Malaysia – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Tue, 29 Apr 2025 14:15:28 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 Malaysia đối phó với TQ trong vấn đề năng lượng dầu khí ở Biển Đông                 https://biendong.net/2025/04/23/malaysia-doi-pho-voi-tq-trong-van-de-nang-luong-dau-khi-o-bien-dong/ Wed, 23 Apr 2025 02:11:00 +0000 https://biendong.net/?p=148506 Malaysia là quốc gia có nguồn tài nguyên dầu khí phong phú ở Biển Đông với các lô dầu khí có trữ lượng lớn đều nằm dọc theo thềm lục địa, nhất là ở cụm bãi cạn Luconia và ngoài khơi bang Sarawak.

Dựa vào nguồn tài nguyên này và thông qua việc triển khai hơn 40 giàn khoan hoạt động chủ yếu tại Biển Đông, Malaysia đã trở thành nhà sản xuất dầu khí lớn thứ hai tại khu vực Đông Nam Á. Và chính ngành dầu khí đã đóng góp từ 25% đến 40% kim ngạch xuất khẩu và hơn 25% ngân sách cho chính phủ Malaysia.

Những năm gần đây, hoạt động khai thác năng lượng dầu khí của nước này tại Biển Đông thường phải đối đầu với những tranh cãi và căng thẳng từ phía Trung Quốc do vấn đề tranh chấp chủ quyền trên vùng biển này, thu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế và khu vực. Song, bằng sự khôn khéo của mình, Kuala Lumpur vẫn bảo vệ, giữ vững được chủ quyền quốc gia, vẫn tiến hành khai thác được tài nguyên ở Biển Đông, trong khi quan hệ với Bắc Kinh vẫn không quá căng thẳng. Phải chăng, đây cũng là một phương cách góp phần giữ gìn hòa bình, ổn định ở Biển Đông.

Tổng quan về chính sách và hoạt động khai thác năng lượng dầu khí của Malaysia ở Biển Đông

Thứ nhất, chính sách và hoạt động khai thác năng lượng dầu khí của Malaysia ở Biển Đông là một vấn đề bao gồm các yếu tố phức tạp cả về địa chính trị, kinh tế, pháp lý, ngoại giao, trong đó có bốn yếu tố chính chi phối, định hình nên chính sách này gồm: 1/ Về quyền chủ quyền và lợi ích kinh tế, Malaysia luôn kiên quyết khẳng định một cách nhất quán và rõ ràng về việc bảo vệ quyền chủ quyền đối với các vùng biển và tài nguyên thiên nhiên trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của mình ở Biển Đông, bao gồm cả các mỏ dầu khí. Chính phủ Malaysia quyết tâm bảo vệ bằng được nguồn lợi ích thu được từ dầu khí vì đây là nguồn thu nhập quan trọng đối với nền kinh tế Malaysia. 2/ Về yếu tố tranh chấp trên Biển Đông, Malaysia là một trong những quốc gia có tuyên bố chủ quyền chồng lấn ở Biển Đông, trong đó có tranh chấp với Trung Quốc – nước có tham vọng chủ quyền gần hết Biển Đông, nhất là ở những khu vực có giàu tài nguyên, nên Kuala Lumpur cho rằng cần phải có chính sách phù hợp, tránh gây xung đột, gây ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia – dân tộc. 3/ Về luật pháp quốc tế, Malaysia ủng hộ việc giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông thông qua luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982). Malaysia cũng đã nhiều lần khẳng định, phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài Thường trực quốc tế về Luật Biển (PCA) là phán quyết cuối cùng và có tính ràng buộc pháp lý. 4/ Về nhu cầu thúc đẩy hòa bình và ổn định trên Biển Đông, là một quốc gia nằm trên Biển Đông, sự thịnh vượng về kinh tế của Malaysia phụ thuộc vào dòng chảy thương mại tự do trên biển thông qua eo biển Malacca và Biển Đông.

Thứ hai, về chủ trương chung và chính sách năng lượng dầu khí quốc gia, Malaysia chủ trương thực hiện chính sách đối ngoại trung lập và không liên kết, tìm cách duy trì quan hệ tốt đẹp với tất cả các quốc gia trong khu vực, xây dựng môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Những năm gần đây, Chính phủ Malaysia đã và đang tập trung vào các chính sách năng lượng dầu khí với các nội dung: 1/ Xem xét và điều chỉnh các chính sách liên quan đến ngành thiết bị và dịch vụ dầu khí (OGSE), để ngành này có thể vươn ra toàn cầu, phát triển bền vững, linh hoạt và khác biệt hơn. Việc điều chỉnh này nhằm thích ứng với xu hướng các nước trên thế giới giảm dần sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch. 2/ Đầu tư mạnh vào các hoạt động lọc dầu để đáp ứng nhu cầu về các sản phẩm dầu mỏ bằng nguồn cung trong nước. Tính đến năm 2022, ngành dầu khí Malaysia có công suất lọc dầu khoảng 955.000 thùng/ngày tại 7 cơ sở lọc dầu trải rộng trên khắp đất nước. Tuy nhiên, năng lực này đang giảm dần. 3/ Tập trung vào việc thúc đẩy sản xuất dầu khí trong nước và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG). Do nhu cầu về khí đốt tự nhiên ngày càng tăng trong khi khai thác trong nước không còn đủ để đáp ứng, nên Malaysia đang nỗ lực thúc đẩy đầu tư vào lĩnh vực dầu khí, đặc biệt là khí đốt.

Thứ ba, về hoạt động khai thác năng lượng dầu khí ở Biển Đông, những năm qua, Malaysia đã triển khai nhiều hoạt động dầu khí trên Biển Đông theo các quan điểm và phương hướng sau: 1/ Đối với chủ quyền và quyền khai thác, Malaysia kiên quyết bảo vệ chủ quyền và quyền khai thác tài nguyên dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa của mình ở Biển Đông. Khẳng định, sẽ tiếp tục các hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí trong vùng biển của mình, bất chấp sự phản đối từ các bên tranh chấp khác. Đối với Trung Quốc, do có tranh chấp chủ quyền giữa hai nước tại một số khu vực giàu tài nguyên ở Biển Đông, nên Chính phủ Malaysia tìm cách cân bằng giữa việc bảo vệ lợi ích quốc gia và duy trì quan hệ ổn định với Trung Quốc. 2/ Về hợp tác với bên ngoài, Malaysia chủ trương tìm kiếm sự hợp tác với các công ty dầu khí quốc tế để khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên dầu khí ở Biển Đông. Chính phủ Malaysia cũng sẵn sàng đàm phán với các bên liên quan để giải quyết các tranh chấp, bất đồng một cách hòa bình và hợp tác cùng phát triển. 3/ Về phát triển ngành công nghiệp dầu khí quốc gia, Chính phủ xác định Petronas – Công ty dầu khí quốc gia của Malaysia, là công ty đóng vai trò then chốt trong việc thực hiện chính sách khai thác dầu khí ở Biển Đông. Chính phủ Malaysia sẽ đầu tư vào việc phát triển cơ sở hạ tầng và công nghệ để hỗ trợ cho hoạt động khai thác dầu khí. 4/ Về đa dạng hóa các nguồn năng lượng, những năm qua, Malaysia đã có những bước chuyển mình trong việc đầu tư vào các nguồn năng lượng tái tạo, hướng tới các nguồn năng lượng thay thế khác, giảm dần sự phụ thuộc vào nguồn năng lượng dầu khí. 5/ Đối với các vấn đề đang có tranh chấp, chủ trương của Malaysia là tiếp tục tiến hành thăm dò, khai thác dầu khí trong vùng biển của mình; sẵn sàng đàm phán với Trung Quốc về khai thác nhiên liệu của nước này.

Thái độ và hành xử của Trung Quốc đối với hoạt động khai thác dầu khí của Malaysia ở Biển Đông

Hiện nay, Malaysia có một số mỏ dầu khí có trữ lượng lớn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lý của mình, nhưng lại bị Trung Quốc tuyên bố là chủ quyền của họ dựa trên “đường đứt khúc” phi lý. Đó là cụm bãi cạn Luconia, nằm ngoài khơi bang Sarawak, có trữ lượng dầu khí đáng kể; là mỏ Kasawari nằm trong lô SK316, ngoài khơi Sarawak, có trữ lượng ước tính khoảng 3 nghìn tỷ mét khối; mỏ Timi và mỏ Jerun, nằm ngoài khơi Sarawak.

Những năm gần đây, Trung Quốc tăng cường thực thi yêu sách phi lý ở Biển Đông trên mọi phương diện, từ chính trị – ngoại giao đến quốc phòng – an ninh, tuyên truyền, pháp lý… Trên thực địa, tàu thuyền Trung Quốc thường xuyên xâm nhập trái phép vào vùng biển thuộc chủ quyền của các nước ven Biển Đông như Philippines, Malaysia, Indonesia và Việt Nam, liên tục quấy nhiễu và cản trở hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí của các nước này. Riêng đối với Malaysia, theo số liệu của tổ chức “Sáng kiến minh bạch hàng hải châu Á”  (AMTI) cho biết, từ năm 2019 đến nay, Bắc Kinh liên tục cho các tàu, từ tàu hải cảnh, hải quân đến tàu cá, đi vào các vùng biển thuộc chủ quyền của Malaysia để quấy nhiễu hoạt động dầu khí trên Biển Đông của nước này.

Ngoài ra, Trung Quốc còn kết hợp với các biện pháp khác như, đưa ra các tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông dưới các “chiêu trò” khác nhau dựa trên yêu sách “đường đứt khúc”; gửi công hàm qua kênh ngoại giao yêu cầu Malaysia dừng các hoạt động; tăng cường hiện diện và gây sức ép về quân sự; sử dụng các hoạt động trong “chiến thuật vùng xám” để cản trở hoạt động của Malaysia.

Lựa chọn phản ứng và đối phó của Malaysia với Trung Quốc

Trước các hành động của Trung Quốc, Malaysia lựa chọn phương thức  “ngoại giao thầm lặng” để đối phó, nhưng “kiên quyết và nhất quán” về nguyên tắc trong bảo vệ chủ quyền và hoạt động năng lượng dầu khí ở Biển Đông. Theo đó, Kuala Lumpur hạn chế tối đa việc công khai các hành vi gây hấn của Bắc Kinh, cũng như các phản ứng trên thực địa và phản đối ngoại giao; chỉ chủ động công khai phản đối những sự vụ trên biển mà chính phủ nước này cho là “nghiêm trọng”, chưa có tiền lệ. Trong các phát biểu công khai trên các diễn đàn, Malaysia luôn khẳng định sẽ ưu tiên giải quyết vấn đề với Trung Quốc qua các kênh song phương. Đặc biệt, Malaysia không bao giờ phát biểu tán đồng với Mỹ hay có bất cứ động thái nào có thể hiểu là “chọn bên”, ngay cả khi các tuyên bố, hành động của Mỹ có vẻ như thể hiện ủng hộ lập trường của Malaysia. Bên cạnh đó, khi chỉ trích các động thái của tàu Trung Quốc, Malaysia thường nhắc đến tàu chiến nói chung, với hàm ý phản đối cả sự có mặt của tàu chiến Mỹ trong các vùng biển của Malaysia. Theo Kuala Lumpur, sự có mặt của tàu chiến của một bên nào đó ở vùng biển của họ, sẽ kéo theo tàu chiến của bên khác đến, sẽ làm gia tăng căng thẳng. Chính vì thế, Malaysia không ủng hộ các chiến dịch “Tự do hàng hải” (FONOPS) của Mỹ. Ngoài cách tiếp cận song phương trên, Malaysia cũng tranh thủ diễn đàn ASEAN để xử lý vấn đề Biển Đông một cách hòa bình, tôn trọng luật pháp quốc tế.

Mặc dù vậy, những khi buộc phải công khai phản đối các hành vi xâm phạm của Trung Quốc, các quan chức Malaysia luôn thể hiện lập trường, nguyên tắc nhất quán về việc kiên quyết bảo vệ các quyền và lợi ích quốc gia hợp pháp trên biển; coi việc duy trì các hoạt động dầu khí là “giới hạn đỏ” của mình trên Biển Đông; Chính phủ Malaysia cũng luôn thể hiện quan điểm rõ ràng trong tất cả các tuyên bố là, sẽ tiếp tục tiến hành thăm dò, khai thác dầu khí trong vùng biển của mình, kể cả tại những khu vực mà Trung Quốc có yêu sách.

Tuy nhiên, phương thức “ngoại giao thầm lặng” không hẳn là một giải pháp được nội bộ Malaysia đồng thuận hoàn toàn. Trong khi Bộ Ngoại giao kiên trì và nhất quán với cách tiếp cận này, thì Quân đội Malaysia, đặc biệt là Hải quân Hoàng gia Malaysia, lại muốn chính phủ có cách tiếp cận kiên quyết, có những tuyên bố mạnh mẽ hơn trong bảo vệ các quyền và lợi ích trên biển. Bên cạnh đó, các bang ở Đông Malaysia như Sabah và Sarawak, nơi có các hoạt động khai thác tài nguyên trên biển bị ảnh hưởng trực tiếp từ các động thái của Trung Quốc, cũng mong muốn chính quyền có những hành động mạnh mẽ hơn nhằm bảo vệ các hoạt động này. Nhiều học giả Malaysia cho rằng, phương cách “ngoại giao thầm lặng” của Malaysia có thể khiến quốc gia này bị dư luận hiểu là Kuala Lumpur đang “ủng hộ Trung Quốc”, cũng như làm cho nước này mất đi những sự lựa chọn trong việc đối phó với các động thái làm gia tăng căng thẳng của Trung Quốc. Trên thực tế, cách thức phản ứng của Malaysia đối với sự quấy nhiễu của Trung Quốc đã đạt được một số hiệu quả nhất định. Tuy nhiên, hiệu quả này chỉ mang tính tương đối do sự chi phối từ các yếu tố địa lý, cũng như các diễn biến trên thực địa. Theo đó: (i) Thực tế cho thấy, mặc dù phản đối Malaysia, nhưng từ trước đến nay, Trung Quốc chưa có hành động “cứng rắn” nào nhằm ngăn chặn các hoạt động dầu khí của Malaysia trên Biển Đông như đã từng làm với Việt Nam, Philippines. Bắc Kinh cũng chưa có động thái cắt cáp tàu thăm dò hay ngang nhiên hạ đặt giàn khoan như đã làm trong vùng biển của Việt Nam, hay ngăn chặn tàu Malaysia tiếp cận Luconia như đã làm với tàu Philippines tại khu vực Scarborough, khiến cho Malaysia phải “chùn bước”. (ii) Mặc dù trong nội bộ Trung Quốc có ý kiến cho rằng, trong số các bên tranh chấp với Trung Quốc trên Biển Đông thì Malaysia là bên “cướp” được nhiều tài nguyên dầu khí của Trung Quốc nhất, nhưng số đông khác lại cho rằng, ở một mức độ nào đó, Trung Quốc “hài lòng” với cách tiếp cận “ngoại giao thầm lặng” của Malaysia. Thậm chí, tờ Thời báo Hoàn Cầu của Trung Quốc còn “khuyên” Malaysia không nên từ bỏ cách tiếp cận này. (iii) Tuy Bắc Kinh nhiều lần gây sức ép để Malaysia “gác tranh chấp, cùng khai thác”, nhưng sức ép này chưa đến mức buộc Kuala Lumpur phải “cúi đầu” chấp nhận. Đến nay, Malaysia vẫn chưa có bất cứ động thái hoặc tuyên bố nào thể hiện sẽ chấp nhận hoặc xem xét cho Trung Quốc cùng khai thác trong vùng biển của mình. Điều này không những cho thấy sức ép của Trung Quốc chưa lớn, mà còn thể hiện lập trường rất kiên quyết của Malaysia là không công nhận yêu sách “đường đứt khúc” phi lý của Bắc Kinh. (iv) Malaysia và Indonesia là hai nước nằm ở cực Nam của Biển Đông, cách xa Trung Quốc. Vị trí địa lý này thuận lợi hơn so với Philippines và Việt Nam trong quản lý xung đột với Trung Quốc trên Biển Đông. Hơn nữa, diện tích chồng lấn giữa vùng biển của Malaysia với yêu sách “đường đứt khúc” của Trung Quốc cũng nhỏ hơn so với Philippines và Việt Nam nên mức độ xung đột ít hơn. Về mặt quân sự, Malaysia cũng lo ngại về việc Trung Quốc xây dựng các căn cứ quân sự ở Trường Sa. Tuy nhiên, do có ưu thế về vị trí địa lý, Malaysia cũng phần nào “tự tin” trong đối phó với Trung Quốc bằng sức mạnh của lực lượng không quân và hải quân nếu xung đột xảy ra. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến Bắc Kinh phải cân nhắc khi gây sức ép bằng quân sự với Malaysia trên Biển Đông.

]]>
Kế hoạch xây dựng căn cứ hải quân mới ở Biển Đông của Malaysia https://biendong.net/2024/12/02/ke-hoach-xay-dung-can-cu-hai-quan-moi-o-bien-dong-cua-malaysia/ Mon, 02 Dec 2024 03:44:15 +0000 https://biendong.net/?p=141813 Trong bối cảnh căng thẳng Biển Đông không ngừng leo thang, Trung Quốc đã mở rộng các hoạt động gây hấn, hung hăng xuồng phía Nam Biển Đông, xâm lấn vào vùng biển của Malaysia và Indonesia với việc nhiều lần tàu hải cảnh Trung Quốc quấy nhiễu, cản trở các hoạt động dầu khí của Malaysia ở Biển Đông, chính quyền Kuala Lumpur một mặt tiếp tục cố gắng giữ “hoà khí” với Bắc Kinh, mặt khác tăng cường tiềm lực quốc phòng, trong đó có việc xây dựng thêm một căn cứ hải quân mới tại Bintulu nhằm bảo vệ các quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình ở Biển Đông.

Các chuyên gia cho rằng căn cứ hải quân mới này sẽ đóng vai trò quan trọng đối với Kuala Lumpur trong việc giải quyết các mối đe dọa ngày càng tăng ở các khu vực tranh chấp trên Biển Đông bất chấp những thách thức đến từ sự lạc hậu, cũ kỹ của hạm đội nước này.

Sau một thập kỷ im ắng, những lời kêu gọi xây dựng căn cứ hải quân mới tại một thị trấn buồn tẻ ở Sarawak đã trở nên sôi động trong thời gian gần đây, khi Malaysia có khả năng sẽ thể hiện lập trường quyết đoán hơn để đối phó với sức ép của Trung Quốc tại các khu vực giàu tài nguyên gần bang Borneo. Tuy nhiên, khi xây dựng căn cứ hải quân mới nhất của Malaysia tại Bintulu, gần vùng biển tranh chấp ở Biển Đông, các nhà phân tích tin rằng điều này vẫn sẽ không dẫn đến đối đầu giữa Malaysia và Trung Quốc.

Giới phân tích cho rằng, Malaysia khó có thể áp dụng các phản ứng hung hăng hơn đối với các cuộc xâm nhập của tàu thuyền Trung Quốc, vì mục tiêu bao trùm của nước này là duy trì cách tiếp cận kín đáo đối với các yêu sách lãnh thổ trên biển và bảo vệ mối quan hệ kinh tế “béo bở” với Bắc Kinh. Trung Quốc – nước hiện đang vướng vào các cuộc xung đột với Philippines trên cùng một tuyến đường biển chiến lược xa hơn về phía Bắc – cũng sẽ muốn duy trì quan hệ ổn định với Malaysia, với hy vọng sẽ khiến Manila xa lánh các quốc gia Đông Nam Á khác có yêu sách và không ngả theo Mỹ và phương Tây.

Tiến sĩ Collin Koh – thành viên cấp cao tại Trường Nghiên cứu Quốc tế S Rajaratnam của Singaporqe – đánh giá rằng căn cứ hải quân Sarawak sẽ không làm thay đổi mối quan hệ Trung Quốc-Malaysia miễn là Chính phủ Malaysia tiếp tục duy trì cách tiếp cận “không thổi bùng vấn đề” đối với tranh chấp Biển Đông. Ông Collin Koh nói: “Căn cứ hải quân và khả năng tăng cường sự hiện diện của lực lượng hải quân Malaysia trong khu vực có thể gây phiền toái cho Bắc Kinh, nhưng chỉ có vậy thôi. Cuối cùng, chính thái độ chính trị ở Kuala Lumpur, chứ không phải những gì đang diễn ra trên thực địa với sự gia tăng lực lượng hải quân của Malaysia ở Borneo, dường như là yếu tố quyết định chính trong mối quan hệ tổng thể với Bắc Kinh”.

Bộ Tư lệnh Hải quân Vùng 4 tại Bintulu sẽ là căn cứ hải quân chính thứ 6 của Malaysia. Nước này có 3 căn cứ ở Tây Malaysia và 2 căn cứ khác ở Sabah. Chính phủ Malaysia cho biết căn cứ mới nhất sẽ cải thiện các nỗ lực giám sát tại Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của nước này ở Biển Đông bằng cách cho phép hải quân điều tàu đến đó nhanh hơn. Căn cứ này sẽ được xây dựng trên một khu đất rộng 200 hécta ở Samalaju, phía Bắc, được thực hiện theo 2 giai đoạn và dự kiến hoàn thành vào năm 2030.

Theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS), một quốc gia có quyền thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên trong EEZ của mình, được định nghĩa là vùng biển trải dài tới 200 hải lý (370km) ngay ngoài khơi. EEZ của Malaysia bao gồm các khu vực có nhiều dầu khí mà nước này cho biết đóng góp gần 25% vào Tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Trong đó có Bãi cạn Luconia hay còn gọi là Beting Patinggi Ali và Beting Raja Jarum, một nhóm các rạn san hô chủ yếu là chìm nằm giữa các điểm khai thác dầu khí khác nhau của Malaysia cách bờ biển Sarawak 155km.

Trung Quốc – quốc gia tuyên bố chủ quyền đối với hầu hết Biển Đông trong cái gọi là “Đường 9 đoạn” của mình – thường xuyên phản đối các hoạt động của Malaysia tại Bãi cạn Luconia và liên tục hiện diện tại đây. Các tàu hải cảnh Trung Quốc được cho là đã quấy rối các giàn khoan và tàu khảo sát của Malaysia. Một báo cáo do “Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á” (AMTI) có trụ sở tại Washington công bố vào ngày 01/10/2024 đã trích dẫn dữ liệu theo dõi cho thấy, từ đầu năm 2024 đến nay, các tàu hải cảnh Trung Quốc hoạt động thường xuyên trong EEZ của Malaysia. Từ ngày 01/01 đến ngày 27/9/2024, AMTI phát hiện ra rằng có ít nhất một tàu hải cảnh Trung Quốc ở khu vực này gần như mỗi ngày, ở lại đó tới 6 tuần trước khi được một tàu khác thay thế. Vào ngày 29/8/2024, một hãng tin của Philippines đã công bố một công hàm ngoại giao của Trung Quốc được gửi vào tháng 02/2024 tới Đại sứ quán Malaysia tại Bắc Kinh, trong đó yêu cầu Malaysia ngừng mọi hoạt động tại khu vực giàu tài nguyên này. Malaysia đã phản đối bằng cách tuyên bố rằng họ sẽ tiếp tục bảo vệ quyền chủ quyền của mình tại vùng biển này.

Theo giới chuyên gia, bất chấp những lợi ích to lớn, Malaysia sẽ cảnh giác rằng việc tiếp tục leo thang từ phía mình sẽ có nguy cơ phải đối mặt với phản ứng gay gắt hơn từ lực lượng hải quân vượt trội hơn nhiều của Trung Quốc, phản ánh tình hình mà Philippines hiện đang gặp phải. Tiến sĩ Koh cho rằng: “Nếu Malaysia làm điều tương tự (như Philippines), chúng ta có thể mong đợi Trung Quốc sẽ leo thang các động thái chống lại lợi ích của nước này ở Biển Đông”.

Malaysia phần lớn đã hạ thấp mức độ nghiêm trọng của các cuộc xâm nhập của Trung Quốc vào EEZ của nước này và giữ nguyên cách tiếp cận lâu nay, không đối đầu ở Biển Đông, thích chuyển sang các kênh ngoại giao và từ chối để căng thẳng ảnh hưởng đến mối quan hệ song phương với Trung Quốc. Nhưng trong những tháng gần đây, các chính trị gia cấp cao ở Sarawak đã công khai thúc giục chính quyền liên bang tăng cường sự hiện diện của hải quân tại bang này, cảnh báo về hành động của Trung Quốc và hậu quả nghiêm trọng khi để mất một khu vực kinh tế quan trọng như vậy vào tay một thế lực nước ngoài.

Cùng ngày tin tức về công hàm ngoại giao của Trung Quốc được công bố lần đầu tiên 29/8, ông Abdul Karim Rahman Hamzah – Bộ trưởng Du lịch, Công nghiệp Sáng tạo và Nghệ thuật Biểu diễn của Sarawak – đã kêu gọi đẩy nhanh việc xây dựng căn cứ hải quân. Ông nói: “Gần đây, Trung Quốc đã trở nên mạnh hơn và sở hữu một hạm đội hải quân hùng mạnh, khiến họ ngày càng to tiếng và hung hăng trong việc mở rộng ranh giới hàng hải của mình bằng cách phô trương tài sản hàng hải tại vùng biển đó. Sự giàu có của Malaysia về dầu khí cũng nằm ở đó. Điều gì sẽ xảy ra nếu chủ quyền của khu vực đó bị xói mòn do sự mở rộng ranh giới hàng hải của một siêu cường?”.

Bộ trưởng Quốc phòng Malaysia Khaled Nordin đã trả lời truyền thông địa phương hồi tháng 8/2024 rằng chính quyền liên bang đang trong giai đoạn đàm phán cuối cùng với Sarawak về giá đất cho căn cứ hải quân, dự kiến việc xây dựng sẽ bắt đầu sau khi đạt được thỏa thuận. Không có mốc thời gian hoàn thành nào được đưa ra. Kế hoạch xây dựng căn cứ hải quân Bintulu, căn cứ đầu tiên của Sarawak, lần đầu tiên được xác nhận vào năm 2013 nhưng chỉ được triển khai vào năm 2023 sau khi tìm thấy một địa điểm phù hợp tại Khu công nghiệp Samalaju.

Trước đây, người ta cho rằng vùng biển Sarawak quá nông để có thể xây dựng căn cứ hải quân. Trong khi đó, Malaysia đã dựa vào các tàu hải quân đồn trú tại một căn cứ xa hơn ở Sabah để tuần tra EEZ của mình. Sabah có 2 căn cứ chính: Một ở Teluk Sepanggar gần Kota Kinabalu và một ở Sandakan. Tháng 9/2023, Bộ trưởng Quốc phòng khi đó là Mohamad Hasan đã phát biểu trước Quốc hội rằng các tàu từ căn cứ Teluk Sepanggar gần nhất sẽ mất 19 giờ để đến Beting Patinggi Ali, so với 9 giờ từ Bintulu với cùng tốc độ 12 hải lý/giờ (22km/h).

Căn cứ hải quân ở Bintulu có vị trí chiến lược khi chỉ cách Bãi cạn Luconia 148. Thomas Daniel, chuyên gia an ninh và chính sách đối ngoại từ Viện nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (ISIS) của Malaysia, căn cứ mới ở Bintulu sẽ rất quan trọng trong việc tăng cường năng lực hải quân của Malaysia. Ông nói: “Việc có các căn cứ hải quân tối ưu hơn sẽ giúp giảm thời gian phản hồi tới các vùng biển trọng điểm. Đây là điều quan trọng cả về hoạt động và chính sách đối với Malaysia”.

Một chuyên gia cảnh báo rằng do Sabah và Sarawak có hàng nghìn km bờ biển, việc thiếu căn cứ hải quân sẽ dẫn đến khả năng tiếp cận và thời gian phản ứng kém hiệu quả trong thời gian khủng hoảng, khiến Malaysia phải đối mặt với các mối đe dọa bên ngoài. Tiến sĩ Tharishini Krishnan – Giảng viên cao cấp tại Đại học Quốc gia Pertahanan Malaysia – đã viết trong một bài bình luận được tờ “New Straits Times” công bố năm 2021 rằng: “Việc thiết lập một căn cứ ở Sarawak sẽ hỗ trợ tích cực cho việc giám sát khu vực này. Hơn nữa, sự tồn tại thực tế của căn cứ hải quân Bintulu sẽ ngăn cản nỗ lực liên tục tìm cách thay đổi nguyên trạng của Trung Quốc tại đó”.

Về vấn đề này, Tiến sĩ Koh nhấn mạnh rằng cả hải quân và lực lượng bảo vệ bờ biển Malaysia đều không được trang bị tốt cho các cuộc tuần tra EEZ, đòi hỏi các tàu phải dành nhiều thời gian ngoài biển. Ông cho biết, hạm đội của hải quân Malaysia đang “già” đi với các thiết bị cần thay thế, trong khi lực lượng bảo vệ bờ biển chủ yếu vận hành các tàu phù hợp hơn cho hoạt động tuần tra ven biển thay vì vùng biển mở của EEZ. Và trong khi căn cứ hải quân Sarawak sẽ là nơi đóng quân của các tàu tuần tra ven biển mới của Malaysia hiện đang được đóng và sẽ phù hợp hơn cho các nhiệm vụ EEZ, Tiến sĩ Koh cho biết sẽ mất 3-4 năm nữa trước khi chúng đi vào hoạt động. Tiến sĩ Koh nói thêm: “Bất chấp căn cứ Bintulu mới, điều quan trọng hơn là các tài sản vật chất có sẵn mà Malaysia có thể khai thác để bảo vệ các lợi ích của mình ở Biển Đông và đó sẽ phải là các tàu có khả năng hoạt động ngoài khơi tốt hơn được hỗ trợ bởi những công cụ nhận thức về lĩnh vực an ninh hàng hải. Tùy thuộc vào tình trạng sẵn có của tài sản, Malaysia có thể triển khai ít nhất một tàu đến EEZ tại bất kỳ thời điểm nào để chứng minh rằng họ sẽ không nhượng bộ trước các yêu sách bất hợp pháp của Bắc Kinh”.

Tiến sĩ Ian Storey – chuyên gia an ninh hàng hải tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á ở Singapore (Viện ISEAS – Yusof Ishak) – nói rằng căn cứ mới sẽ củng cố “chính sách kép” của Malaysia về tranh chấp Biển Đông. Ông cho biết căn cứ này sẽ giúp hải quân “duy trì sự hiện diện liên tục” tại các mỏ dầu khí ngoài khơi Sarawak trong khi Malaysia hạ thấp căng thẳng với Trung Quốc để bảo vệ mối quan hệ kinh tế của họ. Ông dự đoán “căn cứ mới sẽ không tác động tiêu cực đến quan hệ song phương vì cả hải quân và lực lượng bảo vệ bờ biển sẽ duy trì cách tiếp cận không đối đầu với các tàu Trung Quốc trong EEZ của Malaysia”.

Ngày 02/10/2024, Đô đốc Zulhelmy Ithnain – Tư lệnh Hải quân Hoàng gia Malaysia – khẳng định hải quân vẫn duy trì sự hiện diện tại các khu vực tranh chấp nhưng sẽ “tránh các hành động gây hấn”. Tờ “Daily Express” dẫn lời phát biểu của ông Zulhelmy Ithnain tại một hội nghị về tàu ngầm: “Chiến lược chính của chúng tôi là xoa dịu tình hình thông qua ngoại giao. Các phương tiện quân sự chỉ được sử dụng nếu ngoại giao thất bại, điều mà chúng tôi tin là sẽ không xảy ra”.

Theo báo cáo của AMTI, sự hiện diện liên tục của Trung Quốc tại Bãi cạn Luconia không thể sánh bằng quy mô hoạt động của nước này ở xa hơn về phía Bắc tại quần đảo Trường Sa đang tranh chấp, nơi Bắc Kinh đã triển khai hàng chục tàu hải cảnh và hàng trăm tàu dân quân biển để phản đối các hoạt động của Philippines tại đó. Trong một dấu hiệu căng thẳng leo thang, Manila hồi tháng 9 đã cáo buộc một tàu hải cảnh Trung Quốc cố tình đâm vào một tàu của Philippines gần Bãi cạn Sa Bin ở quần đảo Trường Sa. Lực lượng hải cảnh Trung Quốc cũng đã bị cáo buộc sử dụng các kỹ thuật “vùng xám” như vòi rồng và tia laser cường độ cao chống lại các tàu của Philippines. Theo Tiến sĩ Storey, Trung Quốc “đang rất bận rộn” khi cố gắng chống lại sự hiện diện của Philippines tại khu vực tranh chấp và hiện không muốn “gây chiến” với bất kỳ quốc gia Đông Nam Á nào khác có yêu sách tại đây. Ông nói: “Malaysia và Trung Quốc có mối quan hệ hữu nghị và không bên nào muốn tranh chấp Biển Đông làm tổn hại đến quan hệ song phương, như đã từng xảy ra với Philippines”.

]]>
Phải chăng Malaysia thay đổi cách tiếp cận theo hướng cứng rắn hơn trên vấn đề Biển Đông? https://biendong.net/2024/10/04/phai-chang-malaysia-thay-doi-cach-tiep-can-theo-huong-cung-ran-hon-tren-van-de-bien-dong/ Fri, 04 Oct 2024 01:43:00 +0000 https://biendong.net/?p=140147 Malaysia tuyên bố chủ quyền một phần Biển Đông về hướng bắc của Borneo, trong đó bao gồm ít nhất là 12 thực thể thuộc quần đảo Trường Sa, kể cả Đảo An Bang và Bãi Thuyền Chài mà Việt Nam đang chiếm đóng hay Đá Công Đo hiện do Philippines chiếm đóng. Trong số các bãi cạn lúc chìm lúc nổi mà Malaysia nhận chủ quyền, chỉ có ba bãi chìm hoàn toàn nằm trên thềm lục địa của họ.

Thủ tướng Malaysia Anwar Ibrahim

Hiện Malaysia đang khiểm soát 5 thực thể gồm: Đá Hoa Lau, Đá Kỳ Vân, Bãi Kiêu Ngựa, Đá Én Ca, và Bãi Thám Hiểm. Malaysia duy trì một đường băng cho các máy bay C-130 trên Đá Hoa Lau và sự hiện diện quân sự trên 4 thực thể còn lại. Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ, Malaysia có trữ lượng 5 tỷ thùng dầu thô và khí thiên nhiên lỏng, 2265 tỷ mét khối khí tự nhiên dưới đáy biển. Đây là số ước tính khả dĩ đã được chứng minh cao nhất trong các nước có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông.

Mặc dù là một bên trong tranh chấp Biển Đông, song Malaysia duy trì một thái độ nhún nhường trước Bắc Kinh trên vấn đề Biển Đông, còn được giới chuyên gia gọi là “thái độ bang quang”. Lâu nay, Malaysia thường giữ im lặng trước những hành động hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông, kể cả khi tàu hải cảnh Trung Quốc quấy nhiễu ngăn cản các hoạt động dầu khí của Malaysia trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ), thềm lục địa của nước này, chính quyền Malaysia đều không đưa tin công khai mà âm thầm chống đỡ lại sức ép và sự quấy phá từ Trung Quốc.

Trong khi Philippines phải hứng chịu nhiều hành động gây hấn hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông thì Malaysia tỏ một thái độ bàng quang, thậm chí ngăn việc chỉ trích đích danh Trung Quốc. Tham dự Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN-Úc  hồi đầu tháng 3/2024, Thủ tướng Malaysia Anwar Ibrahim đã liên tục đưa ra quan điểm ôn hòa đối với Trung Quốc, thậm chí có ý bênh vực Trung Quốc.

Phát biểu hôm 07/3/2024 khi tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN-Úc tại Canberra Thủ tướng Malaysia Anwar Ibrahim cho rằng những nỗ lực ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc sẽ chỉ chọc tức thêm đất nước này và gieo rắc sự bất hòa trong khu vực. Khi phát biểu tại Đại học Quốc gia Úc ở Canberra, ông nói rằng các nước cần đặt mình vào vị trí của Trung Quốc và nhìn nhận rằng cách các nhà lãnh đạo nước này xem việc xây dựng quân đội và ảnh hưởng ngoại giao ngày càng tăng là kết quả tự nhiên của sức mạnh kinh tế và công nghệ.

Ông Anwar nói: “Trong mắt Trung Quốc, những hành động bất lợi đối với sự trỗi dậy của họ, về mặt quân sự, kinh tế và công nghệ, không gì khác hơn là một nỗ lực nhằm phủ nhận vị trí hợp pháp của họ trong lịch sử”. “Những trở ngại đặt ra đối với sự tiến bộ kinh tế và công nghệ của Trung Quốc sẽ chỉ làm tăng thêm những bất bình như vậy.”

Tuy nhiên, trong cuộc họp báo ngày 05/9/2024 tại Vladivostok khi đang thăm Nga, Thủ tướng Malaysia Anwar Ibrahim tuyên bố các hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí của Malaysia nằm trong lãnh thổ của nước này và không nhằm mục đích khiêu khích hoặc thù địch với Trung Quốc, trong lúc hai nước có quan hệ hữu nghị. Ông Anwar nhấn mạnh: “Dĩ nhiên chúng tôi sẽ phải hoạt động trong vùng biển của mình và đảm bảo lợi ích kinh tế, gồm cả việc khoan dầu, trên lãnh thổ của chúng tôi”. Nhà lãnh đạo Malaysia cho biết thêm: “Chúng tôi chưa bao giờ phủ nhận khả năng thảo luận (với Trung Quốc). Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng tôi phải dừng hoạt động trong khu vực của mình”.

Thủ tướng Malaysia phải lên tiếng khẳng định về quyết tâm triển khai các hoạt động dầu khí ở Biển Đông bởi vụ việc rò rỉ công hàm ngoại giao mật giữa Trung Quốc và Malaysia liên quan tới Biển Đông do phia Trung Quốc tung ra. Một ngày trước đó, hôm 04/9 Bộ Ngoại giao Malaysia tuyên bố lập báo cáo cảnh sát và tiến hành điều tra nội bộ về vụ rò rỉ công hàm ngoại giao mật của Bộ ngoại giao Trung Quốc gửi cho đại sứ quán Malaysia tại Bắc Kinh.

Công hàm này được truyền thông Philippines đăng tải.Theo tuyên bố của Bộ Ngoại giao Malaysia, tờ báo Philippines The Inquirer ngày 29/8/2024 đưa tin rằng Trung Quốc đã gửi một tài liệu dài hai trang đến đại sứ quán Malaysia tại Bắc Kinh vào tháng 2, khẳng định rằng hoạt động thăm dò dầu khí của Kuala Lumpur ở Biển Đông đã xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc. Bộ ngoại giao Malaysia nhấn mạnh “coi việc rò rỉ tài liệu, vốn là kênh liên lạc chính thức giữa hai nước, là mối quan ngại sâu sắc”.

Trong tuyên bố hôm 4/9, Malaysia khẳng định sẽ tiếp tục bảo vệ chủ quyền và quyền chủ quyền của mình tại Biển Đông, giải quyết tranh chấp một cách hòa bình và hợp tác với tất cả các quốc gia liên quan, bao gồm cả Trung Quốc – quốc gia được cho là có mối quan hệ song phương chặt chẽ và tích cực với Malaysia. Tuyên bố nhấn mạnh: “Về Biển Đông, cả hai nước đều bày tỏ cam kết và quyết tâm giải quyết mọi vấn đề một cách hòa bình thông qua tham vấn và đối thoại bằng các nền tảng và kênh ngoại giao hiện có, mà không cần dùng đến tranh chấp hoặc bạo lực”

Petronas, công ty dầu khí quốc gia Malaysia, vận hành các mỏ dầu khí trong EEZ của Malaysia, nhưng trong những năm gần đây đã có một số cuộc chạm trán với tàu Trung Quốc. Năm 2023, Tổ chức Sáng kiến minh bạch hàng hải châu Á (AMTI) cho biết tàu hải cảnh Trung Quốc đã hoạt động gần khu vực phát triển khí đốt Kasawari của Petronas, và có thời điểm đến gần khu vực triển khai dự án với khoảng cách 2,4km. Malaysia không công khai vụ việc nhưng cử tàu hải quân Malaysia khu vực đó để bảo vệ các hoạt động dầu khí của mình.

Thủ tướng Malaysia Anwar Ibrahim cho biết Trung Quốc đã gửi “một hoặc hai” công hàm để phản đối các hoạt động thăm dò dầu khí của Malaysia. Ông Anwar Ibrahim giải thích: “Họ (Trung Quốc) vốn biết rõ lập trường của chúng tôi (Malaysia). Họ nói rằng chúng tôi đang xâm phạm lãnh thổ của họ. Nhưng không phải vậy. Chúng tôi nói không phải như thế, đó là lãnh thổ của chúng tôi”. Mặt khác, ông Anwar Ibrahim nhấn mạnh Chính phủ Malaysia sẽ tiếp tục giải thích với Bắc Kinh về lập trường của mình. Nhà lãnh đạo Malaysia nói thêm: “Chúng tôi đã nói rằng chúng tôi sẽ không vượt qua ranh giới của bên khác. Đó là chính sách và nguyên tắc nghiêm ngặt của chúng tôi.

Giới phân tích đánh giá việc Bắc Kinh chủ động cho rò rỉ các thông tin liên quan đến trao đổi mật với Malaysia thông qua hãng truyền thông của Philippines nhằm nhiều mục tiêu như: (i) chia rẽ các nước ven Biển Đông với nhau, tạo sự hoài nghi, ngờ vực lẫn nhau, trước hết là giữa Philippines với Malaysia; (ii) đánh vào nội bộ của cả Malaysia lẫn Philippines.

Đây không phải là lần đầu tiên Trung Quốc đưa ra các thông tin thoả thuận nội bộ bí mật với những nước láng giềng ven Biển Đông liên quan tới vấn đề Biển Đông. Đầu năm 2024 này khi mà căng thẳng giữa Bắc Kinh và Manila xung quanh khu vực Bãi Cỏ Mây lên cao, Trung Quốc đã từng đưa ra cái gọi là “thoả thuận với cựu Tổng thống Philippines Duterte” nhằm gây sức ép với Philippines. Việc làm này của Trung Quốc đã nhận được đáp trả mạnh mẽ của chính quyền Tổng thống Marcos. Manila bác bỏ những nội dung mà phía Trung Quốc đưa ra và nhấn mạnh  cái gọi là “thoả thuận” giữa ông Duterte với Bắc Kinh không có bất kỳ ràng buộc gì đối với chính quyền đương nhiệm, đồng thời khẳng định quyết tâm của Manila trong việc bảo vệ quyền chủ quyền, quyền tài phán và các lợi ích trên biển của Philippines.

Việc Bắc Kinh cho rò rỉ những thông tin về nội dung công hàm mật với Malaysia chủ yếu nêu ý kiến đơn phương của phía Trung Quốc và không có bất kỳ điều gì được coi là ràng buộc với Kuala Lumpur, song nó thể hiện sự thiếu nghiêm túc và tính 2 mặt của nhà cầm quyền Bắc Kinh. Động thái này của Bắc Kinh giúp cho chính quyền của Thủ tướng Anwar Ibrahim rút ra một bài học rằng không nên có bất kỳ điều gì bí mật trao đổi với Bắc Kinh, nhất là liên quan tới vấn đề chủ quyền lãnh thổ, vùng biển và cần có sự công khai minh bạch trong các trao đổi với Trung Quốc về vấn đề trên biển.

Giơi quan sát nhận định Bắc Kinh sẵn sàng đưa ra công khai những nội dung nội bộ, bí mật với các nước khi mà những thoả thuận đó không còn có lợi cho Bắc Kinh. Mặt khác, Trung Quốc thường xuyên không thực hiện những cam kết công khai thì đối với những thoả thuận bí mật họ lại càng dễ dàng để nuốt lời hơn. Việc Bộ Ngoại giao Malaysia tuyên bố điều tra việc rò rỉ thông tin về công hàm mật của Bắc Kinh và Thủ tướng Anwar Ibrahim nhanh chóng phát biểu công khai để bác bỏ những ý kiến của Bắc Kinh và khẳng định quyền hợp pháp của Malaysia trong khai thác nguồn năng lượng trong vùng đặc quyền kinh tế của mình cho thấy Kuala Lumpur đã nhận thức rõ về bản chất lèo lá của giới cầm quyền ở Bắc Kinh.

Qua vụ việc rò rỉ công hàm mật của Bắc Kinh, giới chuyên gia cho rằng Malaysia đã “nếm mùi” bắt nạt của Trung Quốc ở Biển Đông. Nhiều chuyên gia của Malaysia cũng có những bài viết vạch trần chiêu trò lắt léo của Bắc Kinh trên vấn đề Biển Đông và yêu cầu chính phủ của Thủ tướng Anwar Ibrahim công khai minh bạch trong việc trao đổi với Bắc Kinh về vấn đề Biển Đông. Rõ ràng cách làm này của Trung Quốc càng làm mất đi lòng tin của các nước láng giềng ven Biển Đông.

Yêu sách về “đường chín đoạn” của Trung Quốc chiếm tới 90% diện tích Biển Đông, lấn sâu vào vùng biển hợp pháp được xác định theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) của các nước Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Indonesia. năm 2016, Tòa Trọng tài thường trực được thành lập theo Phụ lục VII UNCLOS đã ra phán quyết, bác bỏ cái gọi là “đường chín đoạn” của Trung Quốc và khẳng định yêu sách này là hoàn toàn không có cơ sở pháp lý. Trong công hàm được tiết lộ, Trung Quốc nói rằng hoạt động thăm dò dầu khí của Malaysia ở Biển Đông đã xâm phạm lãnh thổ của họ là hoàn toàn phi lý.

Với phát biểu công khai của Thủ tướng Malaysia Anwar Ibrahim hôm 05/9 và nội dung công hàm ngày 04/9 của Bộ Ngoại giao Malaysia, một số nhà quan sát cho rằng Kuala Lumpur đã phá vỡ “ngoại giao im lặng” trên vấn đề Biển Đông. Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu lại cho rằng còn quá sớm để nói rằng chính quyền của Thủ tướng Anwar Ibrahim chuyển sang chính sách cứng rắn trên vấn đề Biển Đông mà họ sẽ tiếp tục một chính sách ôn hoà, thực dụng trên hồ sơ Biển Đông bởi Kuala Lumpur không muốn làm căng với Bắc Kinh mà ảnh hưởng tới quan hệ kinh tế mật thiết giữa nước này với Trung Quốc.

Ngay cả trong phát biểu của ông Anwar Ibrahim hôm 05/9 lời lẽ rất nhẹ nhàng. Mặc dù khẳng định quyền khai thác trong vùng biển của mình theo UNCLOS, song ông Anwar Ibrahim vẫn bày tỏ: “Nhưng nếu họ (Trung Quốc) tiếp tục tranh chấp, thì được thôi, chúng tôi sẽ phải lắng nghe, và họ sẽ phải lắng nghe” và cho biết chính phủ Malaysia sẽ tiếp tục giải thích với Bắc Kinh về lập trường của mình. Malaysia, dưới thời Thủ tướng Anwar Ibrahim, đã đưa ra lập trường ôn hòa theo truyền thống đối với Trung Quốc, bao gồm cả vấn đề Biển Đông, bất chấp căng thẳng ngày càng gia tăng giữa Trung Quốc và Philippines, gây ra lo ngại về sự leo thang nguy hiểm. Năm 2023, khi Bắc Kinh bày tỏ lo ngại về các hoạt động năng lượng của công ty nhà nước Malaysia Petronas, chính quyền của Thủ tướng Anwar đã đáp lại bằng việc chuẩn bị sẵn sàng đàm phán với Trung Quốc. Điều đó cho thấy Kuala Lumpur khó có thể thay đổi được cách tiếp cận theo hướng cứng rắn hơn với Bắc Kinh trên với đề Biển Đông trong một sớm, một chiều.

]]>
Cách thức Malaysia và Indonesia đối phó với TQ xâm phạm chủ quyền của họ ở Biển Đông https://biendong.net/2023/07/12/cach-thuc-malaysia-va-indonesia-doi-pho-voi-tq-xam-pham-chu-quyen-cua-ho-o-bien-dong/ Wed, 12 Jul 2023 01:38:17 +0000 https://biendong.net/?p=109828 Theo dõi tình hình Biển Đông và an ninh khu vực Biển Đông trong 5 năm gần đây, có thể nhận thấy các hoạt động và hành động của lực lượng Trung Quốc bao gồm Hải quân, Hải cảnh, Hải giám, dân binh và ngư dân thường xuyên gây ra những phức tạp và sự vụ căng thẳng trên biển, khiến cho bất kỳ quốc gia nào trong khu vực Biển Đông cũng gần như không thể thuận lợi tiến hành việc thăm dò dầu khí trong vùng biển thuộc chủ quyền của mình.

Bởi hầu như mọi dự án mới về thăm dò, khai thác dầu khí của các nước trên nếu không nằm trong phạm vi “đường chín đoạn” vô lý do Trung Quốc tuyên bố thì cũng ở giáp ranh, thậm chí ở hẳn bên ngoài “đường chín đoạn”, nhưng cũng đều ngay lập tức bị thách thức bởi lực lượng nêu trên của Trung Quốc, dù đó là Malaysia, Việt Nam, Philippines hay là Indonesia. Điều này làm cho Biển Đông luôn là “điểm nóng” của an ninh khu vực và việc khoan thăm dò dầu khí ở Biển Đông của các nước nói trên ngày càng trở nên nguy hiểm, rủi ro và tốn kém nếu như các nước này không có sự tính toán kỹ lưỡng và kiềm chế tránh để xảy ra xung đột. Nhưng như vậy không có nghĩa là các nước phải “bó tay” trước những hành động xâm nhập trái phép của Trung Quốc. Hãy xem cách thức hai nước Malaysia và Indonesia đối phó ra sao. 

CMalaysia và Indonesia đều áp dụng chiến thuật giám sát chặt trên thực địa để đối phó với những hoạt động xâm nhập trái phép của Trung Quốc vào các vùng biển thuộc chủ quyền của hai nước trên Biển Đông

Mấy năm gần đây, cả Malaysia và Indonesia đã phải đối mặt với không ít cuộc xâm nhập liên tục, trái phép của lực lượng tàu Hải cảnh (CCG), tàu dân binh và tàu ngư dân Trung Quốc vào các khu vực biển thuộc chủ quyền của họ theo Công ước quốc tế về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982), bao gồm vùng biển ngoài khơi bang Sabah và bang Sarawak của Malaysia và vùng biển phía bắc quần đảo Natuna thuộc Indonesia. Đây là hai khu vực bị Bắc Kinh khoanh vào nằm trong phạm vi “đường chín đoạn” phi lý được họ tuyên bố công khai trên thế giới từ năm 2009 để xác định một vùng có quyền tài phán chiếm hơn 80% diện tích trên Biển Đông, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền các nước trong khu vực này.

Đáng chú ý là, từ khi Malaysia phát hiện ra các mỏ dầu có trữ lượng lớn ở Kawasari (năm 2011) nằm ở khu vực giữa bãi Luconia, ngoài khơi bờ biển bang Sarawak của nước này và Indonesia phát hiện ra trữ lượng lớn dầu khí ở lô Cá Ngừ nằm về phía Bắc quần đảo Natuna, thì ngay lập tức, phía Trung Quốc đã yêu cầu cả Malaysia và Indonesia ngừng thăm dò và khai thác dầu tại các vùng biển trên vì Bắc Kinh cho là “đang có tranh chấp chủ quyền”. Đi đôi với đó là các hành động xâm nhập trái phép hòng đe dọa của lực lượng CCG và tàu cá dân binh, tàu ngư dân Trung Quốc tại các vùng biển trên ngày càng được gia tăng và thúc đẩy.

Để đối phó với các vụ xâm nhập từ lực lượng CCG của Trung Quốc, Hải quân Hoàng gia Malaysia (RMN) và Hải quân Indonesia (TNI-AL) đã sử dụng chiến thuật giám sát chặt trên thực địa theo dõi các tàu CCG khi các tàu này đi vào vùng biển của họ, thay vì đối đầu quyết liệt và buộc các tàu này phải rời đi. Cách làm này cho thấy cả Kuala Lumpur và Jakarta đều có sự tính toán đến những rủi ro liên quan đến sự “quyết đoán” của Bắc Kinh ở Biển Đông.

Theo đó, các tàu của Malaysia và Indonesa thực hiện giám sát chặt trên thực địa đối với các tàu CCG của Trung Quốc theo cách như những cặp đôi vũ công nhảy điệu waltz: Khi các tàu CCG của Trung Quốc tiến về phía trước thì tàu của RMN và TNI-AL sẽ lùi lại, và ngược lại khi tàu của CCG lùi lại, thì tàu của hai lực lượng kia sẽ tiến lên. Cứ thế, tàu của mỗi bên cứ bám đuổi nhau dài dài trên biển mà không để xảy ra va chạm. Chiến thuật của cuộc chơi này dẫn tới một hiện trạng mà như một quan chức cấp cao của Bộ Quốc phòng Indonesia gần đây đã nhận xét là, với việc cả hai bên đều kiềm chế, không chủ động leo thang trước, do vậy các tàu CCG sẽ không phải lo đối đầu trực diện với các tàu của RMN và TNI-AL, tàu của Trung Quốc vẫn có thể “loanh quanh” ở các khu vực tranh chấp mà không phải rời đi.

Trong khoảng thời gian từ giữa năm đến cuối năm 2021, ba nước đã ở thế giằng co như vậy xung quanh các mỏ và giàn khoan dầu khí trong hơn 4 tháng. Cuộc giằng co bắt đầu khi sà lan Sapura 2000 do công ty Sapura Energy của Malaysia sở hữu và điều hành, tới mỏ khí Kasawari vào ngày 04/6/2021. Phía Malaysia đã dự đoán trước sự xuất hiện của các tàu CCG và sau đó đã cử lực lượng RMN tiến hành theo sát các tàu này cho đến khi hoàn thành hoạt động thăm dò khai thác vào tháng 11/2021. Mục đích hành động của phía Malaysia là nhằm khẳng định sự hiện diện của lực lượng RMN là một biện pháp cần thiết để đảm bảo an toàn trong trường hợp CCG quyết định can thiệp trực tiếp vào hoạt động thăm dò khai thác dầu của Malaysia.

Bắc Kinh cũng triển khai tàu khảo sát Da Yang Hao ở Tây Capella ngoài khơi bờ biển bang Sabah khi Malaysia tiến hành khoan ở mỏ dầu Siakap North Petai từ tháng 9 đến tháng 10/2021. Tàu Da Yang Hao được hộ tống bởi hai tàu nghiên cứu phụ trợ, một tàu dân quân biển (tàu Qiong Sansha Yu 318) và tàu Hải cảnh 6307. Bất chấp việc tàu khảo sát Trung Quốc có sự hộ tống của tàu quân sự và tàu dân binh, lực lượng RMN vẫn để yên cho các tàu này tiến hành các hoạt động mà không có bất kỳ phản ứng mạnh mẽ nào ngoài việc kiên trì giám sát chặt trên thực địa chúng.

Tại lô Cá Ngừ của Indonesia, khi giàn khoan nửa chìm nửa nổi Noble Clyde Boudreaux tiến hành khoan hai giếng thăm dò vào ngày 30/6/2021, các tàu CCG đã thay phiên nhau theo dõi cho đến khi hoạt động khoan thăm dò được hoàn thành vào tháng 11/2021. Tàu Hải cảnh 5202 hoạt động tại lô Cá Ngừ từ ngày 3/7 đến ngày 8/8/2021 trước khi được thay thế bằng tàu Hải cảnh 5305, hoạt động cho đến đầu tháng 10 và tiếp tục được thay bằng tàu Hải cảnh 6305, bắt đầu hoạt động gần giàn khoan Noble Clyde Boudreaux vào giữa tháng 10/2021. Phản ứng trước sự hiện diện của tàu CCG tại lô Cá Ngừ nói trên, TNI-AL đã tiến hành theo sát những con tàu này, thường là từng chiếc một. Đôi khi TNI-AL truy đuổi các tàu CCG trong khoảng cách gần, ở cự ly dưới 1 hải lý, nhưng hạn chế nổ súng cảnh cáo, như họ từng làm vào tháng 6/2016. Do đó, các tàu CCG vẫn không “lo ngại” lắm để ở lại trong khu vực tranh chấp.

Chiến thuật giám sát chặt trên thực địa các tàu Trung Quốc của Hải quân Malaysia và Indonesia dường như có lợi hơn là cách thức đối đầu quyết liệt

Thứ nhất, có lẽ cả Malaysia và Indonesia đã có sự tính toán rất kỹ trong trường hợp phải đương đầu với những hành động “quyết đoán” của Trung Quốc một khi họ đối đầu quyết liệt để xua đuổi các tàu Trung Quốc, nên chọn giải pháp giằng co như trên. Vì giải pháp giám sát sẽ khiến không bên nào dám “nổ súng” trước và do đó khó có thể gây ra xung đột. Điều này có lẽ đúng, vì cả Malaysia và Indonesia không phải là không có sự lựa chọn trong cách thức đối phó với các cuộc xâm nhập trái phép trên biển của Trung Quốc. Ví dụ, họ có thể tận dụng mối quan tâm của các cường quốc lớn bên ngoài khu vực để cân bằng sức mạnh với Trung Quốc ở Biển Đông. Vì xét về mặt sức mạnh và quyền lực thì Malaysia rất bất cân xứng với Trung Quốc, nên lẽ ra họ phải nhiệt tình mời gọi các cường quốc ngoài khu vực can thiệp để bảo vệ nước này trước hành vi “bắt nạt” của Trung Quốc. Thế nhưng, thay vào việc khuyến khích Mỹ và Australia can thiệp khi các tàu của CCG và RMN đương đầu với nhau ở khu vực Tây Capella vào tháng 4/2020, Malaysia đã sử dụng chiến thuật giám sát. Chiến thuật này được áp dụng ngay sau khi chính quyền của Thủ tướng Najib Razak nhậm chức vào năm 2009, nó cho thấy đây là một biện pháp kiềm chế, mang lại ít hậu quả tồi tệ khi đối phó với Trung Quốc ở Biển Đông, vì Kuala Lumpur thừa hiểu, mọi nỗ lực để cân bằng sức mạnh với Bắc Kinh là điều vô ích do năng lực răn đe hạn chế, hơn thế là sự không sẵn sàng của nước này trong việc đầu tư mạnh vào việc bảo vệ an ninh biên giới.

Nếu theo một tầm nhìn rộng lớn hơn thì thấy rằng, mặc dù “đường chín đoạn” của Trung Quốc không có cơ sở pháp lý quốc tế nào, nhưng bao năm qua cuộc chiến pháp lý của quốc tế, thậm chí đã có sự phán xét rất rõ ràng của tòa Trọng tài quốc tế về Luật Biển (PCA), nhưng Trung Quốc vẫn không từ bỏ lập trường của mình về yêu sách vô lý này. Hơn nữa, theo tính toán của các nhà hoạch định chính sách của Malaysai, do Malaysia coi trọng hợp tác kinh tế với Trung Quốc, trong khi Trung Quốc cũng coi nước này là một đối tác quan trọng của họ tại khu vực Đông Nam Á, nên Kuala Lumpur cần có một số hình thức thích nghi phù hợp trong quan hệ với Trung Quốc về vấn đề Biển Đông. Dựa trên những lập luận này, Malaysia cho rằng sự hiện diện của Trung Quốc ở Biển Đông nên được chấp nhận và “ranh giới đỏ” mà Kuala Lumpur đặt ra ở đây là phản đối bất kỳ sự “can thiệp trực tiếp” nào vào các hoạt động khai thác của nước này.

Chiến thuật “giám sát – ứng xử linh hoạt” của Indonesia được thực hiện từ năm 2017 khi nước này có sự tính toán thận trọng hơn trước các hành động xâm nhập trái phép của Trung Quốc vào vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Indonesia xung quanh quần đảo Natuna. Chiến thuật này trái ngược hẳn với một loạt cuộc tuần tra quyết đoán hồi năm 2016 của Hải quân Indonesia nhằm truy lùng các tàu đánh cá trái phép của Trung Quốc và sau đó công khai đánh chìm chúng. Sở dĩ Indonesia sử dụng chiến thuật này là vì: 1) Xét trên lĩnh vực kinh tế, Bắc Kinh và Jakarta có sự trao đổi lớn về đầu tư và thương mại, cũng như hợp tác chặt chẽ trong việc cung cấp vaccine ngừa COVID-19. Những yếu tố thực dụng này đã khiến giới hoạch định chính sách của Tổng thống Joko Widodo, đặc biệt là Bộ trưởng Điều phối các vấn đề hàng hải và đầu tư Luhut Panjaitan, đã kiềm chế được cả Bộ Ngoại giao và Hải quân Indonesia, khiến hai cơ quan này phải có thái độ hòa nhã hơn, phải từ bỏ thông lệ truyền thống của TNI-AL là đâm va và nổ súng cảnh cáo đối với các tàu không muốn bị hộ tống ra khỏi EEZ của Indonesia. 2) Giới lãnh đạo Jakarta cũng bắt đầu nhìn nhận Trung Quốc theo hướng tin rằng Bắc Kinh không chỉ là một bên liên quan có trách nhiệm trong việc giữ gìn sự ổn định ở Biển Đông để các bên cùng phát triển, mà còn coi Indonesia là một đối tác quan trọng. Nhiều nhà hoạch định chính sách ở Jakarta đã coi quyết định của Bắc Kinh không triển khai các tàu hộ tống quân sự để bảo vệ tàu khảo sát Haiyang Dizhi trước Hải quân Indonesia từ tháng 8 đến tháng 9/2021 là một biện pháp kiềm chế. Jakarta cũng cảm thấy đủ an toàn với vị thế pháp lý về chủ quyền của mình ở Biển Đông, trong khi Trung Quốc có rất ít cơ hội đạt được sự công nhận của cộng đồng quốc tế đối với các tuyên bố chủ quyền của mình. Sự kết hợp của hai yếu tố trên khiến Indonesia tin tưởng và nhún nhường trước hành động các tàu của Trung  Quốc xâm nhập vào vùng biển phía bắc Biển Natuna, miễn là hành vi xâm nhập đó vẫn mang tính chất phi quân sự và hạn chế can thiệp trực tiếp vào các hoạt động thăm dò dầu khí của Indonesia.

Thứ hai, ở đây có thể có cả tâm lý là nạn nhân nên cả Malaysia và Indonesia chấp nhận hành vi “bắt nạt” của Bắc Kinh đối với hai nước như một phần của một thỏa thuận trọn gói nhằm duy trì các mối quan hệ với Trung Quốc. Giới tinh hoa của Kuala Lumpur và Jakarta không ngây thơ đến mức nghĩ rằng Bắc Kinh sẽ không gia tăng hành vi “quyết đoán” trong tương lai. Nhưng qua những gì mà họ làm cho thấy, họ đang có xu hướng giải thích sự “quyết đoán” của Bắc Kinh là các tình huống chứ không phải là khuynh hướng trong tầm nhìn lớn hơn về Biển Đông. Điều này có nghĩa là Malaysia và Indonesia tin rằng, Bắc Kinh chỉ leo thang khi bị khiêu khích. Nếu càng khiêu khích Bắc Kinh và mời phương Tây can dự vào các tranh chấp thì sẽ có nguy cơ dẫn tới leo thang căng thẳng. Hơn nữa, Malaysia và Indonesa cũng nghĩ rằng, để đảm bảo mối quan hệ kinh tế sinh lợi trong quan hệ với hai nước này nên Bắc Kinh chỉ thể hiện thái độ thù địch trong những ranh giới tương ứng có thể chấp nhận được. Đây là một niềm tin khác thường và ít người tin như vậy, vì nó bắt nguồn từ suy nghĩ và tính toán của hai nước rằng, các hành động “quyết đoán” của Trung Quốc là sự phản ứng tức thì thay vì một phần trong tầm nhìn chiến lược lớn hơn về Biển Đông.

Thứ ba, điều quan trọng hơn cả của việc chấp nhận giằng co và áp dụng chiến thuật giám sát là tính hiệu quả của mục đích mà hai nước đặt ra. Vì dù rằng đã có sự cọ sát, bám đuổi nhau dài ngày trên biển giữa lực lượng Hải quân của Malaysia và Indonesia với lực lượng của Trung Quốc, nhưng cuối cùng thì cả Malaysia và Indonesia vẫn hoàn thành được việc thăm dò, khai thác dầu khí trên vùng biển thuộc chủ quyền của mình mà không để xảy ra xung đột, chiến tranh. Trung Quốc vẫn phải chấp nhận dầu khí từ ngoài khơi được chuyển vào bờ hai nước và vẫn phải quan hệ với cả hai chứ không thể “cạch mặt”. Trong khi cũng không có một nước thứ ba bên ngoài nào khác có thể “đục nước béo cò” mà hưởng lợi. Đây mới là ưu điểm vượt trội của chiến thuật này.

Chấp nhận thế giằng co, không để xảy ra xung đột, nhưng nếu Trung Quốc vượt qua “ranh giới đỏ” do Malaysia và Indonesia đặt ra thì đương nhiên hai nước sẽ phản ứng quyết liệt. Một ví dụ rất cụ thể, đó là: Vào tháng 4/2021, sau khi 16 máy bay quân sự của Trung Quốc bay qua vùng biển tranh chấp ngoài khơi bang Sarawak phía Đông Malaysia, ngoài việc cho lực lượng không quân xuất kích để ngăn chặn, Bộ Ngoại giao Malaysia đã ra công hàm phản đối, đồng thời triệu đại sứ Trung Quốc tại Malaysia đến để yêu cầu giải thích về việc vi phạm không phận và chủ quyền của Malaysia. Căng thẳng đã được giải quyết êm thấm bằng các động tác “sau hậu trường” của cả hai bên sau đó, nhưng qua đây cho thấy, Malaysia vẫn rất cảnh giác với Trung Quốc. Hành vi xâm phạm không phận của Malaysia nói trên được coi là vượt qua “ranh giới đỏ”.

Cuối cùng, điểm mấu chốt ở đây là chừng nào Kuala Lumpur và Jakarta còn tin rằng họ có lợi khi tiếp tục giao dịch với Bắc Kinh, thì chừng đó họ sẽ tiếp tục áp dụng cách tiếp cận kiềm chế hơn. Cuộc giằng co này vẫn tiếp diễn và các quy tắc của nó sẽ liên tục được thương lượng. Trung Quốc chưa dừng lại mà còn tiếp tục lấn tới và cả Malaysia và Indonesia sẽ tiếp tục phản đối. Đây là điều mà hai quốc gia này dường như đã chấp nhận như một thực tế của việc “làm hàng xóm bên cạnh một người khổng lồ”.

Việt Nam cũng có hoàn cảnh khá tương đồng với hai nước Malaysia và Indonesia cùng khu vực, thậm chí còn gần gũi Trung Quốc hơn cả về khoảng cách địa lý và mối quan hệ, nhưng đồng thời cũng có tranh chấp chủ quyền biển, đảo gay gắt hơn với Trung Quốc. Việt Nam cũng đã từng huy động lực lượng và áp dụng chiến thuật giám sát chặt trên thực địa trong đấu tranh với vụ giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc hạ đặt trái phép vào vùng thềm lục địa thuộc chủ quyền của Việt Nam năm 2014 mà kết cục là Trung Quốc đã phải cho rút giàn khoan này về nước. Song xem ra, những cách thức mà hai nước Malaysia và Indonesia sử dụng để đối phó với hành động Trung Quốc xâm nhập trái phép chủ quyền biển của họ cũng vẫn không phải là không hữu ích vào những thời điểm hoặc giai đoạn mà bối cảnh tình hình thế giới, khu vực có nhiều biến động trong khi quan hệ Việt – Trung vẫn đang có nhiều dư địa phát triển.

Minh Sáng

]]>
Những tranh cãi trong nội bộ Malaysia về vấn đề năng lượng trong quan hệ với TQ https://biendong.net/2023/07/02/nhung-tranh-cai-trong-noi-bo-malaysia-ve-van-de-nang-luong-trong-quan-he-voi-tq/ Sun, 02 Jul 2023 02:24:45 +0000 https://biendong.net/?p=109861 Thời gian gần đây, vấn đề năng lượng ở Biển Đông đang nổi lên thành vấn đề nóng trong quan hệ giữa Malaysia – Trung Quốc. Khi Thủ tướng Malaysia Anwar Ibrahim có chuyến thăm chính thức Trung Quốc đầu tiên đầu tháng 4 vừa qua, giới chức Bắc Kinh đã đặt câu hỏi về hoạt động thăm dò dầu khí của Malaysia trong Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của nước này ở Biển  Đông.

Theo giới phân tích, những trao đổi trong chuyến công du Trung Quốc của Thủ tướng Malaysia cho thấy Bắc Kinh không ngừng gia tăng áp lực buộc Kuala Lumpur dừng khai thác các nguồn năng lượng tại khu vực mà Trung Quốc cho rằng “có yêu sách”, bất chấp mong muốn làm sâu sắc thêm mối quan hệ Malaysia-Trung Quốc của nhà lãnh đạo Đông Nam Á.

Nhà nghiên cứu Collin Koh, làm việc tại Viện Nghiên cứu Chiến lược và Quốc phòng có trụ sở ở Singapore, nhận định: “Với thực tế đây là chuyến thăm đầu tiên của Anwar tới Bắc Kinh trên cương vị thủ tướng mới, Trung Quốc có thể đã tìm thấy cơ hội để cố gắng thuyết phục Malaysia ngừng hoạt động năng lượng ở những khu vực liên quan, đặc biệt là ngoài khơi Sarawak”. Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Malaysia trong 14 năm liên tiếp, với kim ngạch thương mại song phương năm 2022  đạt 203,6 tỷ USD. Theo đánh giá của ông Collin Koh, Bắc Kinh nhận thức được mối quan hệ kinh tế sâu sắc của Malaysia với Trung Quốc và đòn bẩy kinh tế mà nước này có thể sử dụng để gây sức ép với Kuala Lumpur về vấn đề khai thác năng lượng ở Biển Đông.

Mặc dù, địa điểm cụ thể mà phía Trung Quốc đã đề cập trong chuyến thăm của Thủ tướng Anwar không được tiết lộ, song nhiều người hiểu rằng vấn đề đang vướng vào tranh chấp với Trung Quốc ở Biển Đông chính là mỏ khí đốt Kasawari nằm cách bờ biển bang Sarawak trên đảo Borneo khoảng 200 km. Trong những năm gần đây, tàu thuyền và máy bay Trung Quốc đã nhiều lần đi vào vùng biển lân cận mỏ khí đốt này, những vụ việc vấp phải sự phản đối của Kuala Lumpur. Năm 2021, Ngoại trưởng Malaysia khi đó là Saifuddin Abdullah cho rằng sẽ có thêm nhiều tàu thuyền Trung Quốc đi vào vùng biển của Malaysia “chừng nào” Petronas còn phát triển các dự án tại mỏ khí đốt được phát hiện vào năm 2011, ước tính chứa tới 3.000 tỷ feet khối tài nguyên khí đốt có thể thu hồi.

Ông Greg Polling, Giám đốc chương trình Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á có trụ sở tại Washington từng nhận định: “Kasawari chắc chắn là nơi phải chịu nhiều áp lực (từ tàu Trung Quốc) như mọi mỏ khí đốt khác ở Biển Đông… Chúng ta đã nhiều lần chứng kiến Hải cảnh Trung Quốc cố tình quấy rối các tàu tiếp tế ngoài khơi làm nhiệm vụ hỗ trợ hoạt động cho các giàn khoan và tàu khoan”. Theo ông, các tàu Trung Quốc cố ý mạo hiểm va chạm để gây áp lực buộc các công ty phải ngừng nhận hợp đồng bảo dưỡng hạ tầng trong khu vực. Hải cảnh Trung Quốc đã nhiều lần làm gián đoạn hoạt động tại Kasawari của Malaysia, mỏ khí đốt Nam Côn Sơn của Việt Nam và mỏ khí đốt Tuna (Cá ngừ) của Indonesia vì đây là những dự án lớn duy nhất phát triển bên trong “Đường 9 đoạn”.

Bắc Kinh một mặt luôn tìm cách thúc đẩy yêu sách bành trướng ở Biển Đông, mặt khác tuyên bố họ mong muốn hợp tác với Malaysia để giải quyết những bất đồng thông qua đối thoại và tham vấn. Theo Nhà nghiên cứu Collin Koh, có vẻ như Bắc Kinh và Kuala Lumpur cũng đã nỗ lực kiềm chế bất chấp nhiều khác biệt. Ông nhận định: “Hai bên đều chưa có hành động quyết liệt nào ngoài việc bố trí lực lượng hàng hải, trong khi hoạt động ngoại giao được tiến hành âm thầm qua các kênh phụ, tránh khỏi tầm mắt của công chúng để hạn chế gây thêm căng thẳng… Trung Quốc rất muốn một chính phủ Malaysia thân thiện dưới thời Anwar, và có vẻ như cả 2 nước sẽ tiếp tục nhấn mạnh cái gọi là ‘bức tranh tổng thể’ về mối quan hệ toàn diện, bao gồm cả những lĩnh vực 2 bên có thể hòa hợp, chứ không để tranh chấp Biển Đông chi phối”.

Tiềm năng của mỏ Kasawari, nơi Giám đốc điều hành Petronas Tengku Muhammad Taufik Tengku Aziz tuyên bố là đủ lớn để đảm bảo công ty này tiếp tục là 1 trong 5 nhà xuất khẩu khí đốt tự nhiên hóa lỏng hàng đầu thế giới, chứng tỏ các rủi ro và nguy cơ ở Biển Đông đã trở nên lớn hơn như thế nào. Theo Cơ quan Phát triển Đầu tư Malaysia, ngành dầu khí hiện là là trụ cột chính của nền kinh tế nước này, chiếm khoảng 20% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Giáo sư kinh tế Yeah Kim Leng, làm việc tại Đại học Sunway Malaysia, thành viên ủy ban cố vấn cho Thủ tướng Anwar, cho biết mỏ khí Kasawari ước tính có trữ lượng khí thu hồi khoảng 3.000 tỷ feet khối. Ông nói: “Mỏ khí đốt dự kiến chính thức được đưa vào khai thác trong năm nay, vì thế đây là tài sản trọng yếu để duy trì thu nhập từ xuất khẩu dầu khí của đất nước và đáp ứng nhu cầu năng lượng trong nước, cả trực tiếp và gián tiếp, thông qua nhập khẩu”.

 Bất chấp việc Trung Quốc đã cam kết đầu tư 170 tỷ RM vào Malaysia trong chuyến thăm của Thủ tướng Anwar Ibrahim, việc ông Anwar tỏ ý Malaysia “sẵn sàng đàm phán với Trung Quốc” về những lo ngại của họ đối với các hoạt động năng lượng do Tập đoàn dầu khí quốc gia Petronas triển khai ở Biển Đông đã khiến nội bộ Malaysia nổi lên những tranh cãi xung quanh vấn đề khai thác năng lượng của Malaysia ở Biển Đông. Các đối thủ chính trị chỉ trích chính quyền của ông Anwar Ibrahim khuất phục trước Trung Quốc về các yêu sách tranh chấp ở Biển Đông. Hôm 6/4, Chủ tịch phe đối lập PN Muhyiddin Yassin, cựu Thủ tướng Malaysia đã chỉ trích ông Anwar vì những nhận xét “bất cẩn” về Biển Đông; cho rằng tuyên bố của ông Anwar về việc Malaysia sẵn sàng đàm phán với Trung Quốc có thể đe dọa chủ quyền quốc gia.

Giới chuyên gia Malaysia đã có những cuộc tranh luận xung quanh việc nên hành xử thế nào với Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông và các nhà phân tích đã có sự chia rẽ về việc liệu Malaysia nên áp dụng cách tiếp cận cứng rắn hay ôn hòa, tránh đối đầu với Trung Quốc trên Biển Đông. Chúng ta cùng đi phân tích 2 luồng quan điểm khác biệt này.

Thứ nhất, đại diện cho phái có quan điểm diều hâu, Nhà phân tích chiến lược và an ninh của Đại học Malaya (Malaysa) Collins Chong là người ủng hộ lập trường cứng rắn, phản đối việc đàm phán với Trung Quốc về Biển Đông. Theo ông Chong, Malaysia không nên chọn con đường đàm phán mà thay vào đó nên kiên định với các quyền được đảm bảo theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) để tiếp tục thăm dò dầu khí và các sinh vật biển khác. Ông cho rằng: “Bằng cách đồng ý đàm phán với Trung Quốc, điều đó sẽ khiến Malaysia trông yếu thế hơn”.

Với quan điểm cứng rắn, Nhà phân tích Chong cho rằng Malaysia nên chơi lá bài an ninh Mỹ như Tổng thống Phliippines Marcos đang làm để đối phó với Trung Quốc. Ông Chong gợi ý rằng là cường quốc nhỏ, Malaysia phải tăng cường lợi thế thương lượng của mình đối với Trung Quốc, đồng thời lý giải: “Điều này có nghĩa là tái cấu trúc các định hướng kinh tế nhằm giảm sự phụ thuộc ngắn hạn vào Bắc Kinh và liên kết với phương Tây”.

Ông Chong cho phân tích sự thay đổi như vậy sẽ bổ trợ cho động thái của Philippines, quốc gia gần đây đã ký thỏa thuận cho phép Mỹ tiếp cận thêm 4 căn cứ quân sự ở nước này, như một đối trọng với Trung Quốc ở Biển Đông. Ông Chong cho rằng, trong bối cảnh cạnh tranh địa chiến lược giữa Mỹ-Trung ngày càng gay gắt, Bắc Kinh sẽ phải “ve vãn” Kuala Lumpur để không ngả theo Washington bởi một khi Malaysia dựa vào sự hiện diện của Mỹ ở Biển Đông sẽ là điều “hủy hoại tham vọng to lớn” của Trung Quốc ở Biển Đông.

Theo Nhà phân tích Collins Chong, khi ngày càng bị dồn vào chân tường bởi sự hiện diện mới của Mỹ tại Philippines, gia tăng các đề nghị với Việt Nam và mối quan hệ quân sự mạnh mẽ hiện có với Thái Lan và Singapore, Malaysia vẫn là một nhân tố chủ chốt cần được Bắc Kinh bảo vệ bằng mọi giá để tránh bị Mỹ bao vây. Ông Chong chỉ ra rằng khả năng Malaysia rơi vào vòng tay Mỹ là một kịch bản ác mộng đối với Trung Quốc, do vậy Kuala Lumpur phải khai thác điều này, chơi “lá bài Mỹ” để có thể củng cố vai trò của Malaysia trong bất kỳ cuộc đàm phán nào với Trung Quốc về các khu vực tranh chấp.

Thứ hai, những người có quan điểm ôn hòa ủng hộ cách làm của chính quyền Thủ tướng Anwar trong việc đối phó với Trung Quốc. Luồng quan điểm này cho rằng Trung Quốc là đối tác thương mại số một của Malaysia, do đó việc tham gia liên minh chống Trung Quốc do Mỹ dẫn đầu sẽ giống như “tự sát” kinh tế. Nếu Anwar làm điều đó, Malaysia có thể sẽ nói lời tạm biệt với cam kết đầu tư 170 tỷ RM từ Trung Quốc. Những người ủng hộ quan điểm này cho rằng Malaysia nên học hỏi từ “sai lầm chiến lược” của Úc khi đối đầu với Trung Quốc dưới thời chính quyền Thủ tướng Scott Morrison. Điều này dẫn đến việc Trung Quốc đưa ra các biện pháp trả đũa làm tê liệt xuất khẩu từ Úc sang Trung Quốc, ảnh hưởng nặng đến nền kinh tế Úc.

Ủng hộ cho quan điểm ôn hòa, một nhà phân tích nhận định trong khi tình hình ở Biển Đông có thể trở nên gay gắt hơn, hành động cân bằng của Malaysia có thể được coi là “câu giờ” trong việc giải quyết tranh chấp. Ông James M Dorsey, Trợ lý thành viên cấp cao của Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam (Singapore) cho rằng Malaysia rốt cuộc sẽ phải đưa ra quyết định cơ bản về những yêu sách này và sự dứt khoát về khả năng tranh chấp. Theo đó, tránh né vấn đề hiện nay là vì lợi ích của cả Trung Quốc và Malaysia. Kuala Lumpur không muốn bị coi là chọn phe trong cuộc cạnh tranh Mỹ-Trung trong khi Trung Quốc muốn đạt được mục tiêu của mình mà không làm leo thang xung đột.

Ông James M Dorsey nhấn mạnh việc nhượng bộ lãnh thổ sẽ là điều khó khăn đối với Thủ tướng Anwar vì sẽ phải đối mặt với sự phản đối đáng kể từ công chúng Malaysia. Ông nhận định: “Giọng hòa giải của Anwar, trong đó nói rằng Malaysia sẵn sàng đàm phán, là không rõ ràng. Ý ông ấy là Malaysia bảo vệ quyền lợi của mình và sẵn sàng nói về vấn đề đó, hay đang tìm kiếm sự thỏa hiệp?”, đông thời giải thích, với việc Petronas thăm dò ở những khu vực tranh chấp trên Biển Đông, Malaysia được xem là đã đưa ra tuyên bố về quyền của mình. Tập đoàn Petronas đang tiến hành khoan hoặc thăm dò, tức là Malaysia đang làm điều gì đó dựa trên yêu sách của mình.

Những người theo quan điểm này cho rằng để đối phó với Trung Quốc ở Biển Đông, Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. đã đẩy mạnh quan hệ đồng minh với Mỹ bằng cách cho phép Mỹ tiếp cận các căn cứ quân sự của nước này, điều này có thể sẽ gây ra những rủi ro cho đất nước. Thủ tướng Anwar không nên vội vàng sử dụng lá bài Mỹ, vì chỉ cần giữ nó trong tay cũng đã tạo đòn bẩy đáng kể cho Malaysia trong bất kỳ cuộc đàm phán nào trong tương lai với Trung Quốc. Với một Trung Quốc ngày càng quyết đoán và hung hăng cần xử lý vấn đề Biển Đông như thế nào luôn là một bài toán làm đau đầu lãnh đạo các nước ven Biển Đông, trong đó có Malaysia. Để có một chính sách đúng đắn, vì lợi ích quốc gia, chính quyền của Thủ tướng Anwar Ibrahim cần tiếp thu và nghiên cứu kỹ toàn diện các quan điểm như trên trước khi có bất cứ quyết định nào trong vấn đề Biển Đông.

]]>
Rủi ro khi đàm phán song phương với TQ về vấn đề Biển Đông https://biendong.net/2023/04/17/rui-ro-khi-dam-phan-song-phuong-voi-tq-ve-van-de-bien-dong/ Mon, 17 Apr 2023 03:02:16 +0000 https://biendong.net/?p=109912 Sau chuyến thăm Trung Quốc của lãnh đạo 2 nước Philippines và Malaysia, rộ lên thông tin rằng các nước ven Biển Đông đang đi vào quỹ đạo đàm phán song phương với Trung Quốc. Vậy thực hư thế nào và việc đàm phán song phương với Trung Quốc có thể đem đến rủi ro gì, chúng ta cùng phân tích.

Trong chuyến thăm Trung Quốc vào tháng 1/2023 của Tổng thống Philippines Marcos Jr, hai nước đồng ý duy trì tinh thần thỏa thuận hợp tác thăm dò dầu khí được ký từ năm 2018 và sớm mở lại đàm phán về vấn đề này. Còn trong chuyến thăm Trung Quốc hồi tháng 4/2023, Thủ tướng Malaysia Anwar Ibrahim nói với phía Trung Quốc rằng nước này sẵn sàng đàm phán để có thể thực hiện các dự án dầu khí tại những nơi có tranh chấp ở Biển Đông. Qua những động thái kể trên, giới quan sát cho rằng có thể nói, trong vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông, sau nhiều năm kiên trì gây sức ép, Trung Quốc đã áp đặt được phương thức “đàm phán song phương” với một số nước liên quan trong ASEAN.

Giáo sư Carl Thayer, Học viện Quốc phòng Australia, nhận định Tập Cận Bình đã tranh thủ các chuyến thăm của Tổng thống Philippines và của Thủ tướng Malaysia để gây áp lực về các yêu sách của Bắc Kinh tại Biển Đông cũng như về phương thức đàm phán song phương. Trước sức ép từ Trung Quốc, Manila đã chấp nhận mở lại các cuộc đàm phán kỹ thuật về các điều khoản cho khả năng hợp tác song phương, vốn được khởi động từ tháng 11/2018  dưới thời Tổng thống Duterte và bị đình chỉ trước khi ông Duterte kết thúc nhiệm kỳ.

Tuy nhiên, giới phân tích nhận định rằng việc chấp nhận đàm phán song phương với Trung Quốc của ông Marcos có thể chỉ là một thủ thuật ngoại giao để tỏ thiện chí và giảm căng thẳng. Trên thực tế, ngay sau chuyến thăm Trung Quốc chính quyền của ông Marcos đã liên tiếp có một loạt động thái củng cố quan hệ đồng minh quân sự với Mỹ (như công bố thêm 4 địa điểm cho phép quân đội Mỹ có thể tiếp cận; khôi phục Đối thoại an ninh, ngoại giao 2+2 giữa Bộ trưởng Quốc phòng và Ngoại giao Mỹ-Philippines sau 7 năm gián đoạn; cùng Mỹ tiến hành tập trận mang tên “vai kề vai” với quy mô lớn nhất từ trước đến nay ở Biển Đông…). Ngoài ra, Manila cũng nỗ lực thúc đẩy hợp tác an ninh, quốc phòng với Nhật Bản và Úc.

Rõ ràng những động thái này không phải là nhằm tạo thuận lợi cho đàm phán với Trung Quốc về vấn đề Biển Đông mà để tạo đối trọng với trước những thách thức từ Trung Quốc. Một số chuyên gia còn cho rằng với những diễn biến dồn dập trong quan hệ giữa Mỹ và Philippines gần đây thể hiện chính quyền của Tổng thống Marcos đã “ngả hẳn sang Mỹ”. Mặt khác, kinh nghiệm đàm phán song phương với Trung Quốc trong gần 6 năm cầm quyền của cựu Tổng thống Duterte đã giúp cho chính quyền của ông Marcos có được bài học sâu sắc nên khó có thể đi theo vết xe đổ của người tiền nhiệm.

Mặt khác, ông Jay Batongbacal, Giám đốc Viện Các vấn đề hàng hải và Luật biển thuộc Đại học Philippines cho rằng, mong muốn giải quyết tranh chấp một cách thân thiện “không có nghĩa là họ sẽ đơn giản nhượng bộ các yêu cầu của Trung Quốc”. Ông Batongbacal thẳng thắn thừa nhận rằng việc Philippines sẽ thảo luận và đàm phán với Trung Quốc không phải là “dấu hiệu thành công trong cách tiếp cận song phương”.

Đối với Malaysia, Thủ tướng Anwar Ibrahim trong chuyến thăm Trung Quốc đã khẳng định với Tập Cận Bình rằng Tập đoàn Petronas đang và sẽ hoạt động trong vùng biển của Malaysia, song để ngỏ khả năng có thể đàm phán với Trung Quốc khi nói: “nếu Trung Quốc cảm thấy rằng họ có quyền đối với khu vực này, chúng tôi có thể thảo luận và đàm phán về vấn đề này”. Việc Thủ tướng Anwar Ibrahim để ngỏ khả năng đàm phán song phương với Trung Quốc vè Biển Đông đã khiến phe đối lập nước này phản đối mạnh mẽ.

Phát biểu của Thủ tướng Anwar liên quan tới việc chính phủ của ông “chuẩn bị đàm phán” với Trung Quốc về quyền thăm dò tài nguyên thiên nhiên ở Biển Đông đã dẫn đến một số chỉ trích rằng chủ quyền và quyền tài phán của Malaysia đối với thềm lục địa của nước này đã được công nhận và không phải là vấn đề tranh chấp hay là vấn đề cần phải đàn phán. Hôm 6/4, ông Muhyiddin Yassin – lãnh đạo đảng Bersatu, đảng đứng đầu trong liên minh đối lập Perikatan – đã kịch liệt chỉ trích Thủ tướng Anwar vì những phát biểu của ông. Ông Muhyiddin nói: “Tuyên bố này là liều lĩnh và một Thủ tướng không bao giờ được đưa ra một tuyên bố như vậy. Hàm ý của tuyên bố này đã gián tiếp thừa nhận yêu sách của Trung Quốc đối với các vùng lãnh thổ vốn thuộc về Malaysia và cần phải được bảo vệ”.

Trong bối cảnh dư luận và các nhà phân tích xôn xao về những phát biểu mà Thủ tướng Anwar đưa ra sau chuyến thăm chính thức đầu tiên tới Trung Quốc và phe đối lập thì tận dụng để chỉ trích chính phủ của Thủ tướng Anwar Ibrahim mềm yếu trước những yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc, Bộ Ngoại giao Malaysia đã đưa ra một tuyên bố để giải thích. Trong tuyên bố của mình, Bộ Ngoại giao Malaysia nói rằng lập trường của nước này về Biển Đông “là nhất quán và không thay đổi”; khẳng định “Chính phủ Malaysia cam kết rõ ràng và kiên quyết đối với việc bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và lợi ích của Malaysia trong các khu vực hàng hải của mình ở Biển Đông, như đã được mô tả trong Bản đồ năm 1979 của Malaysia”.

Bản đồ năm 1979, do Cục Khảo sát và Bản đồ Malaysia phát hành, được dùng làm tài liệu tham khảo chính thức cho các yêu sách lãnh thổ của nước này ở Biển Đông. Tuyên bố cũng cho biết: “Malaysia kiên quyết giữ quan điểm rằng các vấn đề liên quan đến Biển Đông phải được giải quyết một cách hòa bình và mang tính xây dựng, phù hợp với các nguyên tắc được thừa nhận rộng rãi của luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982”.

Bộ Ngoại giao Malaysia cho biết bằng việc sử dụng thuật ngữ “đàm phán”, Thủ tướng Anwar “muốn nói rằng những vấn đề liên quan đến Biển Đông cần phải được thảo luận hoặc giải quyết một cách hòa bình… và Malaysia không phải thỏa hiệp lập trường nguyên tắc của mình, để tránh xung đột leo thang, đe dọa sử dụng vũ lực hay sử dụng vũ lực”; nhấn manh: “Do đó, trong bối cảnh này, Malaysia sẽ tiếp tục cách tiếp cận ngoại giao trong các hoạt động tương tác của Malaysia với các quốc gia khác”.

Lâu nay, Trung Quốc luôn nhấn mạnh đến đàm phán song phương, phản đối cách tiếp cận đa phương trên vấn đề Biển Đông. Để thúc ép các nước ven Biển Đông chấp nhận đàm phán song phương, Bắc Kinh gia tăng sức ép đối với các nước trên thực địa. Họ liên tiếp cho tàu hải cảnh, tàu thăm dò địa chấn và tàu dân quân biển cản trở quấy rối các hoạt động dầu khí của các nước láng giềng ven Biển Đông ngay trong khu vực thuộc vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) hợp pháp của nước này. Trước sức ép của Bắc Kinh, các nước ven Biển Đông, một số nước đã tiến hành đàm phán với Trung Quốc nhưng không đạt được kết quả.

Việt Nam sau khi giải quyết với Trung Quốc vấn đề phân định biên giới trên đất liền và phân định vùng biển trong Vịnh Bắc Bộ đã tiếp tục tiến hành đàm phán với Trung Quốc về vấn đề trên biển, nhưng cho đến nay không có bất kỳ tiến triển nào. Philippines dưới thời của cựu Tổng thống Duterte đã từng tiến hành đàm phán với Trung Quốc và ký Biên bản ghi nhớ về hợp tác năng lượng ở Biển Đông vào tháng 11/2018, song không có những tiến triển khi đi vào bàn các vấn đề cụ thể và cuối cùng chính quyền của ông Duterte đã phải tuyên bố chấm dứt Biên bản ghi nhớ trước khi kết thúc nhiệm kỳ. Malaysia chưa đàm phán song phương với Trung Quốc về vấn đề Biển Đông và phát biểu của Thủ tướng Malaysia khi thăm Trung Quốc đề ngỏ khả năng đàm phán song phương với Trung Quốc ngay lập tức đã vấp phải sự phản đối của phe đối lập. Cho đến nay, Indonesia vẫn kiên quyết không thảo luận với Trung Quốc về tranh chấp trên biển, với lý do Indonesia hoàn toàn không có tranh chấp trên biển vời Trung Quốc và đường biên giới trên biển của nước này phù hợp với luật pháp quốc tế.

Giới quan sát nhận định rất phương thức đàm phán song phương mà Trung Quốc đang hướng tới không thể giải quyết được các tranh chấp ở Biển Đông bởi tranh chấp này hết sức phức tạp, trong đó có cả những vấn đề liên quan đến các nước ngoài khu vực như vấn đề tự do, an ninh hàng hải và hàng không. Mặt khác, Trung Quốc luôn bất chấp lẽ phải và luật pháp quốc tế nên không thể mong chờ vào sự thiện chí đàm phán của Bắc Kinh. Ý đồ của Trung Quốc trong thúc ép các nước ven Biển Đông đàm phán song phương có thể là:

Thứ nhất, thực hiện chính sách “chia để trị” với phương châm “bẻ từng chiếc đũa dễ hơn bẻ cả bó đũa”. Ý đồ của Trung Quốc là tiến hành đàm phán song phương đe có thể lợi dụng ảnh hưởng kinh tế và sức mạnh quân sự của mình gây sức ép, bắt nạt các nước nhỏ, cưỡng ép các nước này chấp nhận nhượng bộ. Cách tiếp cận song phương của Trung Quốc hết sức nguy hiểm và có thể khiến các nước láng giềng gặp nhiều rủi ro.

Bắc Kinh muốn dùng đàm phán song phương để chia rẽ các nước ven Biển Đông với nhau, phá vỡ đoàn kết trong nội bộ ASEAN trên vấn đề Biển Đông. Theo Giáo sư Carl Thayer thuộc Đại học New Shouth Wales Úc, điểm đáng chú ý là nếu như trước đây các nước ASEAN có tranh chấp trên biển với Trung Quốc tập hợp lại với nhau để có lập trường chung trước khi thảo luận các bất đồng với Trung Quốc thì việc Trung Quốc lôi kéo từng nước đàm phán song phương đã phá vỡ cơ chế hợp tác này giữa các nước ven Biển Đông. 

Thứ hai, Bắc Kinh mưu toan sử dụng diễn đàn đàm phán song phương để lùa các nước ven Biển Đông đi vào quỹ đạo của họ. Thực tế cho thấy, Trung Quốc thường kết hợp việc lớn tiếng hù dọa trong đàm phán song phương với việc triển khai hoạt động gây hấn hung hăng trên thực địa để gây sức ép buộc các nước chấp nhận chủ trương “gác tranh chấp, cùng khai thác” của Trung Quốc, thực chất là biến các vùng đặc quyền kinh tế hoàn toàn không có tranh chấp của các nước láng giềng thành vùng tranh chấp, thúc đẩy yêu sách phi lý của họ ở Biển Đông thực hiện mục tiêu cuối cùng là độc chiếm Biển Đông.

Mặt khác, việc Bắc Kinh mưu toan dùng diễn đàn đàm phán song phương để chèn ép, cưỡng bức các nước láng giềng có khả năng kích động tinh thần dân tộc chủ nghĩa tại các nước này, làm bùng lên tinh thần “bài Hoa” trong dân chúng các nước.

Thứ ba, Trung Quốc thúc đẩy cách tiếp cận đa phương để đẩy Mỹ và các nước ngoài khu vực ra khỏi Biển Đông. Với việc các nước chấp nhận đàm phán song phương với Trung Quốc, Bắc Kinh sẽ lấy cớ là “Trung Quốc và các nước trong khu vực hoàn toàn có thể tự giải quyết tranh chấp Biển Đông” để ngăn cản việc Mỹ và các đồng minh can dự vào Biển Đông.

Trong suốt thời gian qua, Trung Quốc luôn tìm cách vu cáo đổ lỗi cho Mỹ can dự vào Biển Đông khiến tình hình căng thẳng và tìm mọi cách để đẩy Mỹ ra khỏi Biển Đông, thậm chí họ còn đưa vào dự thảo về Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông nội dung loại bỏ các nước ngoài khu vực (trong đó có Mỹ) ra khỏi Biển Đông. Đây là lý do vì sao Trung Quốc luôn thúc ép các nước ven Biển Đông đàm phán song phương về Biển Đông. Giới chuyên gia cho rằng một điều không thể phủ nhận là việc các bên ngồi vào với nhau để thảo luận với nhau các vấn đề liên quan đến tranh chấp dù là tại diễn đàn đa phương hay song phương là điều có ý nghĩa, giúp cho tình hình không leo thang căng thẳng. Tuy nhiên, với một Trung Quốc luôn mang một tư tưởng bá quyền, đại Hán lại có sức mạnh kinh tế, quân sự vượt trội thì không thể mong chờ ở sự thiện chí, hợp tác, xây dựng của Bắc Kinh. Do vậy, các nhà phân tích đã đưa ra cảnh báo chống lại cách tiếp cận song phương của Trung Quốc; nếu các bên không tỉnh táo mà bị Trung Quốc lôi vào “vòng xoáy” của mình thì đàm phán song phương sẽ mang tới nhiều rủi do. Các ý kiến này cho rằng cách tiếp cận đa phương trên hồ sơ Biển Đông sẽ có lợi cho các nước láng giềng ven Biển Đông trong đối chọi với một Trung Quốc hung hăng.

]]>
Biển Đông trong quan hệ Malaysia – TQ https://biendong.net/2023/04/05/bien-dong-trong-quan-he-malaysia-tq/ Wed, 05 Apr 2023 02:32:00 +0000 https://biendong.net/?p=109869 Bốn tháng sau khi nhậm chức (tháng 11/2022), Thủ tướng Malaysia Anwar Ibrahim thăm Trung Quốc từ 28/3 đến 01/4/2023 nhằm thúc đẩy quan hệ với Trung Quốc bằng cách tận dụng dịp kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa Trung Quốc và Malaysia trong năm nay, và kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước vào năm sau. Ông Anwar đã tham dự Diễn đàn châu Á Bác Ngao hôm 28/3, điểm dừng chân đầu tiên trong chuyến công du 4 ngày ở Trung Quốc.

Tại Bắc Kinh, Thủ tướng Anwar Ibrahim đã có cuộc hôị đàm với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Nhằm tranh thủ thúc đẩy quan hệ kinh tế với Trung Quốc, Thủ tướng Anwar đã bày tỏ sự ủng hộ với các sáng kiến mà Trung Quốc nêu ra thời gian gần đây như: Sáng kiến An ninh Toàn cầu (GSI), Sáng kiến Phát triển Toàn cầu (GDI) và Sáng kiến Văn minh Toàn cầu (GCI); đạt được sự đồng thuận cùng nhau xây dựng cộng đồng chung vận mệnh Trung Quốc-Malaysia.

Với những kết quả kể trên, nhiều chuyên gia cho rằng quan hệ Malaysia- Trung Quốc nồng ấm, đặc biệt là hợp tác kinh tế phát triển mạnh, có thể được chứng kiến trong thời kỳ Anwar. Tuy nhiên, quan hệ Malaysia- Trung Quốc cũng đối mặt với nhiều thách thức như: một là, “tâm lý bài Trung” do những người theo chủ nghĩa dân tộc Mã Lai dẫn dắt. Quan điểm của những người này lo ngại rằng đầu tư của Trung Quốc và Sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI) có thể làm suy yếu quyền lực chính trị của người Mã Lai. Thậm chí, các ý kiến còn lo sợ rằng đầu tư quá nhiều từ Trung Quốc sẽ củng cố địa vị chính trị của cộng đồng người Hoa ở Malaysia khiến Kuala Lumpur phải chịu sự chi phối của Trung Quốc; hai là, vấn đề Biển Đông luôn âm ỉ trong quan hệ 2 nước. Việc Trung Quốc hành động ngày càng độc đoán ở Biển Đông, xâm phạm quyền chủ quyền, quyền tài phán và các lợi ích trên biển của Malaysia khiến phe đối lập ở nước này gây áp lực buộc chính quyền Kuala Lumpur phải có lập trường cứng rắn hơn trong vấn đề hàng hải.

Trong những năm gần đây, Trung Quốc nhiều lần cho các tàu hải cảnh, tàu dân quân biển, tàu khảo sát xâm nhập vùng biển của Malaysia; uy hiếp, ngăn cản các hoạt động dầu khí của Malaysia. Công ty dầu mỏ nhà nước Malaysia (Petronas) đang vận hành các mỏ dầu khí ở Biển Đông trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lý của Malaysia và đã có một số cuộc chạm trán với các tàu Trung Quốc. Tuy nhiên, Malaysia thường không công khai phản đối các tàu của Trung Quốc mà âm thầm kiên trì triển khai các hoạt động dầu khí của mình theo kế hoạch nhằm tránh đối đầu với Bắc Kinh.

Mỏ khí đốt Kasawari nằm ở ngoài khơi bang Sarawak, có trữ lượng ước tính 3 nghìn tỷ mét khối và dự kiến sẽ bắt đầu được đưa vào sản xuất trong năm 2023 này. Kasawari là 1 trong 19 dự án năng lượng mới được kỳ vọng sẽ giúp nâng cao vị thế của Malaysia trong các nhà xuất khẩu khí đốt tự nhiên. Theo một báo cáo của Fitch Solutions về ngành dầu khí của nước này, “việc triển khai thành công đường ống ngoài khơi theo kế hoạch sẽ đưa Malaysia trở thành một trong những quốc gia vượt trội ở châu Á về tăng trưởng sản xuất khí đốt trong vòng 3 đến 4 năm tới”.

Với tầm quan trọng về chiến lược và kinh tế, mỏ khí đốt Kasawari được cho là mục tiêu của một số chiến thuật “vùng xám” của Trung Quốc. Bắc Kinh đã nhiều lần cho tàu hải cảnh, tàu dân quân biển áp sát, đe dọa giàn khoan của Petronas hoạt động ở khu vực này, thậm chí điều cả máy bay tới hù dọa, gây căng thẳng trong quan hệ Malaysia-Trung Quốc. Ngày 1/6/2021, thời điểm giàn khoan vẫn đang được lắp ráp, người ta đã phát hiện 16 máy bay Trung Quốc “bay theo đội hình” ngoài khơi bờ biển Sarawak. Malaysia điều máy bay chiến đấu để theo sát các diễn biến, đồng thời Ngoại trưởng Malaysia Hishammuddin Hussein gửi thư phản đối Bắc Kinh về việc “xâm phạm không phận và chủ quyền của Malaysia”. Bộ Ngoại giao Trung Quốc phủ nhận tính nghiêm trọng của vụ việc, gọi đây là “hoạt động huấn luyện thông thường”. Ông Hussein sau đó đã trao đổi với Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc và nhấn mạnh “sự cần thiết của việc tự kiềm chế” ở Biển Đông.

Tháng 8/2022, Proofpoint, một công ty an ninh mạng hàng đầu có trụ sở tại California, đã công bố báo cáo về một hoạt động tin tặc bất thường ở Biển Đông. Theo báo cáo, chiến dịch này diễn ra từ tháng 3/2021-6/2022, nhằm vào các công ty năng lượng đang hoạt động tại mỏ khí đốt Kasawari. Các công ty liên quan đã nhận được thư điện tử chứa liên kết dẫn đến một trang web tin tức hợp pháp của Australia. Tuy nhiên, việc nhấn vào các liên kết đã kích hoạt phần mềm độc hại có tên ScanBox, giúp tin tặc kiểm soát một phần máy tính của nạn nhân, với khả năng theo dõi các lần gõ phím và hoạt động của trình duyệt. Có nguồn tin cho rằng vụ việc liên quan tới nhóm gián điệp mạng được gọi là TA423/Red Ladon hoặc APT40, có trụ sở tại Hải Nam, và có liên hệ với Bộ An ninh Quốc gia (MSS) Trung Quốc. Địa chỉ IP của Red Ladon có thể cung cấp manh mối nhất định.

Petronas từ chối bình luận về vụ việc, chỉ khẳng định công ty được bảo vệ trước các cuộc tấn công trực tuyến. Truyền thông Malaysia dường như cũng không để tâm tới sự kiện này. Giới quan sát cho rằng sự im lặng của Malaysia có thể phản ánh lập trường chính sách không đối đầu của nước này trong các vấn đề liên quan đến Biển Đông. Emirza Adi Syailendra, nhà nghiên cứu về các vấn đề chiến lược, làm việc tại Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam, cho rằng: “Lằn ranh đỏ của Malaysia là những can thiệp mang tính vật lý đối với các hoạt động khai thác của nước này. Hơn nữa, các cường quốc phương Tây như Mỹ và Australia không được khuyến khích tham gia các tranh cãi này”.

Vụ tin tặc tấn công kể trên diễn ra cùng với các hoạt động quấy rối của tàu hải cảnh và tàu dân quân biển của Trung Quốc. Proofpoint dự đoán các hành vi tương tự sẽ tiếp diễn chừng nào các công ty khai thác dầu khí còn hoạt động trong khu vực. Câu hỏi đặt ra là vì sao tin tặc lại nhắm đến các công ty nước ngoài tại Kasawari? Giới chuyên gia cho rằng với công nghệ 4.0 ngày càng phát triển, Băc Kinh giờ đây đang tích cực ứng dụng công nghệ thông tin vào chiến lược “vùng xám” nhằm thực hiện các mục tiêu của họ ở Biển Đông. Các tin tặc Trung Quốc nhắm vào các công ty hoạt động ở khu vực mỏ Kasawari bởi vai trò quan trọng của nó cả về mặt kinh tế lẫn chiến lược.

Trong một phúc trình vào cuối tháng 3 vừa qua, Tổ chức nghiên cứu Mỹ – Sáng kiến Minh bạch Hàng hải Châu Á (AMTI), cho biết một tàu hải cảnh của  Trung Quốc mang số hiệu 5901 trong suốt tháng qua đã hoạt động gần khu vực phát triển khí đốt Kasawari của Petronas ngoài khơi bang Sarawak của Malaysia, và đã tiến gần đến 2,5 dặm của dự án. Một tàu hải quân Malaysia đã có mặt trong khu vực vào thời điểm đó. Sáng kiến Minh bạch Hàng hải Châu Á còn cho biết Tàu hải cảnh 5901 là tàu tuần duyên lớn nhất thế giới, hoạt động lần cuối tại mỏ khí Tuna Bloc của Indonesia và mỏ dầu khí Chim Sáo của Việt Nam. Cả Hải quân Malaysia và Petronas đều tránh bình luận về vấn đề này.

Liên quan đến vụ việc này, ngày 3/4/2023 Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Mao Ninh nói họ không biết về vụ việc cụ thể nhưng lại bao biện rằng lực lượng hải cảnh hoạt động trong phạm vi quyền tài phán của Trung Quốc và hành vi của họ là không thể chê trách. Trong bối cảnh các dự án năng lượng của Malaysia tại vùng biển mà Bắc Kinh có yêu sách chủ quyền phải đối mặt với áp lực ngày càng gia tăng, Thủ tướng Malaysia Anwar Ibrahim đã lên tiếng về những nội dung liên quan đến Biển Đông mà ông đã trao đổi với lãnh đạo Trung Quốc trong chuyến thăm Bắc Kinh vừa rồi.

Trong bài diễn văn hôm 4/3/2023 tại Phủ thủ tướng, Thủ tướng Anwar cho biết ông đã trao đổi với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trong chuyến thăm Trung Quốc về các dự án dầu khí của Malaysia ở Biển Đông. Theo đó, phía Trung Quốc lo ngại “Petronas tiến hành hoạt động quy mô tại khu vực mà họ tuyên bố chủ quyền…”; đồng thời yêu cầu Malaysia đàm phán song phương để giải quyết vấn đề này. Đáp lại, Thủ tướng Anwar nhấn mạnh rằng khu vực đó là “lãnh thổ của Malaysia và vì vậy Petronas sẽ tiếp tục các hoạt động khai thác trong khu vực”; đồng thời nói rõ rằng “là một nước nhỏ cần tài nguyên dầu khí, chúng tôi (Malaysia) phải tiếp tục. Nhưng nếu điều kiện là phải có đàm phán thì chúng tôi sẵn sàng để đàm phán”.

Liên quan tới các hoạt động quấy phá của tàu hải cảnh Trung Quốc đối với hoạt động của Petronas mà tổ chức Sáng kiến Minh bạch Hàng hải Châu Á thông tin, Thủ tướng Anwar nói rằng Trung Quốc tuyên bố các tàu thuyền nước này hoạt động trong vùng biển quốc tế. Ông khẳng định Bộ Ngoại giao Malaysia sẽ gửi phản đối ngoại giao nếu xảy ra đụng độ giữa tàu thuyền hai nước trong khu vực. Đáp lại, Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói rằng Bắc Kinh bảo vệ “các quyền hợp pháp và lợi ích” ở Biển Đông. Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 4/4 cũng nói rằng Trung Quốc sẵn sàng làm việc với Malaysia để giải quyết các bất đồng tại Biển Đông thông qua đối thoại và tham vấn một cách phù hợp.

Trung Quốc tuyên bố chủ quyền khoảng 90% diện tích Biển Đông thông qua “đường chín đoạn” hình chữ U trên bản đồ lấn sâu vào các vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của 5 quốc gia Đông Nam Á. Đường đó đã bị tuyên bố là không hợp lệ trong khuôn khổ phán quyết trọng tài quốc tế vào năm 2016, mà Bắc Kinh không công nhận. Trung Quốc không những không thực thi phán quyết mà còn gia tăng các hoạt động hung hăng gây hấn với các nước láng giềng ven Biển Đông và thúc ép các nước này đàm phán song phương để giải quyết vấn đề.

Giống nước láng giềng Philippines, Malaysia rất muốn tách các vấn đề liên quan đến Biển Đông khỏi mối quan hệ song phương rộng lớn hơn với Trung Quốc, với hy vọng rằng điều này sẽ không cản trở nhu cầu tăng cường quan hệ kinh tế. Tuy nhiên, nhà phân tích chính sách đối ngoại Collins Chong Yew Keat, làm việc tại Đại học Malaya, cho rằng Malaysia nên tránh đàm phán song phương với Trung Quốc nhất là trong các vấn đề liên quan tới tuyến đường thủy đang tranh chấp – nơi trung chuyển ít nhất 3 nghìn tỷ USD hàng hóa hằng năm – vì Trung Quốc sẽ sử dụng tất cả đòn bẩy để đưa ra các điều khoản có lợi hơn cho nước này. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược Mỹ – Trung ở Biển Đông và trong khu vực ngày càng quyết liệt, Malaysia đứng trước áp lực ngày càng tăng từ cả Bắc Kinh lẫn Washington trong việc chọn bên. Do vậy, mà chính quyền của Thủ tướng Anwar Ibrahim sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc tiếp tục cách tiếp cận cân bằng của mình. Biển Đông sẽ là một vấn đề nóng trong quan hệ Malaysia-Trung Quốc trong nhiệm kỳ của Thủ tướng Anwar Ibrahim.

]]>
Sự khôn khéo của Malaysia trong cách tiếp cận các tranh chấp trên biển https://biendong.net/2022/12/02/su-khon-kheo-cua-malaysia-trong-cach-tiep-can-cac-tranh-chap-tren-bien/ Fri, 02 Dec 2022 04:29:11 +0000 https://biendong.net/?p=95969 Trong các tranh chấp ranh giới hàng hải, Malaysia sẵn sàng lựa chọn một loạt công cụ chính sách sẵn có, từ chính trị cho tới các cuộc đàm phán pháp lý, từ kiềm chế cho tới cương quyết đối đầu ngay trên biển. Giới phân tích cho rằng các tiếp cận linh hoạt, khôn khéo này của Malaysia trong các vấn đề tranh chấp hàng hải đã giúp cho nước này vừa bảo vệ được lợi ích chính đáng của mình vừa tránh việc rơi vào những xung đột căng thẳng không cần thiết.

Trong việc giải quyết các vấn đề trên biển với nước láng giềng Indonesia, Malaysia biết cách thích nghi, giống như cách họ từng dàn xếp với Indonesia khi hai nước phân định thềm lục địa vào năm 1969 dựa trên những hiểu biết lẫn nhau. Kuala Lumpur ủng hộ yêu cầu của Jakarta về quy chế quần đảo để đổi lấy một hiệp ước cho phép Kuala Lumpur tiếp cận quần đảo Natuna. Một ví dụ khác thể hiện sự khôn khéo hơn của Kuala Lumpur là việc Malaysia tham gia vụ kiện Sipadan và Ligitan vào năm 2002, giành chiến thắng nhờ các hoạt động kinh tế trên đảo – điều mà Jakarta xem là vi phạm những hiểu biết trước đó về cách hành xử kiềm chế. Mặt khác, Kuala Lumpur cũng thách thức diễn giải pháp lý của Indonesia về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa ở phía Bắc Biển Natuna (đường ranh giới kép) và thậm chí còn đối đầu triền miên với Hải quân Indonesia xung quanh lô Ambalat giàu dầu mỏ ngoài khơi bờ biển phía Đông đảo Borneo.

Đối với Trung Quốc, như những gì thể hiện qua các cuộc trao đổi Công hàm giai đoạn 2019-2020, Malaysia từ chối công nhận sự tồn tại của tranh chấp và thách thức tính hợp pháp của cái gọi là “Đường 9 đoạn” mà Trung Quốc yêu sách ở Biển Đông. Tuy nhiên, Kuala Lumpur cho thấy họ sẵn sàng thiết lập một cơ chế tham vấn song phương để xử lý tranh chấp và ngầm chấp nhận sự hiện diện gần như lâu dài của Trung Quốc trong vùng biển của mình. Qua cách ứng xử của các lực lượng trên biển của Malaysia và trong các cuộc trao đổi với một số sĩ quan Hải quân Hoàng gia Malaysia (RMN), có thể thấy rằng chừng nào Bắc Kinh chỉ triển khai Lực lượng Hải cảnh Trung Quốc (CCG) tại các vùng biển của Malaysia thay vì Hải quân của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA), Kuala Lumpur có thể vẫn tiếp tục xem đây là những hành vi gây hấn mà họ có thể tạm chấp nhận.

Những kinh nghiệm kiểm soát ranh giới của Kuala Lumpur là một tập hợp linh hoạt, thể hiện cách tiếp cận thực dụng, trong đó nhìn nhận các vấn đề quan trọng như quyền tài phán trong vùng biển mà họ kiểm soát hoàn toàn là điều có thể thương lượng. Câu hỏi ở đây là khi nào và vì sao Kuala Lumpur chọn cách kiềm chế hoặc hung hăng khi tiếp cận các tranh chấp biên giới trên biển?

Để hiểu được tính nhạy cảm của ranh giới trên biển theo góc nhìn Malaysia, cần giải thích được cách họ khái niệm hóa không phận Tanah (cả vùng trời phía trên đất liền và biển) hoặc toàn vẹn lãnh thổ, vốn mang tính thực dụng thay vì bị chi phối bởi những quan niệm về quyền sở hữu. Qua các cuộc trò chuyện với giới tinh hoa và học giả Malaysia, người ta có thể thấy nổi lên quan điểm cho rằng khái niệm về lãnh hải của Malaysia nhấn mạnh đến chức năng phục vụ tối đa các lợi ích trên đất liền. Điều này khiến Kuala Lumpur sẵn sàng hơn trong việc đàm phán về các vùng biển, chẳng hạn như từ bỏ danh nghĩa và quyền sở hữu các vùng biển tranh chấp với Brunei để đổi lấy việc tiếp cận khu vực và quyền khai thác các mỏ dầu; hay cam kết của Brunei về từ bỏ yêu sách đối với Limbang (bang Sarawak).

Malaysia không ngần ngại sử dụng các cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế để giải quyết các tranh chấp trên biển với các nước láng giềng. Kuala Lumpur đã nhiều lần đệ trình lên tòa án công lý quốc tế các vụ kiện về tranh chấp biên giới trên biển và đã thắng Indonesia trong vụ Sipadan-Ligitan năm 2003 nhưng lại thua Singapore trong vụ kiện Pedra-Branca năm 2008. Tuy nhiên, một nguyên tắc được Kuala Lumpur quán triệt là chỉ chấp nhận phương án pháp lý khi họ đã vận dụng hết mọi lựa chọn ngoại giao và chính trị.

Quan điểm đề cao chủ quyền đối với lãnh thổ là khái niệm mà phương Tây thiết lập vẫn có vị trí chi phối trong bối cảnh hiện nay và nhiều người vẫn tiếp tục cho rằng các vùng biển nên được xem là khu vực thịnh vượng chung. Do đó, Kuala Lumpur muốn theo đuổi đàm phán chính trị khi có thể đảm bảo các lợi ích cốt lõi của mình như củng cố an ninh, tối đa hóa lợi ích kinh tế và làm sâu sắc thêm mối quan hệ lâu dài với các đối tác quan trọng.

Với việc trì hoãn giải quyết tranh chấp ở Eo biển Malacca (với Singapore và Indonesia) để thúc đẩy các cuộc tuần tra chung, Kuala Lumpur đảm bảo được không gian an toàn hơn cho việc quản trị một eo biển nhộn nhịp, có tầm quan trọng toàn cầu. Kuala Lumpur cũng gác lại tranh chấp ở Biển Đông để xúc tiến hợp tác thăm dò khai thác chung với Thái Lan và Việt Nam. Năm 1979, Malaysia ký với Thái Lan Thỏa thuận khai thác chung vùng biển chồng lấn giữa hai nước trong vịnh Thái Lan; năm 1992 Malaysia ký với Việt Nam Thỏa thuận hợp tác khai thác chung vùng biển chống lấn giữa hai nước nằm gần cửa vịnh Thái Lan. Các thỏa thuận hợp tác này đều được triển khai khá thành công.

Dù có phần thực dụng, ưu điểm trong cách tiếp cận của Kuala Lumpur là duy trì mối quan hệ tốt với các nước láng giềng. Với các đối tác quan trọng, Kuala Lumpur tránh những đòi hỏi sự có đi có lại để thể hiện thiện chí và sự công nhận về vị thế của các đối tác. Đây cũng là cách để Malaysia phát đi thông điệp rằng Kuala Lumpur kỳ vọng đối tác cũng ưu tiên mối quan hệ với Malaysia và tôn trọng, hoặc quan tâm tới các lợi ích cốt lõi của nước này, đặc biệt là tính hợp pháp của chế độ cầm quyền và các lợi ích kinh tế.

Kuala Lumpur lặng lẽ xử lý các hoạt động “vùng xám” của Bắc Kinh trong vùng biển mà họ có quyền tài phán nhằm không để ảnh hưởng tới quan hệ với Trung Quốc  và vẫn bảo đảm các khoản đầu tư từ nền kinh tế lớn thứ hai thế giới tại khu vực có ý nghĩa quan trọng về mặt chính trị. Tuy nhiên, tiền không phải là “phần thưởng” duy nhất mà Malaysia mong muốn. Việc Kuala Lumpur thể hiện sự linh hoạt là tín hiệu củng cố mối quan hệ lâu dài của Malaysia với Trung Quốc, một phần trong chiến lược lâu dài nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các lợi ích khu vực của Bắc Kinh vốn được triển khai từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc. Kuala Lumpur tính toán rằng việc coi trọng mối quan hệ với Bắc Kinh sẽ cho phép họ mở rộng chương trình nghị sự khu vực với sự hỗ trợ của siêu cường châu Á.

Mặt khác, Kuala Lumpur luôn trú trọng củng cố cơ sở pháp lý cho các yêu sách của họ ở Biển Đông, kể cả phối hợp cùng các nước liên quan để triển khai vấn đề này. Năm 2009, Malaysia đã cùng với Việt Nam đệ trình lên Ủy ban Ranh giới thềm lục địa Liên hợp quốc Báo cáo chung xác định ranh giới thềm lục địa vượt quá 200 hải lý. Ngày 12/12/2019, Malaysia có công hàm số HA59/12 đệ trình lên Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên hợp quốc yêu cầu xác lập giới hạn thềm lục địa mở rộng ngoài 200 hải lý. Ngay trong ngày 12/12/2019, Trung Quốc gửi công hàm tới Liên hợp quốc để phản đối. Tiếp đó, các nước ven Biển Đông như Philippines, Việt Nam, Indonesia và các nước ngoài khu vực như Mỹ, Úc, Anh. Pháp. Đức, Nhật Bản, New Zealand đã gửi công hàm lên Liên hợp quốc phản đối các yêu sách của Trung Quốc và trình bày lập trường pháp lý trên các vấn đề liên quan ở Biển Đông. Như vậy, Malaysia được coi là đã khởi đầu cho cuộc chiến công hàm xung quanh vấn đề Biển Đông thu hút sự tham gia của các nước trong và ngoài khu vực.

Giới chuyên gia nhận định với trọng tâm là tối đa hóa lợi ích, có vẻ như cách tiếp cận then chốt của Malaysia trước nguy cơ Trung Quốc có thể chiếm đóng các vùng biển tranh chấp là “thu hoạch” càng nhiều tài nguyên càng tốt trước khi điều đó xảy ra. Kuala Lumpur tránh va chạm với Bắc Kinh trên thực địa ở Biển Đông để duy trì mối quan hệ thân thiết với Bắc Kinh, song Malaysia vẫn kiên trì bảo vệ vị thế pháp lý của mình ở Biển Đông thông qua các công hàm gửi lên Liên hợp quốc. Cách tiếp cận của Malaysia trong các vấn đề trên biển với Trung Quốc được một số học giả đặt tên là có thể tránh căng thẳng leo thang trên thực địa trong thời gian trước mắt, tuy nhiên điều này có thể khiến Trung Quốc được đà lấn tới để càng trở nên hung hăng hơn.

Với các nước láng giềng ven Biển Đông khác trong ASEAN như Indonesia, Singapore, Việt Nam cách ứng xử của Malaysia có thể được coi là thành công bởi các nước này đều là những nước đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật, tôn trọng quyền lợi chính đáng của các bên liên quan. Tuy nhiên, với Trung Quốc – nước có tham vọng thôn tính Biển Đông và luôn có tư tưởng bá quyền, đại Hán – thì hiệu quả của cách ứng xử của Malaysia còn chưa rõ ràng. Chúng ta vẫn cần chờ xem Kuala Lumpur sẽ phản ứng như thế nào nếu Bắc Kinh thể hiện rằng họ không còn coi Malaysia là một đối tác có giá trị nữa, một yếu tố có thể có tác động và mang tính quyết định tới chính sách “chờ đợi” của Malaysia.

Trong bối cảnh tình hình khu vực và thế giới diễn biến phức tạp và Trung Quốc với sức mạnh vượt trội cả về kinh tế, quân sự ngày càng hung hăng hơn ở Biển Đông. Cách tiếp cận khôn khéo của của Malaysia trên vấn đề Biển Đông nên được các bên tranh chấp tham khảo. Theo giới phân tích của giới luật gia thì nếu các nước tranh chấp ở Biển Đông trong ASEAN có thể tự giải quyết với nhau được các vấn đề liên quan ở Biển Đông thì nên cố gắng tự giải quyết với nhau trên cơ sở luật pháp quốc tế, kể cả thông qua các cơ quan tài phán quốc như một số nội dung mà Malaysia đã giải quyết với Indonesia, Singapore. Đây được xem là biện pháp hữu hiệu để ứng phó với sự bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông.

]]>
Nếu không kiên quyết, Malaysia sẽ phải trả giá https://biendong.net/2021/12/10/neu-khong-kien-quyet-malaysia-se-phai-tra-gia/ Fri, 10 Dec 2021 10:13:00 +0000 https://biendong.net/?p=71343 Sau những phản ứng dữ dội của Malaysia xung quanh vụ máy bay Trung Quốc xâm phạm không phận của Malaysia hối cuối tháng 5, giới chuyên gia cho rằng Malaysia sẽ có sự thay đổi mạnh mẽ trong cách tiếp cận vấn đề Biển Đông bởi lẽ đây là lần hiếm hoi chính quyền Malaysia có phản ứng mạnh mẽ công khai trước hành động gây hấn của Trung Quốc ở Biển Đông.

Thế nhưng phản ứng của Malaysia trước việc ra đời liên minh AUKUS khiến dư luận hoài nghi về sự quyết đoán của Kuala Lumpur, thậm chí có ý kiến cho rằng Malaysia đang “ngả” sang Trung Quốc làm cho giới cầm quyền Bắc Kinh đang được đà lấn tới ở Biển Đông. Chúng ta cùng phân tích điều này.

Ngày 01/6/2021, Bộ Ngoại giao Malaysia đã triệu Đại sứ Trung Quốc lên để phản đối và ra Thông cáo báo chí bày tỏ sự phản đối mạnh mẽ trước việc 16 máy bay quân sự của Trung Quốc xâm nhập không phận của Malaysia hôm 31/5/2021. Bộ trưởng Ngoại giao Malaysia Hishammuddin Hussein lên tiếng cáo buộc đội bay Trung Quốc đã “bay vào vùng biển” của Malaysia và đây là vụ “vi phạm chủ quyền, không phận Malaysia”. Trong khi đó, Trung Quốc bác bỏ cáo buộc của Malaysia về việc máy bay quân sự nước này “xâm phạm không phận” của Malaysia; khăng khăng rằng họ đã không làm gì sai. Hôm 02/6, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Uông Văn Bân nói rằng “đây là hoạt động huấn luyện thường lệ của Không quân Trung Quốc” và “không nhắm vào bất kỳ quốc gia nào”.

Trước đó, hầu như Malaysia giữ im lặng trước những hành động gây hấn của Trung Quốc ở Biển Đông. Năm ngoái, các tàu của Trung Quốc đã đối đầu kéo dài trong nhiều tháng với tàu thăm dò dầu khí West Capella (Tàu West Capella, treo cờ Panama, ký hợp đồng với Petronas của Malaysia để thăm dò dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế ngoài khơi Borneo của Malaysia). Tàu Hải dương Địa chất 8 (Haiyang Dizhi 8) cùng với các tàu hải cảnh đã tới vùng biển cách Borneo 371 km. Ba tàu chiến Mỹ và một tàu hải quân Úc đã đến tập trận ngay gần địa điểm mà tàu Hải dương Địa chất 8 và các tàu hải cảnh của Trung Quốc đang quấy nhiễu hoạt động thăm dò dầu của công ty Malaysia Petronas. Tuy nhiên, Malaysia vẫn im lặng, không lên tiếng công khai về vụ việc.

Những động thái liên tiếp phản đối hoạt động xâm phạm vùng trời Malaysia của máy bay quân sự Trung Quốc tưởng chừng sẽ đánh dấu một mốc mới trong việc ứng xử các vấn đề liên quan đến Biển Đông của Malaysia theo hướng quyết liệt hơn. Tuy nhiên, phản ứng của Malaysia trước việc Mỹ, Anh, Úc thành lập liên minh AUKUS khiến dư luận hoài nghi về thái độ mạnh mẽ nhất quán của Kuala Lumpur trong xử lý vấn đề Biển Đông và trong quan hệ với Trung Quốc.

Trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng hung hăng và quyết đoán khiến căng thẳng trên Biển Đông gia tăng, ngày 15/9/2021 nguyên thủ 3 nước Mỹ, Anh, Úc công bố Thỏa thuận an ninh 3 bên AUKUS, với một trong những nội dung là giúp Australia phát triển công nghệ chế tạo tàu ngầm hạt nhân cùng với nhiều thỏa thuận quốc phòng khác. Động thái này được coi là một nỗ lực nhằm chống lại sự quyết đoán ngày càng tăng của Trung Quốc trong khu vực.

Ngày 18/9, Thủ tướng Malaysia Ismail Sabri Yaakob đã bày tỏ lo ngại rằng AUKUS có thể dẫn đến một cuộc chạy đua vũ trang ở Biển Đông. Ông Ismail cho rằng AUKUS có thể trở thành “chất xúc tác cho cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương” và có thể “khiêu khích các cường quốc khác hành động hung hăng hơn trong khu vực, nhất là tại Biển Đông”. Tại phiên họp Quốc hội sau đó, Bộ trưởng Ngoại giao Malaysia Hishammuddin Hussein đã đề xuất Malaysia cử quan chức tới Trung Quốc để làm rõ quan điểm của Bắc Kinh về vấn đề này.

Giới quan sát nhận định điều này cho thấy dường như Malaysia đang rơi vào quỹ đạo của Trung Quốc, không đủ bản lĩnh để có thái độ độc lập của mình mà phải “đi hỏi ý kiến” của Bắc Kinh; cách ứng xử này của Kuala Lumpur có thể là nguyên nhân khiến Trung Quốc đưa nhóm tàu Đại Dương (Da Yang Hao) vào hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Malaysia từ hạ tuần tháng 9/2021.

Từ cuối tháng 9, trên nhiều trang mạng của Malaysia đã xuất hiện những thông tin về hoạt động của tàu Đại Dương trong vùng biển của Malaysia. Trang Malaysiakini đã đưa thông tin về sự hiện diện của tàu Đại Dương ở khu vực chỉ cách tàu thăm dò West Capella khoảng 93 km; đồng thời đưa ra nhận định rằng căng thẳng leo thang giữa Malaysia và Trung Quốc gần đây có liên quan đến quan điểm về thỏa thuận an ninh 3 bên giữa Australia, Anh và Mỹ (AUKUS).

Trước sức ép của dư luận, từ đầu tháng 10 chính quyền Malaysia có một loạt động thái thể hiện quan điểm liên quan đến Biển Đông. Trả lời phỏng vấn truyền hình tối 3/10, Thủ tướng Malaysia Datuk Seri Ismail Sabri Yaakob khẳng định: “Chúng tôi (Malaysia) đã nói rằng chúng tôi sẽ không bao giờ nhượng bộ về chủ quyền” và cho biết ông đã nhiều lần nhấn mạnh vấn đề này tại các hội nghị trong nước cũng như các diễn đàn quốc tế khi còn đảm nhiệm vị trí Bộ trưởng Quốc phòng Malaysia.

Truyền thông Malaysia cũng đưa ý kiến của cựu Bộ trưởng Truyền thông và Đa phương tiện Malaysia Salleh Said Keruak kêu gọi chính phủ không nên xem nhẹ những hoạt động xâm phạm lãnh hải của Trung Quốc ở Biển Đông vì những hoạt động đó vi phạm chủ quyền của Malaysia. Ông Salleh Said Keruak nhấn mạnh: “Sự hiện diện quy mô lớn của gần 100 tàu thuyền Trung Quốc ở vùng biển ở Biển Đông mà Philippines tuyên bố chủ quyền phát đi một thông điệp rõ ràng rằng Trung Quốc thật sự muốn kiểm soát vùng biển đó mà không đếm xỉa đến vấn đề xâm phạm vùng biển và chủ quyền khu vực”. Ông Salleh cho rằng Malaysia không nằm ngoài những tác động mà hoạt động xâm nhập lãnh hải của Trung Quốc gây ra, đặc biệt ở hai bang Sabah và Sarawak của Malaysia.

Ông Jeffrey Kitingan, người sáng lập Đảng cải cách nhà nước ở Malaysia và là Phó Thủ hiến bang Sabah cũng khẳng định Malaysia sẽ không bao giờ chịu khuất phục trước những hành động bị coi là bắt nạt do bất kỳ siêu cường bên ngoài nào gây ra, bao gồm cả Trung Quốc; đồng thời kêu gọi chính phủ Malaysia cần nhanh chóng yêu cầu Đại hội đồng Liên hợp quốc tiến hành một cuộc họp để tìm kiếm một giải pháp cho tình trạng căng thẳng gia tăng ở Biển Đông.

Trong thông cáo báo chí được phát đi đêm 04/10, Bộ Ngoại giao Malaysia cho biết đã triệu Đại sứ Trung Quốc tại Malaysia Âu Dương Ngọc Tịnh để bày tỏ lập trường cũng như phản đối việc tàu Trung Quốc xâm phạm vùng biển nước này. Theo đó, Malaysia phản đối sự hiện diện và hoạt động của các tàu Trung Quốc trong vùng đặc quyền kinh tế của Malaysia tại bang Sabah và Sarawak. Bộ Ngoại giao Malaysia khẳng định, sự hiện diện và hoạt động của các tàu Trung Quốc, trong đó có một tàu khảo sát địa chất, không phù hợp với đạo luật về Vùng đặc quyền kinh tế năm 1984 của Malaysia cũng như UNCLOS 1982.

Giới phân tích cho rằng những động thái thể hiện thái độ cứng rắn của Kuala Lumpur trên vấn đề Biển Đông trái ngược hẳn với thái độ mềm yếu của chính quyền Malaysia trước việc ra đời liên minh AUKUS, nhất là việc Bộ trưởng Ngoại giao Malaysia đề xuất sang Bắc Kinh tham vấn về vấn đề này. Lý do của sự thay đổi “chóng mặt” trong thái độ của giới chức Kuala Lumpur đối với Bắc Kinh chỉ trong vòng 2 tuần lễ là:

Trước hết, việc Trung Quốc điều nhóm tàu Đại Dương tới hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế của Malaysia chỉ một tháng sau khi ông Ismail Sabri Yaakob được bổ nhiệm Thủ tướng Malaysia (hôm 20/8) vừa nhằm thử phản ứng vừa để gây áp lực lên chính quyền mới của Malaysia. Đây là cách làm lâu nay của Bắc Kinh đối với các nước láng giềng ven Biển Đông. Mỗi khi những nước láng giềng ven Biển Đông thay đổi chính quyền thì Bắc Kinh lại gây ra một vụ việc nào đó để thử giới hạn phản ứng của chính quyền mới. Thậm chí, sau khi Tổng thống Mỹ J. Biden nhậm chức, Trung Quốc đã tiến hành một loạt các hoạt động hung hăng ở Biển Đông và đe dọa Đài Loan để thử giới hạn phản ứng của chính quyền Tổng thống Biden.

Lâu nay, Kuala Lumpur thường chập chững, thiếu kiên quyết trước các hoạt động hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông. Do có nhiều phụ thuộc vào quan hệ kinh tế với Trung Quốc, chính quyền Malaysia thường giữ im lặng, không lên tiếng công khai chỉ trích các hoạt động gây hấn của Trung Quốc ở Biển Đông, kể cả khi các tàu của Trung Quốc xâm lấn trong vùng đặc quyền kinh tế thềm lục địa của Malaysia hồi tháng 4 năm ngoái.

Giới phân tích cho rằng, Malaysia là một nước nhỏ, tiềm lực kinh tế và quân sự thua xa Trung Quốc; vũ khí lớn nhất của nước này trong đấu tranh với các hoạt động cưỡng bức, bắt nạt của Trung Quốc ở Biển Đông là công khai vạch trần các hoạt động sai trái của Trung Quốc. Tuy nhiên, do lo ngại ảnh hưởng tới quan hệ với Trung Quốc, giới chức Kuala Lumpur im lặng đã kiến cho Bắc Kinh càng được đà lấn tới. Một số học giả còn chỉ ra rằng sự im lặng của Malaysia chính là rơi vào “cái bẫy” của Bắc Kinh và bị Trung Quốc “chùm chăn để đánh”.

Trong bối cảnh đó, chính quyền mới ở Malaysia phải thể hiện thái độ rõ ràng đối với các hoạt động xâm lấn của Bắc Kinh ở Biển Đông. Những phát biểu cứng rắn của giới chức Malaysia từ Thủ tướng Ismail cho đến Phó Thủ hiến bang Sabah hay cựu Bộ trưởng Truyền thông và Đa phương tiện và Thông cáo của Bộ Ngoại giao Malaysia liên tiếp được đưa ra trong những ngày đầu tháng 10 vừa qua là nhằm thể hiện rõ quan điểm của chính quyền Thủ tướng Ismail không chịu khuất phục trước sức ép của Trung Quốc. Thực tế cho thấy sau phản ứng quyết liệt của Malaysia, tàu nghiên cứu Đại Dương đã rời đi.

Thứ hai, chính quyền của Thủ tướng Ismail phải liên tiếp có những động thái cứng rắn liên quan đến vấn đề Biển Đông trong những ngày qua là để “sửa sai” khi phản ứng quá mềm yếu và dường như đi theo quan điểm của Bắc Kinh trước sự ra đời của AUKUS nhằm giải quyết vấn đề nội bộ của nước này.

Thực tế đang có sự chia rẽ trong nội bộ Malaysia về cách ứng xử với Trung Quốc và trên các vấn đề ở khu vực, trong đó có Biển Đông. Ngay sau khi Thủ tướng và Bộ trưởng Ngoại giao Malaysia lên tiếng về AUKUS, đã nổ ra cuộc tranh cãi gay gắt xung quanh vấn đề này trong nội bộ Malaysia. Phe đối lập tại Malaysia cho rằng quan điểm của ông Hishammuddin Hussein là “kỳ quặc và phi lý”, đồng thời kêu gọi Malaysia duy trì vị thế trung lập vốn có lâu nay, đặc biệt là về những vấn đề nhạy cảm như AUKUS.

Bộ trưởng Hishammuddin Hussein nói rằng chính phủ cần liên hệ với Trung Quốc để hiểu thêm về quan điểm của quốc gia này. Bác bỏ cáo buộc từ phe đối lập khi cho rằng Malaysia đang “nhận chỉ thị” từ Trung Quốc, Bộ trưởng Hishammuddin Hussein cho rằng Malaysia không có gì sai khi tìm hiểu quan điểm của Trung Quốc và đó cũng là phản ứng bình thường trong ngoại giao. Theo ông Hishammuddin, việc có quan hệ tốt với Trung Quốc không có nghĩa là Malaysia sẽ thỏa hiệp về chủ quyền và lập trường của mình; nhấn mạnh: “Điểm mạnh của Malaysia là chúng ta gần gũi với hai siêu cường (Mỹ và Trung Quốc). Mối quan hệ của chúng ta (Malaysia) dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau giữa Mỹ và Trung Quốc, và họ tôn trọng lập trường của chúng ta”.

Giới phân tích nhận định xem ra chính quyền mới ở Kuala Lumpur có phần bảo thủ hơn và tỏ ra thiếu tự tin trong ứng xử với các vấn đề nhạy cảm trong khu vực bởi họ mong muốn cải thiện quan hệ với Bắc Kinh để tranh thủ hợp tác kinh tế với Trung Quốc phục hồi kinh tế sau đại dịch Covid. Tuy nhiên, Kuala Lumpur cần phải rút ra bài học của chính quyền Tổng thống Duterte ở Philippines sau gần 6 năm cầm quyền đã không đem lại các lợi ích kinh tế mong muốn cho Manila mà trái lại Bắc Kinh lại gia tăng các hoạt động xâm lấn các vùng biển của Philippines ở Biển Đông.

Cho dù Kuala Lumpur có phụ thuộc nhiều vào thương mại và đầu tư với Bắc Kinh và Trung Quốc cung cấp một lượng lớn vắc xin phòng chống Covid cho Malaysia, song chính quyền mới ở Kuala Lumpur cần thể hiện rõ sự độc lập, tự chủ của mình với một chính sách kiên quyết, rõ ràng minh bạch trên những vấn đề liên quan đến chủ quyền quốc gia và các lợi ích chính đáng của mình ở Biển Đông, nếu không Bắc Kinh sẽ càng được đà, lấn tới.

]]>