000 https://biendong.net/?p=109828 Theo dõi tình hình Biển Đông và an ninh khu vực Biển Đông trong 5 năm gần đây, có thể nhận thấy các hoạt động và hành động của lực lượng Trung Quốc bao gồm Hải quân, Hải cảnh, Hải giám, dân binh và ngư dân thường xuyên gây ra những phức tạp và sự vụ căng thẳng trên biển, khiến cho bất kỳ quốc gia nào trong khu vực Biển Đông cũng gần như không thể thuận lợi tiến hành việc thăm dò dầu khí trong vùng biển thuộc chủ quyền của mình.

Bởi hầu như mọi dự án mới về thăm dò, khai thác dầu khí của các nước trên nếu không nằm trong phạm vi “đường chín đoạn” vô lý do Trung Quốc tuyên bố thì cũng ở giáp ranh, thậm chí ở hẳn bên ngoài “đường chín đoạn”, nhưng cũng đều ngay lập tức bị thách thức bởi lực lượng nêu trên của Trung Quốc, dù đó là Malaysia, Việt Nam, Philippines hay là Indonesia. Điều này làm cho Biển Đông luôn là “điểm nóng” của an ninh khu vực và việc khoan thăm dò dầu khí ở Biển Đông của các nước nói trên ngày càng trở nên nguy hiểm, rủi ro và tốn kém nếu như các nước này không có sự tính toán kỹ lưỡng và kiềm chế tránh để xảy ra xung đột. Nhưng như vậy không có nghĩa là các nước phải “bó tay” trước những hành động xâm nhập trái phép của Trung Quốc. Hãy xem cách thức hai nước Malaysia và Indonesia đối phó ra sao. 

CMalaysia và Indonesia đều áp dụng chiến thuật giám sát chặt trên thực địa để đối phó với những hoạt động xâm nhập trái phép của Trung Quốc vào các vùng biển thuộc chủ quyền của hai nước trên Biển Đông

Mấy năm gần đây, cả Malaysia và Indonesia đã phải đối mặt với không ít cuộc xâm nhập liên tục, trái phép của lực lượng tàu Hải cảnh (CCG), tàu dân binh và tàu ngư dân Trung Quốc vào các khu vực biển thuộc chủ quyền của họ theo Công ước quốc tế về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982), bao gồm vùng biển ngoài khơi bang Sabah và bang Sarawak của Malaysia và vùng biển phía bắc quần đảo Natuna thuộc Indonesia. Đây là hai khu vực bị Bắc Kinh khoanh vào nằm trong phạm vi “đường chín đoạn” phi lý được họ tuyên bố công khai trên thế giới từ năm 2009 để xác định một vùng có quyền tài phán chiếm hơn 80% diện tích trên Biển Đông, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền các nước trong khu vực này.

Đáng chú ý là, từ khi Malaysia phát hiện ra các mỏ dầu có trữ lượng lớn ở Kawasari (năm 2011) nằm ở khu vực giữa bãi Luconia, ngoài khơi bờ biển bang Sarawak của nước này và Indonesia phát hiện ra trữ lượng lớn dầu khí ở lô Cá Ngừ nằm về phía Bắc quần đảo Natuna, thì ngay lập tức, phía Trung Quốc đã yêu cầu cả Malaysia và Indonesia ngừng thăm dò và khai thác dầu tại các vùng biển trên vì Bắc Kinh cho là “đang có tranh chấp chủ quyền”. Đi đôi với đó là các hành động xâm nhập trái phép hòng đe dọa của lực lượng CCG và tàu cá dân binh, tàu ngư dân Trung Quốc tại các vùng biển trên ngày càng được gia tăng và thúc đẩy.

Để đối phó với các vụ xâm nhập từ lực lượng CCG của Trung Quốc, Hải quân Hoàng gia Malaysia (RMN) và Hải quân Indonesia (TNI-AL) đã sử dụng chiến thuật giám sát chặt trên thực địa theo dõi các tàu CCG khi các tàu này đi vào vùng biển của họ, thay vì đối đầu quyết liệt và buộc các tàu này phải rời đi. Cách làm này cho thấy cả Kuala Lumpur và Jakarta đều có sự tính toán đến những rủi ro liên quan đến sự “quyết đoán” của Bắc Kinh ở Biển Đông.

Theo đó, các tàu của Malaysia và Indonesa thực hiện giám sát chặt trên thực địa đối với các tàu CCG của Trung Quốc theo cách như những cặp đôi vũ công nhảy điệu waltz: Khi các tàu CCG của Trung Quốc tiến về phía trước thì tàu của RMN và TNI-AL sẽ lùi lại, và ngược lại khi tàu của CCG lùi lại, thì tàu của hai lực lượng kia sẽ tiến lên. Cứ thế, tàu của mỗi bên cứ bám đuổi nhau dài dài trên biển mà không để xảy ra va chạm. Chiến thuật của cuộc chơi này dẫn tới một hiện trạng mà như một quan chức cấp cao của Bộ Quốc phòng Indonesia gần đây đã nhận xét là, với việc cả hai bên đều kiềm chế, không chủ động leo thang trước, do vậy các tàu CCG sẽ không phải lo đối đầu trực diện với các tàu của RMN và TNI-AL, tàu của Trung Quốc vẫn có thể “loanh quanh” ở các khu vực tranh chấp mà không phải rời đi.

Trong khoảng thời gian từ giữa năm đến cuối năm 2021, ba nước đã ở thế giằng co như vậy xung quanh các mỏ và giàn khoan dầu khí trong hơn 4 tháng. Cuộc giằng co bắt đầu khi sà lan Sapura 2000 do công ty Sapura Energy của Malaysia sở hữu và điều hành, tới mỏ khí Kasawari vào ngày 04/6/2021. Phía Malaysia đã dự đoán trước sự xuất hiện của các tàu CCG và sau đó đã cử lực lượng RMN tiến hành theo sát các tàu này cho đến khi hoàn thành hoạt động thăm dò khai thác vào tháng 11/2021. Mục đích hành động của phía Malaysia là nhằm khẳng định sự hiện diện của lực lượng RMN là một biện pháp cần thiết để đảm bảo an toàn trong trường hợp CCG quyết định can thiệp trực tiếp vào hoạt động thăm dò khai thác dầu của Malaysia.

Bắc Kinh cũng triển khai tàu khảo sát Da Yang Hao ở Tây Capella ngoài khơi bờ biển bang Sabah khi Malaysia tiến hành khoan ở mỏ dầu Siakap North Petai từ tháng 9 đến tháng 10/2021. Tàu Da Yang Hao được hộ tống bởi hai tàu nghiên cứu phụ trợ, một tàu dân quân biển (tàu Qiong Sansha Yu 318) và tàu Hải cảnh 6307. Bất chấp việc tàu khảo sát Trung Quốc có sự hộ tống của tàu quân sự và tàu dân binh, lực lượng RMN vẫn để yên cho các tàu này tiến hành các hoạt động mà không có bất kỳ phản ứng mạnh mẽ nào ngoài việc kiên trì giám sát chặt trên thực địa chúng.

Tại lô Cá Ngừ của Indonesia, khi giàn khoan nửa chìm nửa nổi Noble Clyde Boudreaux tiến hành khoan hai giếng thăm dò vào ngày 30/6/2021, các tàu CCG đã thay phiên nhau theo dõi cho đến khi hoạt động khoan thăm dò được hoàn thành vào tháng 11/2021. Tàu Hải cảnh 5202 hoạt động tại lô Cá Ngừ từ ngày 3/7 đến ngày 8/8/2021 trước khi được thay thế bằng tàu Hải cảnh 5305, hoạt động cho đến đầu tháng 10 và tiếp tục được thay bằng tàu Hải cảnh 6305, bắt đầu hoạt động gần giàn khoan Noble Clyde Boudreaux vào giữa tháng 10/2021. Phản ứng trước sự hiện diện của tàu CCG tại lô Cá Ngừ nói trên, TNI-AL đã tiến hành theo sát những con tàu này, thường là từng chiếc một. Đôi khi TNI-AL truy đuổi các tàu CCG trong khoảng cách gần, ở cự ly dưới 1 hải lý, nhưng hạn chế nổ súng cảnh cáo, như họ từng làm vào tháng 6/2016. Do đó, các tàu CCG vẫn không “lo ngại” lắm để ở lại trong khu vực tranh chấp.

Chiến thuật giám sát chặt trên thực địa các tàu Trung Quốc của Hải quân Malaysia và Indonesia dường như có lợi hơn là cách thức đối đầu quyết liệt

Thứ nhất, có lẽ cả Malaysia và Indonesia đã có sự tính toán rất kỹ trong trường hợp phải đương đầu với những hành động “quyết đoán” của Trung Quốc một khi họ đối đầu quyết liệt để xua đuổi các tàu Trung Quốc, nên chọn giải pháp giằng co như trên. Vì giải pháp giám sát sẽ khiến không bên nào dám “nổ súng” trước và do đó khó có thể gây ra xung đột. Điều này có lẽ đúng, vì cả Malaysia và Indonesia không phải là không có sự lựa chọn trong cách thức đối phó với các cuộc xâm nhập trái phép trên biển của Trung Quốc. Ví dụ, họ có thể tận dụng mối quan tâm của các cường quốc lớn bên ngoài khu vực để cân bằng sức mạnh với Trung Quốc ở Biển Đông. Vì xét về mặt sức mạnh và quyền lực thì Malaysia rất bất cân xứng với Trung Quốc, nên lẽ ra họ phải nhiệt tình mời gọi các cường quốc ngoài khu vực can thiệp để bảo vệ nước này trước hành vi “bắt nạt” của Trung Quốc. Thế nhưng, thay vào việc khuyến khích Mỹ và Australia can thiệp khi các tàu của CCG và RMN đương đầu với nhau ở khu vực Tây Capella vào tháng 4/2020, Malaysia đã sử dụng chiến thuật giám sát. Chiến thuật này được áp dụng ngay sau khi chính quyền của Thủ tướng Najib Razak nhậm chức vào năm 2009, nó cho thấy đây là một biện pháp kiềm chế, mang lại ít hậu quả tồi tệ khi đối phó với Trung Quốc ở Biển Đông, vì Kuala Lumpur thừa hiểu, mọi nỗ lực để cân bằng sức mạnh với Bắc Kinh là điều vô ích do năng lực răn đe hạn chế, hơn thế là sự không sẵn sàng của nước này trong việc đầu tư mạnh vào việc bảo vệ an ninh biên giới.

Nếu theo một tầm nhìn rộng lớn hơn thì thấy rằng, mặc dù “đường chín đoạn” của Trung Quốc không có cơ sở pháp lý quốc tế nào, nhưng bao năm qua cuộc chiến pháp lý của quốc tế, thậm chí đã có sự phán xét rất rõ ràng của tòa Trọng tài quốc tế về Luật Biển (PCA), nhưng Trung Quốc vẫn không từ bỏ lập trường của mình về yêu sách vô lý này. Hơn nữa, theo tính toán của các nhà hoạch định chính sách của Malaysai, do Malaysia coi trọng hợp tác kinh tế với Trung Quốc, trong khi Trung Quốc cũng coi nước này là một đối tác quan trọng của họ tại khu vực Đông Nam Á, nên Kuala Lumpur cần có một số hình thức thích nghi phù hợp trong quan hệ với Trung Quốc về vấn đề Biển Đông. Dựa trên những lập luận này, Malaysia cho rằng sự hiện diện của Trung Quốc ở Biển Đông nên được chấp nhận và “ranh giới đỏ” mà Kuala Lumpur đặt ra ở đây là phản đối bất kỳ sự “can thiệp trực tiếp” nào vào các hoạt động khai thác của nước này.

Chiến thuật “giám sát – ứng xử linh hoạt” của Indonesia được thực hiện từ năm 2017 khi nước này có sự tính toán thận trọng hơn trước các hành động xâm nhập trái phép của Trung Quốc vào vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Indonesia xung quanh quần đảo Natuna. Chiến thuật này trái ngược hẳn với một loạt cuộc tuần tra quyết đoán hồi năm 2016 của Hải quân Indonesia nhằm truy lùng các tàu đánh cá trái phép của Trung Quốc và sau đó công khai đánh chìm chúng. Sở dĩ Indonesia sử dụng chiến thuật này là vì: 1) Xét trên lĩnh vực kinh tế, Bắc Kinh và Jakarta có sự trao đổi lớn về đầu tư và thương mại, cũng như hợp tác chặt chẽ trong việc cung cấp vaccine ngừa COVID-19. Những yếu tố thực dụng này đã khiến giới hoạch định chính sách của Tổng thống Joko Widodo, đặc biệt là Bộ trưởng Điều phối các vấn đề hàng hải và đầu tư Luhut Panjaitan, đã kiềm chế được cả Bộ Ngoại giao và Hải quân Indonesia, khiến hai cơ quan này phải có thái độ hòa nhã hơn, phải từ bỏ thông lệ truyền thống của TNI-AL là đâm va và nổ súng cảnh cáo đối với các tàu không muốn bị hộ tống ra khỏi EEZ của Indonesia. 2) Giới lãnh đạo Jakarta cũng bắt đầu nhìn nhận Trung Quốc theo hướng tin rằng Bắc Kinh không chỉ là một bên liên quan có trách nhiệm trong việc giữ gìn sự ổn định ở Biển Đông để các bên cùng phát triển, mà còn coi Indonesia là một đối tác quan trọng. Nhiều nhà hoạch định chính sách ở Jakarta đã coi quyết định của Bắc Kinh không triển khai các tàu hộ tống quân sự để bảo vệ tàu khảo sát Haiyang Dizhi trước Hải quân Indonesia từ tháng 8 đến tháng 9/2021 là một biện pháp kiềm chế. Jakarta cũng cảm thấy đủ an toàn với vị thế pháp lý về chủ quyền của mình ở Biển Đông, trong khi Trung Quốc có rất ít cơ hội đạt được sự công nhận của cộng đồng quốc tế đối với các tuyên bố chủ quyền của mình. Sự kết hợp của hai yếu tố trên khiến Indonesia tin tưởng và nhún nhường trước hành động các tàu của Trung  Quốc xâm nhập vào vùng biển phía bắc Biển Natuna, miễn là hành vi xâm nhập đó vẫn mang tính chất phi quân sự và hạn chế can thiệp trực tiếp vào các hoạt động thăm dò dầu khí của Indonesia.

Thứ hai, ở đây có thể có cả tâm lý là nạn nhân nên cả Malaysia và Indonesia chấp nhận hành vi “bắt nạt” của Bắc Kinh đối với hai nước như một phần của một thỏa thuận trọn gói nhằm duy trì các mối quan hệ với Trung Quốc. Giới tinh hoa của Kuala Lumpur và Jakarta không ngây thơ đến mức nghĩ rằng Bắc Kinh sẽ không gia tăng hành vi “quyết đoán” trong tương lai. Nhưng qua những gì mà họ làm cho thấy, họ đang có xu hướng giải thích sự “quyết đoán” của Bắc Kinh là các tình huống chứ không phải là khuynh hướng trong tầm nhìn lớn hơn về Biển Đông. Điều này có nghĩa là Malaysia và Indonesia tin rằng, Bắc Kinh chỉ leo thang khi bị khiêu khích. Nếu càng khiêu khích Bắc Kinh và mời phương Tây can dự vào các tranh chấp thì sẽ có nguy cơ dẫn tới leo thang căng thẳng. Hơn nữa, Malaysia và Indonesa cũng nghĩ rằng, để đảm bảo mối quan hệ kinh tế sinh lợi trong quan hệ với hai nước này nên Bắc Kinh chỉ thể hiện thái độ thù địch trong những ranh giới tương ứng có thể chấp nhận được. Đây là một niềm tin khác thường và ít người tin như vậy, vì nó bắt nguồn từ suy nghĩ và tính toán của hai nước rằng, các hành động “quyết đoán” của Trung Quốc là sự phản ứng tức thì thay vì một phần trong tầm nhìn chiến lược lớn hơn về Biển Đông.

Thứ ba, điều quan trọng hơn cả của việc chấp nhận giằng co và áp dụng chiến thuật giám sát là tính hiệu quả của mục đích mà hai nước đặt ra. Vì dù rằng đã có sự cọ sát, bám đuổi nhau dài ngày trên biển giữa lực lượng Hải quân của Malaysia và Indonesia với lực lượng của Trung Quốc, nhưng cuối cùng thì cả Malaysia và Indonesia vẫn hoàn thành được việc thăm dò, khai thác dầu khí trên vùng biển thuộc chủ quyền của mình mà không để xảy ra xung đột, chiến tranh. Trung Quốc vẫn phải chấp nhận dầu khí từ ngoài khơi được chuyển vào bờ hai nước và vẫn phải quan hệ với cả hai chứ không thể “cạch mặt”. Trong khi cũng không có một nước thứ ba bên ngoài nào khác có thể “đục nước béo cò” mà hưởng lợi. Đây mới là ưu điểm vượt trội của chiến thuật này.

Chấp nhận thế giằng co, không để xảy ra xung đột, nhưng nếu Trung Quốc vượt qua “ranh giới đỏ” do Malaysia và Indonesia đặt ra thì đương nhiên hai nước sẽ phản ứng quyết liệt. Một ví dụ rất cụ thể, đó là: Vào tháng 4/2021, sau khi 16 máy bay quân sự của Trung Quốc bay qua vùng biển tranh chấp ngoài khơi bang Sarawak phía Đông Malaysia, ngoài việc cho lực lượng không quân xuất kích để ngăn chặn, Bộ Ngoại giao Malaysia đã ra công hàm phản đối, đồng thời triệu đại sứ Trung Quốc tại Malaysia đến để yêu cầu giải thích về việc vi phạm không phận và chủ quyền của Malaysia. Căng thẳng đã được giải quyết êm thấm bằng các động tác “sau hậu trường” của cả hai bên sau đó, nhưng qua đây cho thấy, Malaysia vẫn rất cảnh giác với Trung Quốc. Hành vi xâm phạm không phận của Malaysia nói trên được coi là vượt qua “ranh giới đỏ”.

Cuối cùng, điểm mấu chốt ở đây là chừng nào Kuala Lumpur và Jakarta còn tin rằng họ có lợi khi tiếp tục giao dịch với Bắc Kinh, thì chừng đó họ sẽ tiếp tục áp dụng cách tiếp cận kiềm chế hơn. Cuộc giằng co này vẫn tiếp diễn và các quy tắc của nó sẽ liên tục được thương lượng. Trung Quốc chưa dừng lại mà còn tiếp tục lấn tới và cả Malaysia và Indonesia sẽ tiếp tục phản đối. Đây là điều mà hai quốc gia này dường như đã chấp nhận như một thực tế của việc “làm hàng xóm bên cạnh một người khổng lồ”.

Việt Nam cũng có hoàn cảnh khá tương đồng với hai nước Malaysia và Indonesia cùng khu vực, thậm chí còn gần gũi Trung Quốc hơn cả về khoảng cách địa lý và mối quan hệ, nhưng đồng thời cũng có tranh chấp chủ quyền biển, đảo gay gắt hơn với Trung Quốc. Việt Nam cũng đã từng huy động lực lượng và áp dụng chiến thuật giám sát chặt trên thực địa trong đấu tranh với vụ giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc hạ đặt trái phép vào vùng thềm lục địa thuộc chủ quyền của Việt Nam năm 2014 mà kết cục là Trung Quốc đã phải cho rút giàn khoan này về nước. Song xem ra, những cách thức mà hai nước Malaysia và Indonesia sử dụng để đối phó với hành động Trung Quốc xâm nhập trái phép chủ quyền biển của họ cũng vẫn không phải là không hữu ích vào những thời điểm hoặc giai đoạn mà bối cảnh tình hình thế giới, khu vực có nhiều biến động trong khi quan hệ Việt – Trung vẫn đang có nhiều dư địa phát triển.

Minh Sáng

]]>
Indonesia trong chiến thuật “vùng xám” của TQ https://biendong.net/2022/10/10/indonesia-trong-chien-thuat-vung-xam-cua-tq/ Mon, 10 Oct 2022 03:33:23 +0000 https://biendong.net/?p=95940 Nhằm thúc đẩy tham vọng xây dựng cường quốc biển tiến tới thống trị các đại dương, Trung Quốc đang ráo riết áp đặt các chiến thuật “vùng xám” trên các vùng biển, trước hết là ở Biển Đông, eo biển Đài Loan và biển Hoa Đông bằng việc sử dụng lực lượng dân sự và bán quân sự để thực hiện các hành vi xâm lấn mà không tạo ra một cuộc xung đột toàn diện, trong đó khu vực Biển Bắc Natuna của Indonesia cũng không phải là ngoại lệ. Trung Quốc theo đuổi các mục tiêu này với nhận thức rằng Indonesia sẽ không thể đáp trả một cách thích đáng.

Từ năm 2019 đến đầu 2020 đã chứng kiến các tàu cá của Trung Quốc, với sự hậu thuẫn của lực lượng tuần duyên và dân quân hàng hải, xâm nhập vào Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Indonesia. Các quan chức thực thi pháp luật hàng hải của Indonesia khẳng định những cuộc xâm nhập này đã diễn ra liên tục sau đó, dù chúng ít được công bố hơn. Trung Quốc đã tăng cường chiến dịch này vào tháng 8/2021 khi một tàu khảo sát của Trung Quốc đã dành 7 tuần để vẽ bản đồ đáy biển trong khu vực EEZ của Indonesia. Jakarta đã tương đối im lặng về vấn đề này mặc dù có tới 9 tàu tuần tra của hải quân và tàu tuần duyên Indonesia theo dõi sự xâm lấn này dưới mệnh lệnh rõ ràng là không can thiệp. Giới học giả cho rằng Trung Quốc đã vượt qua “lằn ranh đỏ” của Indonesia một cách rõ ràng khi yêu cầu Indonesia ngừng khoan dầu trong khu vực.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (phải) và Tổng thống Indonesia Joko Widodo

Trung Quốc cho rằng họ có “những quyền lợi hàng hải bị chồng chéo” với Indonesia, theo cách hiểu của họ về một “nhận thức chung không chính thức” đạt được với Jakarta về lãnh thổ hàng hải trong những năm 1990. Nhưng hành vi của Bắc Kinh không nhằm mục đích gây ra một tranh chấp pháp lý, thay vào đó nó là một nỗ lực chiến lược từng bước để khiến Jakarta vô tình hoặc mặc nhiên công nhận các quyền hàng hải của Trung Quốc. Giờ đây, khi Trung Quốc kiểm soát các khu vực chiến lược quan trọng ở Biển Đông, họ cảm thấy tự tin hơn trong việc vượt qua những giới hạn.

Các cường quốc bá quyền được cho là sẽ mở rộng lãnh thổ cho đến chừng nào họ không thể chiếm thêm bất kỳ lãnh thổ nào nữa hoặc đối mặt với sự kháng cự quá lớn – nhưng Indonesia đã tỏ ra mềm yếu trong việc đẩy lùi sức ảnh hưởng của Trung Quốc. Phản ứng ngoại giao của nước này đối với vụ việc rất mờ nhạt, ngay cả khi các quan chức khăng khăng cho rằng họ đã kín đáo bày tỏ sự bất bình của mình. Phản ứng an ninh của nước này cũng lộn xộn, không nhất quán và chỉ mang tính biểu tượng. Chắc chắn không có phản ứng kinh tế hoặc chính trị mạnh mẽ nào từ Jakarta.

Các nhà hoạch định chính sách Indonesia hiện chưa có nhận thức rõ ràng về mục đích phản đối Trung Quốc. Một số người tin rằng việc khiến Trung Quốc từ bỏ yêu sách “Đường 9 đoạn” đối với Biển Đông là một mục tiêu có thể đạt được. Những người khác như Tổng thống Indonesia Joko Widodo chọn cách giải quyết khủng hoảng hơn là ngăn ngừa để tránh ảnh hưởng đến các chiến lược trong nước của ông. Nhiều người tin rằng hành vi của Trung Quốc chỉ là vấn đề về việc thực thi pháp luật, chứ không phải là một vấn đề về chiến lược.

Sự thiếu rõ ràng này là dấu hiệu đầu tiên của một thất bại chiến lược. Thay vì theo đuổi một mục tiêu rõ ràng và có thể đạt được là ngăn chặn các cuộc xâm nhập bất hợp pháp của Trung Quốc vào Biển Bắc Natuna, các nhà hoạch định chính sách Indonesia lại lựa chọn một phản ứng nhạt nhòa. Những hành động vô nghĩa này, chẳng hạn như tổ chức cuộc họp nội các trên tàu chiến, có thể thể hiện cho người dân trong nước thấy rằng họ đang “khẳng định mạnh mẽ” chủ quyền của Indonesia.

Cách tư duy như vậy một phần là do các nhà hoạch định chính sách Indonesia khăng khăng rằng nước này không liên quan tới các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông. Indonesia có một mối quan hệ song phương mạnh mẽ với Trung Quốc và vị thế của nước này ở Biển Đông được công nhận một cách hợp pháp theo luật pháp quốc tế. Điều này có nghĩa là các nhà hoạch định chính sách Indonesia có xu hướng coi việc xâm nhập “vùng xám” là các vấn đề thực thi pháp luật hàng hải ngắn hạn, thay vì là một ván cờ chiến lược rộng lớn hơn của Trung Quốc.

Sự thiếu rõ ràng cũng kéo theo tình trạng thiếu đi sự gắn kết chiến lược cần thiết để kết hợp hàng loạt công cụ ngoại giao, quân sự và kinh tế thành một phản ứng toàn diện chống lại sự xâm lấn của Trung Quốc. Thay vào đó, Indonesia đã ngăn chặn vấn đề bằng cách tách quan hệ song phương với Trung Quốc khỏi vấn đề Biển Bắc Natuna, tranh chấp trên Biển Đông và việc theo đuổi quyền lực để đạt được an ninh của Trung Quốc. Cách tiếp cận này bề ngoài có vẻ là hợp lý nếu xét trên tính chất phức tạp của những vấn đề đó và thực tế rằng Trung Quốc là vấn đề gây chia rẽ nội bộ nhiều nhất trong chính sách đối ngoại hiện nay.

Giới thượng lưu Indonesia cũng ngày càng phụ thuộc vào các lợi ích cá nhân và hàng hóa công mà Trung Quốc cung cấp, đặc biệt là những lợi ích trong thời kỳ đại dịch. Tuy nhiên, trong bối cảnh họ ngày càng lo ngại về thái độ hoài nghi của công chúng đối với các giao dịch với Trung Quốc, chính sách chiến lược của Indonesia trở nên kém minh bạch hơn. Chiến lược “vùng xám” của Trung Quốc đã thành công khi Indonesia thiếu sự minh bạch. Các nhà hoạch định chính sách dường như không thể hình dung được phạm vi của các lựa chọn giữa việc “bỏ cuộc” lặng lẽ hay là đấu tranh trong vấn đề đánh bắt.

Những thiếu sót này giải thích sự thất bại của Jakarta trong việc đưa ra một phản ứng có ý nghĩa đối với chiến thuật “vùng xám” của Bắc Kinh. Các nhà hoạch định chính sách Indonesia vẫn chưa nghiêm túc xem xét các lựa chọn khác nhau, chẳng hạn như thành lập các cơ chế tiểu đa phương về hàng hải hoặc cân nhắc các dự án trong Sáng kiến Vành đai và Con đường của Trung Quốc. Nhưng nếu Widodo không quan tâm đến việc thúc đẩy một phản ứng chiến lược chung, thì mỗi bên liên quan – từ lực lượng hải quân và tuần duyên cho đến bộ ngoại giao – sẽ phát triển các kế hoạch hành động riêng của mình.

Một phản ứng lý tưởng sẽ bao gồm việc các nhà hoạch định chính sách Indonesia nêu rõ mục tiêu có thể đạt được là đẩy lùi Trung Quốc ở Biển Bắc Natuna. Với các mục tiêu cụ thể, Indonesia có thể xác định rõ hơn các công cụ thích hợp để đạt được chúng. Nhưng quan trọng hơn, Indonesia cần phải tích hợp – chứ không chỉ phối hợp – những công cụ của năng lực quản lý này để đưa ra phản ứng hợp lý. 

Những kết quả mong muốn này sẽ khó có thể đạt được trong tương lai gần. Các cuộc “chạm trán” và “khủng hoảng” trên biển giữa Indonesia và Trung Quốc rồi sẽ tái diễn. Sự xâm nhập dần dần của Trung Quốc sẽ tiếp tục ngay cả khi Indonesia tuyên bố chiến thắng trong mỗi trường hợp cụ thể. Thành công của Trung Quốc trong chiến thuật “vùng xám” nằm ở sự ảo tưởng chiến lược mà Indonesia duy trì.

Giới phân tích lý giải cách ứng xử của Indonesia đối với chiến lược “vùng xám” của Bắc Kinh tỏ ra yếu thế bởi nền kinh tế hiện nay của Indonesia đang phụ thuộc quá lớn vào Trung Quốc như:

Một là, Indonesia tham gia quá sâu vào Sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI) của Bắc Kinh. Trung Quốc hiện đang xây dựng nhà máy thủy điện lớn nhất Indonesia trị giá 17 tỷ USD ở Borneo – một dự án cơ sở hạ tầng đặc trưng trong khuôn khổ BRI của Trung Quốc ở Indonesia; tuyến đường sắt Jakarta-Bandung, có thể được hoàn thành vào đầu năm tới. Nhiều dự án cơ sở hạ tầng khác cũng nằm trong chương trình nghị sự hợp tác kinh tế song phương.

Hai là, Trung Quốc cũng là đối tác thương mại số 1 của Indonesia, với các mối quan hệ được thiết lập để phát triển hơn nữa sau khi Quốc hội Indonesia phê chuẩn Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực vào tháng trước. Trong bối cảnh đại dịch, Trung Quốc đã cung cấp cho Indonesia các loại vaccine rất cần thiết và trở thành nhà cung cấp thiết bị bảo hộ cá nhân chính cho Indonesia. Hình ảnh ông Widodo tiêm vaccine với thương hiệu Sinovac của Trung Quốc nổi bật trên kênh truyền hình trực tiếp như một cách lan tỏa sự tin tưởng đối với công chúng Indonesia. 

Sự nhún nhường của Jakarta đối với Bắc Kinh còn thể hiện qua chuyến thăm của Tổng thống Indonesia Widodo tới Trung Quốc hồi cuối tháng 7 vừa rồi, nơi Tổng thống Widodo đã có các cuộc gặp với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Thủ tướng Lý Khắc Cường. Tuyên bố chung kết thúc chuyến thăm nhấn mạnh 2 nhà lãnh đạo đã đạt được “sự đồng thuận quan trọng” trong việc thảo luận về “một loạt vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm”; nêu rõ Indonesia sẵn sàng làm việc với Trung Quốc để “đảm bảo hòa bình và ổn định thông qua đối thoại và ngoại giao”, đồng thời lưu ý rằng ông Joko Widodo và ông Tập Cận Bình đã chỉ đạo các bộ trưởng ngoại giao của họ thảo luận về các yếu tố và nguyên tắc của mục tiêu này. Chuyến công du của ông Widodo đến Trung Quốc một lần nữa cho thấy chính phủ dân sự của Indonesia tiếp tục coi Bắc Kinh là đối tác quan trọng trong chương trình phát triển kinh tế. Giới phân tích nhận định nếu Indónesia không từng bước hạn chế sự phụ thuộc vào Trung Quốc về kinh tế thì họ khó có thể kiên quyết đấu tranh với những hành động xâm lấn hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông mà sẽ ngày càng chìm sâu vào chiến thuật “vùng xám” của Bắc Kinh. Điều này không chỉ ảnh hưởng tới lợi ích của Indonesia ở Biển Đông mà còn gây hệ lụy xấu với cục diện dựa trên pháp luật ở Biển Đông.

]]>
Quan hệ tam giác Australia – Ấn Độ – Indonesia và tác động đối với Biển Đông https://biendong.net/2022/09/30/quan-he-tam-giac-australia-an-do-indonesia-va-tac-dong-doi-voi-bien-dong/ Fri, 30 Sep 2022 03:01:51 +0000 https://biendong.net/?p=95921 Bên lề kỳ họp thứ 77 của Đại hội đồng Liên hợp quốc tại New York, Mỹ đã diễn ra cuộc họp giữa Ngoại trưởng 3 nước Australia-Ấn Độ-Indonesia. Đây là cuộc gặp trực tiếp đầu tiên 3 bên của nhóm này ở cấp Bộ trưởng Ngoại giao. Trước đó, 3 nước đã tiến hành một số cuộc họp trực tuyến như tháng 9/2020, Ngoại trưởng 3 nước đã tổ chức họp trực tuyến trước khi diễn ra cuộc họp giữa Bộ trưởng quốc phòng ba nước.

Tại cuộc họp lần này ở New York, các Ngoại trưởng đã thảo luận các vấn đề quốc tế và khu vực như triển vọng tăng cường hợp tác trong khuôn khổ Hiệp hội Vành đai Ấn Độ Dương (IORA), Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, G20 và nền kinh tế xanh.

Australia, Ấn Độ và Indonesia tổ chức họp ba bên lần đầu tiên

Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương ngày càng gay gắt, thời gian qua đã xuất hiện một số tổ chức tiểu đa phương và đa phương, tập hợp các quốc gia có chung tầm nhìn và lợi ích nhằm tăng cường quan hệ đối tác trong các vấn đề và chương trình nghị sự cụ thể. Vì vậy, Australia và Ấn Độ đã và đang thúc đẩy nâng cấp cuộc gặp 3 bên này lên cấp Bộ trưởng chính thức. Mặc dù Jakarta cũng tin rằng việc thắt chặt hơn nữa mối quan hệ với các nước như Ấn Độ và Australia là điều rất tốt, nhưng phía Indonesia hiện vẫn còn lưỡng lự.

Giới chuyên gia đưa ra một số lý do khiến Indonesia chưa mặn mà với đề xuất này: (i) bản thân Indonesia không muốn trở thành một phần của bất kỳ nhóm nào vì họ lo ngại sẽ gửi một thông điệp sai đến Trung Quốc, một trong những đối tác thương mại chính của họ và cũng đang tài trợ cho nhiều dự án phát triển cơ sở hạ tầng lớn, như đường sắt Jakarta-Bandung; (ii) mối quan hệ Indonesia-Australia từng căng thẳng trong quá khứ. Mặc dù mối quan hệ song phương này ngày càng được cải thiện, song vẫn còn một số “do dự” từ  Indonesia; (iii) Australia và Ấn Độ đều là thành viên của Nhóm “Bộ Tứ” gồm Mỹ, Australia, Nhật Bản và Ấn Độ để đối phó với mối đe dọa ngày càng tăng từ Trung Quốc, nên sẽ có ấn tượng rằng việc nâng tầm quan hệ 3 bên này sẽ một lần nữa đưa ra tín hiệu rằng Indonesia cũng đang đứng về phía chống Trung Quốc.

Tuy nhiên, nhìn về tổng thể, chính sách đối ngoại của Indonesia luôn tập trung trọng tâm vào các thể chế đa phương bởi giới hoạch định chính sách cho rằng thực tế hoạt động đối ngoại nước này đã chứng minh thông qua hoạt động ngoại giao đa phương, Jakarta có thể nâng cao vị thế của mình. Theo đó, Indonesia nhận thức  ngay cả khi bị chia rẽ và “không mấy thành công”, các nền tảng đa phương vẫn là cách tốt nhất để thảo luận các vấn đề và tìm ra các giải pháp. Điều này được thể hiện qua những hoạt động của Indonesia trong khuôn khổ ASEAN hay IORA. Indonesia được coi là “quốc gia lãnh đạo” trong ASEAN và luôn cố gắng tạo ấn tượng rằng họ đi đầu trong gắn kết tất cả các nước lại với nhau và chủ nghĩa đa phương là cách tốt nhất để thúc đẩy hợp tác. Mặt khác, Indonesia gần đây cũng đã tham gia Khuôn khổ Kinh tế Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (IPEF) do Mỹ khởi xướng, và điều này cho thấy ngay cả khi Trung Quốc là một đối tác thương mại lớn, Indonesia cũng vẫn đang tìm cách đa dạng hóa quan hệ trong lĩnh vực kinh tế và thương mại. Bên cạnh đó, ngày càng có nhiều người Indonesia mất lòng tin về Trung Quốc, do lo ngại rằng người Trung Quốc đang chiếm dụng các công việc địa phương. Chính phủ Indonesia cũng nhận ra rằng cần phải đa dạng hóa các quan hệ đối tác và các bước đi ban đầu là việc tham gia IPEF và với cuộc họp ngoại trưởng 3 bên Australia – Ấn Độ – Indonesia .

Cuộc họp trực tiếp đầu tiên giữa Ngoại trưởng Indonesia với các Ngoại trưởng Australia và Ấn Độ là dấu hiệu Indonesia đang cố gắng vượt qua những khác biệt trong quá khứ để thúc đẩy quan hệ hợp tác 3 bên, tập trung vào G20, IORA, Kinh tế Xanh và Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Hiện Indonesia đang giữ chức Chủ tịch G20 và sẽ tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh G20 tại Bali vào tháng 11 tới; Ấn Độ sẽ tiếp nhận vị trí Chủ tịch G20 từ Indonesia vào tháng 12/2022; Australia là thành viên tích cực của G20 (năm 2014, Hội nghị Thượng đỉnh G20 đã được tổ chức ở Australia và ông Anthony Albanese đã chọn Indonesia để thực hiện chuyến thăm đầu tiên trên cương vị Thủ tướng Australia 2 tuần sau khi nhậm chức và khẳng định sẽ tham dự Hội nghị Thượng đỉnh G20 ở Indonesia ngay trọng chuyến thăm này). Đây là điều kiện thuận lợi để 3 nước thúc đẩy mối quan hệ hợp tác 3 bên.

Là các quốc gia duyên hải Ấn Độ Dương, Australia-Ấn Độ-Indonesia có thể hợp tác trong các lĩnh vực như quản trị biển và ngoại giao hàng hải. Hầu hết các cuộc thảo luận về an ninh hàng hải chỉ tập trung vào các khía cạnh an ninh truyền thống cũng như các vấn đề như quản trị biển, an toàn và an ninh hàng hải. Giới phân tích nhận định quản trị biển có thể là điểm khởi đầu cho hợp tác 3 bên, sau đó là các con đường khác như nâng cao nhận thức về lĩnh vực biển; diễn tập bảo vệ bờ biển, hợp tác ngoại giao; phát triển cơ sở hạ tầng hàng hải, đặc biệt là ở Indonesia, cũng có thể được khởi xướng.

Quan hệ quốc phòng Ấn Độ-Australia đã phát triển mạnh mẽ trong những tháng gần đây, khi 2 quốc gia tăng cường tương tác hàng hải thông qua các cuộc tập trận quân sự song phương và đa phương. Các cuộc tập trận giữa Australia và Ấn Độ đã tái khẳng định các mục tiêu chung của một khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương rộng mở, bao trùm và dựa trên luật lệ, nhằm đối trọng với các mối đe dọa của chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc vốn đang đặt ra những thách thức chiến lược trong khu vực. Tháng 4/2022, các tư lệnh lục quân và hải quân Australia đã đến thăm Ấn Độ, và Cao ủy Australia tại Ấn Độ Barry O’Farrell đánh giá rằng các hoạt động phòng thủ chung giữa 2 nước đã tăng gần gấp 4 lần kể từ năm 2014. Một số cuộc tập trận giữa Australia và Ấn Độ đã diễn ra sau cuộc họp hồi tháng 6/2022 tại New Delhi giữa Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ Rajnath Singh và người đồng cấp Australia Richard Marles. từ ngày 19-20/8/2022, Hải quân Ấn Độ và Hải quân Hoàng gia Australia đã tiến hành cuộc tập trận Đối tác Hàng hải ngoài khơi gần cảng Perth của Australia; Từ ngày 19/8-8/9/2022, không quân Ấn Độ tham gia cuộc tập trận Pitch Black 2022 tại căn cứ của Không quân hoàng gia Australia (RAAF) ở Darwin, Tindal và Amberley; ngay sau đó, máy bay tuần tra, trinh sát hàng hải Boeing P-8I, và tàu khu trục tàng hình mang tên lửa dẫn đường INS Satpura của Ấn Độ tham gia cuộc tập trận “Kakadu” được tổ chức tại thành phố Darwin, miền Bắc Australia.

Ấn Độ và Indonesia thường “hướng nội” trước sức ép từ bên ngoài, song điều này đang thay đổi nhanh chóng trong giai đoạn gần đây khi Trung Quốc ngày càng trỗi dậy và ngày càng trở nên hung hăng hơn. Năm 2018, New Delhi và Jakarta đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện và lần đầu tổ chức một cuộc tập trận hải quân song phương có tên gọi “Samudera Shakti”. Mối quan hệ đối tác chiến lược này ngày càng phát triển, trong đó cốt lõi tập trung vào an ninh hàng hải và hợp tác quốc phòng. Với vai trò là hai “mỏ neo” chính của hàng hải châu Á, hai nước có chung mối lo ngại về sức mạnh và sự quyết đoán ngày càng lớn của Trung Quốc. Indonesia và Ấn Độ đang hoàn thiện hợp đồng mua hệ thống tên lửa hành trình siêu thanh chống hạm BrahMos của Ấn Độ để triển khai tại bờ biển Indonesia. Thương vụ mua BrahMos sẽ giúp Indonesia nâng cấp đáng kể năng lực răn đe hàng hải tại các vùng biển xung quanh quần đảo Natuna, vốn chồng lấn với yêu sách “Đường 9 đoạn” của Trung Quốc, cũng như liên tiếp bị tàu cá và tàu dân quân Trung Quốc xâm lấn trong suốt thập kỷ vừa qua.

Vùng biển giữa Indonesia và Bắc Australia là khu vực mà cả 2 nước cùng quan tâm, là cửa ngõ vào khu vực Ấn Độ Dương, những bất đồng giữa Indonesia và Australia về khu vực biên giới trên biển kéo dài đã cản trở hợp tác giữa hai nước. Trong bối cảnh tình hình khu vực phức tạp do sự trỗi dậy hung hăng của Trung Quốc, Indonesia và Australia đã tìm cách vượt qua những trở ngại đó để thúc đẩy hợp tác nhằm đối phó với những thách thức mới. Tháng 10 này, Jakarta và Canberra đã ký một thỏa thuận về chống đánh bắt bất hợp pháp, không báo cáo và không được kiểm soát (IUU), đánh dấu một bước tiến quan trọng của 2 nước trong nỗ lực xóa bỏ các hoạt động khai thác thủy sản này cũng như trong mối quan hệ song phương. Theo thỏa thuận, hai bên đã thành lập 3 nhóm công tác, tập trung triển khai một chiến dịch thông tin công khai, công tác giám sát và thực thi pháp luật, và các cơ hội tạo phương thức sinh kế thay thế cho ngư dân Indonesia. Thỏa thuận mới giữa Indonesia và Australia về đánh bắt IUU là một bước phát triển quan trọng, tạo cơ sở cho 2 bên tăng cường hợp tác về hàng hải cũng như giữa hải quân hai nước.

Giới phân tích nhận định việc tăng cường hợp tác song phương trong các cặp quan hệ giữa Australia-Ấn Độ giữa Ấn Độ-Indonesia và giữa Australia-Indonesia là tiền đề cho việc tăng cường mối quan hệ tam giác Australia-Ấn Độ-Indonesia. Cuộc họp trực tiếp đầu tiên giữa Ngoại trưởng 3 nước là tín hiệu tích cực đối với cả khu vực, trong đó có Biển Đông. Tuy nhiên để trở thành một cơ chế hợp tác chính thức 3 bên, cần nỗ lực chung của cả 3 nước, trong đó Australia và Ấn Độ sẽ cần chủ động dẫn dắt và thúc đẩy các cuộc họp nhiều hơn nữa trong tương lai để làm tan đi những e ngại từ Indonesia, chứng minh việc tăng cường hợp tác 3 nước ở Ấn Độ Dương và rộng hơn là Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Việc tăng cường hợp tác 3 bên Australia-Ấn Độ-Indonesia với cuộc họp giữa Ngoại trưởng 3 nước tháng 9 vừa qua là một diễn biến tích cực đối với khu vực, nhất là đối với cục diện Biển Đông, thể hiện trên một số điểm sau:

Thứ nhất, Ấn Độ là một nước lớn ở khu vực, Australia và Indonesia là 2 nước tầm trung có vai trò và tiếng nói trong khu vực. Cả 3 nước đều đang đứng trước những thách thức lớn từ sự trỗi dậy hung hăng của Trung Quốc. Việc tăng cường hợp tác giữa 3 nước này, nhất là việc hình thành một cơ chế tam giác chính thức giữa 3 nước sẽ là một nhân tố quan trọng để kiềm chế Trung Quốc và có thể trở thành chỗ dựa cho các nước ven Biển Đông trong cuộc đối đầu với Bắc Kinh.

Indonesia không liên quan trực tiếp đến tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, song nước này bị lôi vào cuộc do yêu sách “Đường 9 đoạn” lấn vào vùng biển xung quanh quần đảo Natuna của Indonesia; gần đây, Trung Quốc đã mở rộng xâm lấn vào vùng biển này của Indonesia, ngăn cản các hoạt động dầu khí hợp pháp của nước này khiến Jakarta phản ứng mạnh mẽ. Đây cũng được coi là nguyên nhân thôi thúc Indonesia tìm kiếm hợp tác hàng hải với Australia-Ấn Độ mà cuộc họp giữa Ngoại trưởng 3 nước mới chỉ là khởi đầu. Hợp tác 3 bên giúp tăng thêm sức mạnh cho Indonesia trong cuộc đối đầu với sự bành trướng trên biển của Bắc Kinh.

Thứ hai, Australia-Ấn Độ-Indonesia đều là những nước đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật trên biển. Indonesia đã nhiều lần gửi công hàm lên Liên hợp quốc bác bỏ các yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông; tháng 7/2020 Australia cũng đã gửi công hàm lên Liên hợp quốc bác bỏ các yêu sách của Bắc Kinh ở Biển Đông, ủng hộ phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài vụ kiện Biển Đông; Ấn Độ là nước gương mẫu trong việc tuân thủ Phán quyết năm 2014 về phân định ranh giới biển giữa Bangladesh và Ấn Độ của Toà trọng tài theo Phụ lục VII UNCLOS mặc dù phán quyết này là bất lợi cho Ấn Độ. Việc hình thành cơ chế hợp tác giữa 3 nước này sẽ góp phần thúc đẩy việc thực thi pháp luật duy trì tự do hàng hải, hàng không dựa trên luật pháp quốc tế ở Biển Đông. Giới chuyên gia nhận định cơ chế hợp tác 3 bên Australia-Ấn Độ-Indonesia với trọng tâm là hợp tác an ninh hàng hải sẽ là nhân tố quan trọng ngăn chặn chiến lược “vùng xám” của Trung Quốc ở Biển Đông và trong khu vực. Điều này là có lợi cho các nước ven Biển Đông trong cuộc đối đầu với các thách thức từ sự hung hăng ngày càng tăng của Bắc Kinh.

Thứ ba, Australia có quan hệ tốt với các nước ven Biển Đông và đã trở thành đối tác chiến lược toàn diện của ASEAN từ năm 2021, đồng thời thường xuyên cử tàu chiến máy bay tuần tra, tham gia tập trận ở Biển Đông. Ấn Độ có quan hệ mật thiết với các nước trong khu vực Đông Nam Á, nhất là trong lĩnh vực an ninh hàng hải; Ấn độ đang hợp tác với Việt Nam thăm dò khai thác dầu khí ở Biển Đông bất chấp sự phản đối của Trung Quốc và đang nỗ lực nâng cấp quan hệ với ASEAN lên đối tác chiến lược toàn diện; ngoài Indonesia Ấn Độ đã bán tên lửa BrahMos cho Philippines, trong khi Thái Lan, Malaysia và Việt Nam đã bày tỏ sự quan tâm tới tên lửa này của Ấn Độ.

Trong cơ chế hợp tác 3 bên mới này, Indonesia là một nước lớn và có vai trò tiếng nói quan trọng trong ASEAN, luôn đi đầu trong các vấn đề an ninh khu vực. Trên vấn đề Biển Đông, quan điểm của Indonesia rất rõ ràng, là một trong những nước đi đầu phản đối yêu sách “Đường 9 đoạn” của Trung Quốc ở Biển Đông và luôn nhấn mạnh việc thực thi pháp luật, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 ở Biển Đông. Giới chuyên gia nhận định việc hình thành cơ chế hợp tác 3 bên Australia-Ấn Độ-Indonesia không chỉ giúp tăng cường quan hệ giữa các nước này mà còn khiến cho quan hệ của Australia và Ấn Độ với ASEAN trở nên gắn kết hơn. Qua đó Australia và Ấn Độ có thể đóng góp nhiều hơn vào an ninh khu vực, trong đó có vấn đề Biển Đông. Mặt khác, với tư cách thành viên của Nhóm “Bộ Tứ”, Australia và Ấn Độ có thể kết nối sự phối hợp giữa Nhóm “Bộ Tứ” với tam giác chiến lược Australia-Ấn Độ-Indonesia trong việc thúc đẩy một trật tự dựa trên pháp luật ở khu vực, trong đó có Biển Đông, ngăn chặn sự bành trướng trên biển của Trung Quốc. Từ góc độ này, có thể thấy cuộc họp giữa Ngoại trưởng Australia-Ấn Độ-Indonesia bên lề cuộc họp Đại hội đồng Liên hợp quốc tháng 9 vừa qua là sự khởi đầu cho việc hình thành cơ chế hợp tác tam giác giữa 3 nước, phát đi tín hiệu tích cực đối với duy trì hòa bình ổn định và an ninh, an toàn tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông.

]]>
Dự báo về căng thẳng giữa Indonesia và TQ trên Biển Đông https://biendong.net/2022/03/16/du-bao-ve-cang-thang-giua-indonesia-va-tq-tren-bien-dong/ Wed, 16 Mar 2022 03:03:00 +0000 https://biendong.net/?p=76630 Căng thẳng giữa Indonesia và Trung Quốc ở Biển Đông leo thang từ đầu tháng 7/2021, khi các tàu của Trung Quốc quấy nhiễu, uy hiếp hoạt động của giàn khoan Noble Clyde Boudreaux do Indonesia thuê khoan thăm dò dầu khí ở mỏ Cá Ngừ nằm ở phía Bắc quần đảo Natuna, cách ranh giới Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Indonesia khoảng 10 km mà phía Trung Quốc cho rằng nằm bên trong yêu sách “Đường 9 đoạn” họ tự tuyên bố ở Biển Đông.

Lấy cớ trả đũa hành động của Indonesia, một tàu khảo sát Trung Quốc được 2 tàu hải cảnh hộ tống đã tiến hành khảo sát trái phép trong EEZ và thềm lục địa của Indonesia, cách khu vực giàn khoan Noble Clyde Boudreaux không xa từ cuối tháng 8/2021. Những hoạt động của Trung Quốc đã khiến Jakarta gửi công hàm phản đối tới Bắc Kinh; hải quân và Cơ quan An ninh hàng hải Indonesia phải điều tàu ra để giám sát và bảo vệ; các tàu sân bay của Mỹ rồi HMS Queen Elizabeth của Anh đã lần lượt xuất hiện ở khu vực này. Những động thái này làm cho tình hình Biển Đông càng thêm căng thẳng.

Từ những động thái của các bên liên quan đến những căng thẳng giữa Indonesia và Trung Quốc xung quanh vấn đề biển ở khu vực Bắc quần đảo Natuna, giới quan sát đưa ra một số dự báo về căng thẳng giữa Indonesia ở khu vực này:

Thứ nhất, Indonesia sẽ quyết tâm bảo vệ các quyền và lợi ích biển của mình tại khu vực Bắc Natuna: liên quan đến hoạt động khai thác dầu khí của Indonesia, Người đứng đầu cơ quan quản lý hoạt động dầu khí của Indonesia (SKK Migas), ông Dwi Soetjipto mới đây khẳng định Jakarta sẽ tiếp tục các hoạt động thăm dò và khai thác ở khu vực phía bắc đảo Natuna bất chấp cản trở từ Trung Quốc. Tại cuộc điều trần với Ủy ban Hạ viện VII về năng lượng và khai thác hôm 02 tháng 2, ông Dwi Soetjipto nhấn mạnh “Chính phủ đã yêu cầu tiếp tục thực hiện các hoạt động ở đó (hoạt động dầu khí ở biển Bắc Natuna) mà không gây ồn ào”. Việc kiên quyết thực hiện các quyền về khai thác tài nguyên dầu khí trong vùng biển Bắc Natuna của chính quyền Indonesia cùng với sự kiên định triển khai dự án của các đối tác Zarubezhneft (Nga) và Harbour Energy (Anh) chắc chắn sẽ khiến Trung Quốc có các hành động “trả đũa”, làm cho tình hình khu vực biển Bắc Natuna tiếp tục “dậy sóng”.

Ngoài ra, nhiều động thái gần đây cho thấy Indonesia đã nhận thức rõ những thách thức trên biển từ Trung Quốc và không thể đứng ngoài trong cuộc đối phó với Trung Quốc ở Biển Đông và cần có sự phối hợp chặt chẽ với các nước ven Biển Đông khác để ngăn chặn các hành vi hung hăng của Bắc Kinh mặc dù nước này không liên quan trực tiếp tới các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông. Dự kiến Indonesia sẽ tổ chức cuộc họp của người đứng đầu lực lượng chấp pháp trên biển của các nước ASEAN có tranh chấp ở Biển Đông trong tháng 2 này, với mục đích là chia sẻ kinh nghiệm, bày tỏ sự đoàn kết và tìm ra cách thức chống lại hoạt động “vùng xám” của Trung Quốc. Các chuyên gia phân tích dự báo rằng cuộc họp này có thể là sự khởi đầu cho việc hình thành một tập hợp lực lượng của các nước ven Biển Đông (còn được gọi là nhóm nhỏ trong ASEAN) trong việc ứng phó với các thánh thức ở Biển Đông.

Bên cạnh đó, trong những ngày đầu tháng 2 này, quân đội Indonesia thông báo thành lập Bộ tư lệnh Hạm đội Indonesia (Koarmada RI) để đối phó với các thách thức trên biển, bao gồm khu vực Biển Đông. Điều này cho thấy Jakarta sẽ không lùi bước trước tham vọng của Bắc Kinh mà luôn sẵn sàng bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình ở Biển Đông. Việc Indonesia tăng cường lực lượng hải quân và an ninh trên biển sẽ là nhân tố quan trọng để ngăn chặn sự bành trướng của Bắc Kinh. Tuy nhiên, các chuyên gia đều nhận định rằng Jakarta sẽ hết sức kiềm chế trong các hành động trên biển để tránh xảy ra xung đột.

Thứ hai, việc Washington khẳng định những cam kết mạnh mẽ đối với khu vực Đông Nam Á nói chung và Biển Đông nói riêng, trong đó Mỹ tuyên bố “sát cánh cùng các nước trong khu vực” để ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc là nhân tố quan trọng khuyến khích các nước ven Biển Đông, bao gồm Indonesia kiên định hơn và cứng rắn hơn trong cuộc đối đầu với Trung Quốc ở Biển Đông.

Nhận thức rõ về vai trò của Mỹ đối với an ninh khu vực và Biển Đông, thời gian gần đây Indonesia chủ động tăng cường hợp tác quốc phòng, an ninh với Mỹ, nhất là kể từ sau chuyến công du Washington của Bộ trưởng Ngoại giao Indonesia Retno Marsudi tháng 8/2021 như tiến hành các cuộc tập trận chung quy mô lớn, hải quân Mỹ đã nhiều lần điều tàu, kể cả tàu sân bay và tàu chiến đấu ven bờ khi tàu Trung Quốc quấy nhiễu các hoạt động dầu khí của Indonesia…

Trong chuyến thăm Jakarta giữa tháng 12/2021, điểm dừng chân đầu tiên trong chuyến công du Đông Nam Á, Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken khẳng định Washington sẽ nỗ lực để bảo vệ một “trật tự dựa trên luật lệ”, trong đó các nước có quyền “chọn con đường của riêng mình”. Ông Blinken cho rằng vụ việc vừa qua (hàm ý việc Trung Quôc cho tàu gây hấn ở biển Bắc Natuna) ngày càng làm gia tăng mối quan ngại về “các hành động gây hấn” của Trung Quốc tại vùng biển mà nước này tuyên bố chủ quyền.

Là nước lớn nhất ở khu vực Đông Nam Á, việc Indonesia củng cố quan hệ đối tác chiến lược với Mỹ, nhất là trên các lĩnh vực an ninh biển, tài nguyên biển, bảo tồn và quản lý nghề cá cũng như an toàn và giao thông hàng hải như được ghi nhận trong Thỏa thuận về hợp tác hàng hải giữa hai bên sẽ là một yếu tố quan trọng để Indonesia bảo vệ các quyền và lợi ích cũng như triển khai các hoạt động kinh té biển của mình.

Thứ ba, với tham vọng khống chế Biển Đông, Trung Quốc sẽ tiếp tục cản trở các hoạt động dầu khí của Indonesia nằm trong “Đường 9 đoạn”, một yêu sách trái với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) và đã bị Tòa Trọng tài vụ kiện Biển Đông bác bỏ. Tuy nhiên, mức độ gây hấn của Trung Quốc sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau do Trung Quốc cũng phải tính đến hoạt động dầu khí tại mỏ Cá Ngừ có sự tham gia của công ty dầu khí Zarubezneft (Nga). Các chuyên gia dầu khí tin rằng các hành động của Trung Quốc sẽ chỉ dừng lại ở mức đe dọa, chưa dẫn tới xung đột bởi:

(i) Đây không phải là một nguồn cung dài hạn, với việc lượng khí ngưng tụ được phát hiện có thể khai thác hết trong vòng 4 hoặc 5 năm đầu, mỏ khí này dự kiến sẽ cạn kiệt sau 5 năm, trừ khi các đối tác tìm được nguồn dự trữ bổ sung. Quy mô của nó quá nhỏ nên khó có thể dẫn tới đối đầu quân sự.

(ii) Indonesia không phải là nước duy nhất bị Bắc Kinh uy hiếp, đe dọa trên Biển Đông. Các tàu Trung Quốc từng thường xuyên quấy rối hoạt động thăm dò dầu khí của Việt Nam ở khu vực mà Việt Nam đã khai thác lâu nay và hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam hay hoạt động dầu khí của Malaysia ở bãi cạn Luconia, nằm bên trong EEZ của nước này và được cho là chứa khoảng 85 tỷ m3 khí đốt. Các hoạt động của tàu Trung Quốc ở vùng biển của Việt Nam hay Malaysia cũng chỉ dừng lại ở uy hiếp, đe dọa chưa dẫn tới những va chạm nên căng thẳng giữa Indonesia và Trung Quốc ở khu vực biển Bắc Natuna có lẽ cũng chỉ dừng ở mức hăm dọa.

(iii) Indonesia luôn tỏ ra thận trọng khi xử lý các tranh chấp xảy ra trên biển với Trung Quốc. Mặc dù bị các tàu Trung Quốc xâm lấn, uy hiếp hoạt động khoan thăm dò trong mấy tháng liền nhưng Indonesia vẫn giữ im lặng, không công khai lên tiếng mà chỉ phản đối qua đường ngoại giao, các tàu được Indonesia điều ra hiện trường cũng chỉ để giám sát các hoạt động của tàu Trung Quốc, không có các hành động quá khích, do vậy Bắc Kinh khó có cớ để gây ra đụng độ với Indonesia ở vùng biển Bắc Natuna.

Trong giai đoạn vừa qua, có nhiều dấu hiệu về mối quan hệ ngày càng thân thiết giữa Bắc Kinh và Moskva nhất là sau chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Nga Putin đầu tháng 2 này. Do đó, giới phân tích đặt ra hai câu hỏi: một là, mối quan hệ hợp tác khăng khít giữa Trung Quốc và Nga, nhất là trên lĩnh vực năng lượng có buộc Zarubezhneft của Nga – một cổ đông lớn nhất trong dự án mỏ Cá Ngừ rút khỏi dự án hay không?; hai là, liệu Trung Quốc có dừng việc thúc đẩy tuyên bố chủ quyền đối với mỏ Cá Ngừ hay không, nếu mỏ này trở thành địa bàn hoạt động của Nga?

Có thể thấy cả hai khả năng trên đều khó có thể xảy ra vì một mặt, Nga không thể vì Trung Quốc mà hy sinh lợi ích và quan hệ với Indonesia, một nước chủ chốt trong ASEAN và có ảnh hưởng lớn trong thế giới hồi giáo. Mặt khác, với mục tiêu khống chế, độc chiếm Biển Đông không thay đổi của Bắc Kinh, Indonesia sẽ khó tránh khỏi việc nước này thực thi yêu sách “đường 9 đoạn” hay “Tứ Sa”. Ngoài ra, nền kinh tế của Indonesia còn phụ thuộc vào Trung Quốc. Một số chuyên gia hàng hải đã đưa ra cảnh báo: Trung Quốc hy vọng rằng các cuộc xâm nhập thường xuyên của họ vào biển Bắc Natuna cuối cùng sẽ buộc Indonesia phải “đàm phán” một thỏa thuận ngầm về các yêu sách bất hợp pháp của Bắc Kinh tại khu vực này.
Các chỉ dấu trên cho thấy năm 2022 sẽ tiếp tục chứng kiến căng thẳng gia tăng giữa Trung Quốc và Indonesi tại khu vực Biển Bắc Natuna và nguyên nhân chủ yếu vẫn là do hành xử đơn phương của Trung Quốc nhằm củng cố yêu sách phi lý của mình.

Hải Anh

]]>