Mỹ – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Mon, 15 Dec 2025 16:49:44 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 Chính quyền Trump dùng thuế quan để buộc Indonesia hợp tác trên vấn đề Biển Đông https://biendong.net/2025/10/22/chinh-quyen-trump-dung-thue-quan-de-buoc-indonesia-hop-tac-tren-van-de-bien-dong/ Wed, 22 Oct 2025 03:31:53 +0000 https://biendong.net/?p=159018 Ngày 15/7, Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố Mỹ và Indonesia đã nhất trí về một thỏa thuận thuế quan, theo đó, Mỹ sẽ giảm thuế đối với hàng hóa của Indonesia từ 32% như đã đe dọa xuống còn 19%. Dù các thông tin chi tiết của thỏa thuận không được công bố, song có những ý kiến cho rằng Mỹ đã gắn việc giảm thuế quan với chính sách chiến lược của Indonesia ở Biển Đông.

Trước khi ông Trump đưa ra tuyên bố trên, các quan chức Indonesia đã chia sẻ riêng những lo ngại về vấn đề này với học giả Aristyo Rizka Darmawan của trường Đại học Quốc gia Australia và nhà nghiên cứu về Đông Nam Á của Viện Lowy Abdul Rahman Yaacob. Họ cho biết Washington đã gắn thuế quan với các vấn đề địa chiến lược, và tranh chấp Biển Đông là trọng tâm.

Tin tức ngày 11/7 của Hãng tin IDN Times của Indonesia củng cố thêm nhận định trên khi trích dẫn phản hồi của Jakarta đối với các đề xuất thương mại mới nhất của Trump ngày 7/7, những đề xuất là cơ sở cho thỏa thuận mà hai bên đạt được ngày 15/7. Theo đó, để tránh bị áp mức thuế quan cao, Indonesia đề nghị tăng cường hợp tác an ninh, hàm ý rõ ràng rằng Mỹ đã gắn vấn đề này với vấn đề thương mại. Cụ thể, “chính phủ Indonesia cam kết tăng cường hợp tác chiến lược với Mỹ trong các lĩnh vực hàng hải và quân sự, cũng như tăng cường giám sát biên giới tại các khu vực nhạy cảm như Biển Đông”. Indonesia cũng đề nghị “hợp tác chặt chẽ hơn với Mỹ về các vấn đề kinh tế và an ninh thông qua chính sách hàng hải, nhưng không bao gồm việc đẩy nhanh tiến trình phê chuẩn Hiệp định phân định vùng đặc quyền kinh tế Indonesia-Việt Nam. Đề nghị hợp tác kinh tế và an ninh chặt chẽ hơn này chỉ bao gồm kiểm soát xuất khẩu, tăng cường hợp tác quân sự, sử dụng công nghệ truyền thông an toàn và tăng cường giám sát và kiểm soát biên giới, đặc biệt là ở Biển Đông”.

Tài liệu được hãng tin IDN Times trích dẫn cho thấy Washington nỗ lực để có được hai cam kết của Indonesia về Biển Đông trong thỏa thuận thương mại. Thứ nhất, Washington thúc đẩy Jakarta hợp tác an ninh chặt chẽ hơn, đặc biệt là tại khu vực tranh chấp ở Biển Đông. Sự hợp tác chặt chẽ này có thể bao gồm các cuộc tập trận quân sự và tuần tra chung. Thứ hai, Mỹ muốn Indonesia đẩy nhanh việc phê chuẩn Hiệp định phân định vùng đặc quyền kinh tế Indonesia-Việt Nam. Điều này rất quan trọng vì hiệp định phân định biển mà Indonesia và Việt Nam ký kết chồng lấn với yêu sách “đường chín đoạn”, vốn vạch ra yêu sách (mơ hồ) của Trung Quốc đối với Biển Đông. Việc phê chuẩn hiệp định sẽ tái khẳng định rằng Indonesia không công nhận bất kỳ yêu sách nào của Trung Quốc. Cam kết này cũng có thể khuyến khích Indonesia rút khỏi kế hoạch hợp tác khai thác chung vùng biển tranh chấp với Trung Quốc được công bố hồi tháng 11/2024. Mặc dù Tổng thống Prabowo Subianto đã tuyên bố Indonesia cam kết phê chuẩn hiệp định, nhưng quá trình phê chuẩn tại Quốc hội Indonesia đã bị trì hoãn hơn 1 năm.

Giới quan sát nhận định hiện Mỹ đang tích cực thúc đẩy đàm phán thương mại với nhiều quốc gia, riêng đàm phán với Indonesia có sự khác biệt so với các quốc gia khác. Trong quan hệ thương mại với nhiều quốc gia khác, chính quyền Trump chỉ tập trung vào kinh tế. Thế nhưng, trong trường hợp với Indonesia, rõ ràng Washington đang cố ép buộc chính sách Biển Đông của Indonesia phải phù hợp với lợi ích của Mỹ và làm suy yếu ảnh hưởng khu vực của Trung Quốc.

Những gì chúng ta đang thấy là việc chính quyền Trump sẵn sàng sử dụng áp lực kinh tế để điều hướng các quyết định chính sách đối ngoại của Indonesia, cụ thể là sử dụng Indonesia để thách thức vị thế của Trung Quốc ở Biển Đông. Trên thực tế, Trung Quốc cũng đã từng dùng áp lực kinh tế để “bẻ cong” chính sách của Indonesia. Kế hoạch hợp tác khai thác chung là ví dụ điển hình, bởi một tuyên bố chung của Indonesia với Trung Quốc công nhận yêu sách chồng lấn sẽ hàm ý rằng Indonesia công nhận các quyền của Trung Quốc tại khu vực đó. Đáng chú ý, đi kèm với thỏa thuận này chính là sự hấp dẫn của cam kết đầu tư 10 tỷ USD của Trung Quốc vào Indonesia.

Bắc Kinh đã đe dọa trả đũa các quốc gia ký kết các thỏa thuận thương mại với Mỹ mà gây tổn hại đến lợi ích của Trung Quốc. Một quan chức Trung Quốc tuyên bố: “Trung Quốc kiên quyết phản đối bất kỳ bên nào đạt được thỏa thuận mà gây tổn hại đến lợi ích của Trung Quốc… Nếu điều này xảy ra, Trung Quốc sẽ không bao giờ chấp nhận và sẽ kiên quyết thực hiện các biện pháp đối phó theo cách có đi có lại”.

Jakarta đang rơi vào tình thế khó khăn khi cố gắng đi theo đường lối không liên kết và không chọn bên trong cuộc cạnh tranh địa chính trị Mỹ-Trung ở khu vực. Mặc dù vùng đặc quyền kinh tế của Indonesia chồng lấn với yêu sách “đường chín đoạn”, nhưng Jakarta vẫn luôn tự coi mình là một bên không có yêu sách ở Biển Đông. Dưới thời của cựu Tổng thống Indonesia, Jakarta đã công khai từ chối công nhận các yêu sách biển quá mức của Trung Quốc ở Biển Đông, đã nhiều lần công khai bác bỏ yêu sách “đường 9 đoạn”, thậm chí gửi công hàm lên Liên hợp quốc khẳng định quan điểm này. Tuy nhiên, sau khi lên cầm quyền, Tổng thống đương nhiệm Prabowo Subianto đã có những động thái gây tranh cãi xung quanh vấn đề này khi đồng ý đưa vào Tuyên bố chung trong chuyến thăm Trung Quốc tháng 11/2024 nội dung về hợp tác khai thác chung trên biển với Trung Quốc.

Với chính sách không liên kết, Indonesia đã từ chối ủng hộ Mỹ trong việc chống lại ảnh hưởng của Trung Quốc ở Đông Á, đồng thời cũng không ủng hộ Trung Quốc. Indonesia giờ đây có ít lý do hơn để khiêu khích Trung Quốc so với vài năm trước, có ít tàu chính phủ và tàu cá Trung Quốc xâm phạm vùng biển Indonesia xung quanh đảo Natuna hơn so với trước đây. Giới quan sát nhận định đây có thể là lý do Jakarta đang trì hoãn việc phê chuẩn Hiệp định phân định vùng đặc quyền kinh tế Indonesia-Việt Nam để tránh làm “mất lòng” Bắc Kinh.

Việc Indonesia đồng ý tăng cường hợp tác an ninh biển với Mỹ khiến Trung Quốc lo ngại bởi từ lâu, Bắc Kinh luôn tìm cách loại trừ các cường quốc ngoài khu vực khỏi các tranh chấp ở Biển Đông. Hoạt động chung giữa Indonesia và Mỹ ở Biển Đông có thể tiếp tục trì hoãn những nỗ lực đàm phán kéo dài về Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông nhằm điều chỉnh các hoạt động trong khu vực tranh chấp giữa Trung Quốc và ASEAN.

Indonesia là nước lớn nhất trong ASEAN và có vai trò quan trọng trên các vấn đề an ninh khu vực, trong đó có Biển Đông, hay nói cách khác, Indonesia có tiềm năng quyền lực rất lớn. Nước này là nơi sinh sống của 280 triệu người, không kém so với Mỹ. Đất nước vạn đảo này dồi dào tài nguyên thiên nhiên. Dân số đông và nền kinh tế đang phát triển sẽ cho phép Indonesia đóng vai trò hàng đầu ở Đông Nam Á và khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Trong thời gian qua, Washington cơ bản thành công trong việc củng cố, tăng cường quan hệ đồng minh quân sự với Philippines trong việc thành lập mặt trận chống lại Trung Quốc. Giới chuyên gia nhận định với mục tiêu kiềm chế, ngăn chặn Bắc Kinh trong chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương thì việc tăng cường hợp tác an ninh, quân sự với Jakarta nằm trong tính toán lâu dài của Washington. Chính quyền Trump nhiệm kỳ 2 đang dùng thuế quan để chống lại Trung Quốc, do vậy việc Mỹ dùng vấn đề thuế quan để gây sức ép buộc Indonesia hợp tác với Mỹ trên vấn đề Biển Đông là điều dễ hiểu.

Cùng với việc công bố mức thuế cho Indonesia, Tổng thống Donald Trump cho biết: “Indonesia đã cam kết mua 15 tỷ USD năng lượng của Mỹ, 4,5 tỷ USD nông sản Mỹ và 50 máy bay Boeing, đa số là máy bay 777”. Phát biểu tại một hội nghị năng lượng ở Pennsylvania hôm 15/7, Tổng thống Trump bày tỏ sự quan tâm đến đồng của Indonesia khi nhấn mạnh “Indonesia thực sự có nguồn đồng dồi dào, rất mạnh”.

Liên quan tới thoả thuận về thuế quan với Mỹ, Tổng thống Indonesia Prabowo cho biết đây là một cuộc đàm phán khó khăn. “Nhưng cuối cùng chúng tôi đã đạt được thỏa thuận. Chúng tôi hiểu lợi ích của họ, và họ cũng hiểu lợi ích của chúng tôi”. Trong khi đó, Bộ trưởng Năng lượng Indonesia Bahlil Lahadlia cho biết nước này sẽ tiếp tục xuất khẩu tinh quặng đồng sang Mỹ thay vì quặng thô, phù hợp với chính sách hạn chế xuất khẩu khoáng sản thô của Jakarta.

Việc Tổng thống Mỹ Donald Trump hôm 15/7 tuyên bố áp dụng mức thuế 19% đối với Indonesia mới chỉ là sự thống nhất về nguyên tắc giữa nguyên thủ 2 quốc gia, hai bên vẫn phải tiếp tục thảo luận về những nội dung cụ thể, chi tiết để tiến tới để ký kết thoả thuận và Jakarta đang tiếp tục nỗ lực đàm phán các vấn đề liên quan nhằm tối ưu hoá lợi ích của mình trong quan hệ thương mại với Mỹ. Ông Susiwijono Moegiarso, Bộ trưởng Bộ Điều phối Kinh tế Indonesia cho biết: “Danh sách các mặt hàng đang đàm phán rất dài, và chúng tôi hy vọng mức thuế sẽ là 0%”.

Ông Susiwijono Moegiarso cho biết Indonesia đặc biệt yêu cầu mức thuế 0% đối với các sản phẩm chủ chốt có nhu cầu cao tại Mỹ bao gồm dầu cọ thô, cà phê, ca cao và kền. Ông Moegiarso nói vẫn còn “cửa” để đàm phán, đồng thời trích dẫn thỏa thuận của Indonesia về mức thuế 0% đối với 99% sản phẩm mà Mỹ có thể xuất khẩu sang nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á này.

Theo ông Moegiarso, Jakarta và Washington sẽ có tuyên bố chung sau khi các cuộc đàm phán kết thúc. Hiện vẫn chưa rõ về việc liệu mức thuế 19% có áp dụng cho tất cả các sản phẩm của Indonesia hay chỉ áp dụng cho các mặt hàng chủ chốt như dầu cọ và hàng dệt may. Ngoài ra, hàng hoá của nước thứ ba xuất khẩu vào Mỹ qua Indonesia sẽ chịu mức thuế lên tới 40% như Mỹ công bố áp dụng đối với Việt Nam. Giới chuyên gia nhận định mặc dù không nói rõ hàng hoá nước thứ ba là nước nào, song rõ ràng điều khoản này là nhằm vào hàng hoá Trung Quốc muốn mượn đường các nước Đông Nam Á để vào Mỹ.

Giới phân tích nhận định Indonesia có sự phụ thuộc lớn về kinh tế với Bắc Kinh, chính quyền Tổng thống Prabowo cũng muốn tranh thủ số vốn 10 tỷ USD đầu tư mà Trung Quốc đã cam kết tháng 11/2024 để phát triển đất nước, tuy nhiên Jakarta luôn cảnh giác trước nguy cơ đến từ chủ nghĩa bá quyền của Bắc Kinh. Indonesia dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Prabowo Subianto đã tăng chi tiêu quốc phòng từ 1% GDP hiện nay lên 1,5% GDP cho lực lượng vũ trang vào năm 2029. Hiện mong muốn mạnh mẽ của Indonesia là cải tổ quân đội trước mối đe dọa từ Trung Quốc. Jakarta đặc biệt quan tâm đến việc củng cố năng lực phòng thủ của các đảo cực Bắc vốn đang nằm trong tầm ngắm trong các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với toàn bộ Biển Đông. Để thực hiện mục tiêu này, Indonesia nhận thức rõ cần tăng cường hợp tác an ninh quốc phòng với Mỹ. Theo đó, Indonesia mong muốn được huấn luyện với quân đội Mỹ, mua vũ khí Mỹ và cải thiện năng lực tương tác với các lực lượng Mỹ. Đây là điều mà chính quyền Tổng thống Trump khuyến khích. Trên thực tế, Washington đã hỗ trợ Jakarta xây dựng một trung tâm huấn luyện hàng hải trên đảo Batam nhìn ra Eo biển Malacca. Vào tháng 6/2023, máy bay ném bom chiến lược B-52 của Mỹ đã có chuyến thăm đầu tiên tới Indonesia – điều không thể tưởng tượng được một thập kỷ trước đó. Mỹ là một thị trường đặc biệt quan trọng đối với các hàng hoá xuất khẩu của Indonesia. Chính quyền Trump hiểu rõ điều này nên đã dùng vấn đề thuế quan để gây sức ép kéo Jakarta hợp tác với Washington ở Biển Đông. Giới phân tích cho rằng đối mặt với áp lực kinh tế từ Washington, có lẽ Indonesia đã cam kết hợp tác an ninh chặt chẽ hơn với Mỹ để đổi lấy các nhượng bộ về thuế quan. Điều này đặt Indonesia vào thế khó xử vì đã phá vỡ cam kết lâu dài về chính sách không liên kết. Mặt khác, Indonesia có nguy cơ bị Trung Quốc trả đũa.

]]>
Đài Loan và Philippines trong chiến lược kiềm chế TQ ở Biển Đông của Mỹ https://biendong.net/2025/10/16/dai-loan-va-philippines-trong-chien-luoc-kiem-che-tq-o-bien-dong-cua-my/ Thu, 16 Oct 2025 16:22:54 +0000 https://biendong.net/?p=161795 Biển Đông có vị trí địa chiến lược vô cùng quan trọng để Trung Quốc vươn ra biển, trở thành “cường quốc biển” trước khi trở thành “cường quốc thế giới” vào giữa thế kỷ XXI như tham vọng của giới cầm quyền nước này. Vì vậy, Bắc Kinh đã và đang quyết tâm mở thông “cánh cửa” Biển Đông để thực hiện mục tiêu trên.

Những năm gần đây, Trung Quốc liên tục gây ra các vụ việc căng thẳng trên biển với các nước láng giềng dưới chiêu bài “bảo vệ chủ quyền không thể tranh cãi” ở Biển Đông. Ngược lại, mặc dù không có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, nhưng Mỹ lại có nhiều lợi ích chiến lược thiết thực ở vùng biển này, như tự do hàng hải, hàng không, bảo vệ các đồng minh, đặc biệt là ngăn chặn Trung Quốc trở thành “bá quyền khu vực”, thách thức vị thế “siêu cường” thế giới của Mỹ. Do đó, Mỹ tìm mọi cách bịt “cánh cửa” đó lại, hoặc chí ít cũng không để cho Trung Quốc tự do “vẫy vùng” ở Biển Đông. Để thực hiện mục tiêu này, năm 2017, Mỹ đã ban hành Chiến lược “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở” và nỗ lực tập hợp, lôi kéo các đồng minh, đối tác trong khu vực về phía mình, trong đó Đài Loan và Philippines được Mỹ đặc biệt quan tâm, bởi vùng lãnh thổ và quần đảo này có vị trí địa chiến lược rất thuận lợi cho Mỹ thực hiện mục tiêu trên.

Những nội dung cơ bản trong chiến lược FOIP của Mỹ

Chiến lược “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở”, gọi tắt là FOIP được chính quyền D.Trump công bố năm 2017, với mục tiêu cốt lõi là kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc – nhân tố mà Mỹ xem là mối đe dọa chính đối với vị thế “siêu cường” của Washington. Chiến lược này có ba trụ cột chính là quân sự, kinh tế và ngoại giao.  

Về quân sự, trọng tâm của trụ cột này là củng cố các mối quan hệ đồng minh và đối tác đã có, đồng thời xây dựng khuôn khổ các liên minh mới để kiềm chế Trung Quốc. Muốn vậy, Mỹ phải thắt chặt quan hệ với Đài Loan và Philippines, bởi đây là hai “mắt xích” nằm trong “chuỗi đảo thứ nhất”, kéo dài từ Nhật Bản, qua Đài Loan đến Philippines, đóng vai trò là “rào cản chiến lược tự nhiên”, có khả năng ngăn chặn Hải quân Trung Quốc tiếp cận các vùng biển sâu ở Thái Bình Dương. Chính vì thế, nên Mỹ đã tăng cường hiện diện lực lượng quân sự và thúc đẩy hợp tác với các đồng minh, đối tác trong khu vực, nhất là với Đài Loan và Philippines để vừa củng cố tuyến phòng thủ này, vừa duy trì quyền tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông theo các quy định của luật pháp quốc tế.  

Về kinh tế, trụ cột này đặt trọng tâm vào thúc đẩy các sáng kiến, điển hình là sáng kiến “Clean EDGE” (Tăng cường phát triển và tăng trưởng thông qua năng lượng) nhằm tạo ra một mạng lưới kinh tế không chỉ phát triển bền vững, mà còn đóng vai trò như một công cụ để giúp các quốc gia là đồng minh, đối tác của Mỹ trong khu vực giảm phụ thuộc vào Trung Quốc.   

Về chính trị – ngoại giao, đây là trụ cột được Mỹ tập trung vào cam kết hỗ trợ các xã hội mở, các thể chế dân chủ và tự do báo chí để giúp chính phủ các nước trong khu vực có thể đưa ra các lựa chọn độc lập, củng cố nền tảng chính trị, giúp các liên minh quân sự và kinh tế của Mỹ trong khu vực phát triển, cùng chia sẻ các giá trị chung và tăng thêm sức mạnh đoàn kết, ý chí chính trị mạnh mẽ hơn trong việc chống lại mọi sự áp đặt và đe dọa từ Trung Quốc.

Ba trụ cột trên của FOIP không đứng độc lập, riêng rẽ với nhau, mà có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, trong đó trụ cột quân sự là công cụ cứng rắn để hỗ trợ và bảo vệ các trụ cột kinh tế, chính trị – ngoại giao của Mỹ ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nói chung và Biển Đông nói riêng.  

Dưới thời chính quyền Tổng thống J. Biden, chiến lược FOIP được bổ sung, cụ thể hóa thêm với năm nhiệm vụ chính gồm: (i) Đảm bảo tự do hàng hải, hàng không và các quyền tự do khác được quy định trong luật pháp quốc tế, như được phản ánh tại Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) nhằm chống lại các hành vi cưỡng ép và bảo vệ chủ quyền của các quốc gia trong khu vực. (ii) Củng cố quan hệ đồng minh, đối tác đã có, đồng thời xây dựng các khuôn khổ hợp tác mới, như Cơ chế Bộ tứ (Quad) gồm Mỹ, Nhật Bản, Úc và Ấn Độ; AUKUS gồm Mỹ, Anh và Úc. (iii) Thúc đẩy hợp tác về kinh tế, đầu tư, thương mại và cơ sở hạ tầng, bao gồm các sáng kiến kinh tế, ví dụ như Khuôn khổ kinh tế Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương (IPEF) để gia tăng ảnh hưởng và cạnh tranh với các chiến lược, sáng kiến của Trung Quốc trong khu vực. (iv) Tăng cường an ninh khu vực thông qua nâng cao năng lực phòng thủ và an ninh cho các đối tác nhằm đối phó với các mối đe dọa chung, như khủng bố, cướp biển và các thách thức an ninh phi truyền thống. (v) Tăng cường phối hợp đa phương và toàn diện hơn giữa Mỹ với các đối tác để giải quyết các thách thức xuyên quốc gia, như biến đổi khí hậu, an ninh y tế, an ninh mạng và chống tội phạm.

Gần đây, nhiều quan chức cấp cao của chính quyền D. Trump nhiệm kỳ 2 đã tuyên bố, Mỹ đã trở lại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, đồng thời đã có những động thái cụ thể, mạnh mẽ hơn theo quan điểm “hòa bình dựa trên sức mạnh” đối với FOIP. 

Vai trò của Đài Loan và Philippines trong chiến lược FOIP của Mỹ

Tuy cả Đài Loan và Philippines đều cách xa Mỹ về địa lý, nhưng xuất phát từ vị trí địa chiến lược và an ninh hiếm có của hai đối tác này, nên Mỹ coi cả hai là những “đối tác chiến lược then chốt”, đóng vai trò vô cùng quan trọng để Mỹ triển khai chiến lược FOIP.

Với Đài Loan: Vùng lãnh thổ này từ lâu được ví như một “tàu sân bay không chìm” ở Thái Bình Dương, giúp Mỹ kiềm chế Trung Quốc rất hiệu quả ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nói chung và Biển Đông nói riêng vì một số lý do cơ bản sau. Thứ nhất, về vị trí chiến lược, Đài Loan chỉ nằm cách Trung Hoa đại lục, nơi gần nhất qua eo biển Đài Loan chỉ khoảng 130km, một số đảo nhỏ nằm sát bờ biển Trung Quốc, như đảo Kim Môn chỉ cách bờ biển tỉnh Phúc Kiến/Trung Quốc khoảng 2km, một số đảo khác thuộc quần đảo Mã Tổ cách bờ biển Trung Quốc khoảng 9km. Hơn nữa, Đài Loan lại nằm vào điểm giữa của “chuỗi đảo thứ nhất” ở Tây Thái Bình Dương – một “hàng rào địa lý” quanh co, hiểm hóc nhưng rất quan trọng mà Trung Quốc bắt buộc phải vượt qua nếu muốn tiếp cận Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Nếu Trung Quốc kiểm soát được Đài Loan, thì từ đây có thể tự do triển khai lực lượng hải quân và không quân ở Tây Thái Bình Dương để kiểm soát các tuyến đường hàng hải quốc tế quan trọng đi qua Biển Đông. Chính vì thế, việc giữ nguyên hiện trạng Đài Loan như lâu nay là mục tiêu tối quan trọng đối với Mỹ. Thứ hai, do Đài Loan có lợi thế là nằm gần kề Trung Quốc, nên Mỹ đã hỗ trợ và cung cấp cho Đài Loan các hệ thống trinh sát tiên tiến nhất, hiện đại nhất và biến hòn đảo này thành “mắt thần” để theo dõi, nắm bắt và chia sẻ mọi thông tin tình báo về các hoạt động quân sự của Trung Quốc, qua đó giúp Mỹ và các nước đồng minh có cái nhìn toàn diện hơn về các động thái của Quân đội Trung Quốc trên thế giới nói chung và trong khu vực nói riêng. Thứ ba, Đài Loan vốn là một phần lãnh thổ của Trung Quốc trước đây, nằm án ngữ trên con đường vươn ra Thái Bình Dương – Ấn Độ Dương của Trung Quốc, nên Bắc Kinh có tham vọng nhất quyết phải thu hồi Đài Loan, kể cả bằng vũ lực. Mỹ nắm rõ ý đồ này của Bắc Kinh, nên mặc dù không có quan hệ ngoại giao chính thức với Đài Loan, Mỹ vẫn ký “Đạo luật quan hệ với Đài Loan” để cung cấp vũ khí giúp Đài Loan có năng lực phòng thủ trước khả năng Trung Quốc sẽ sử dụng vũ lực để thống nhất đất nước. Thứ tư, trong chiến lược FOIP, Mỹ đặc biệt nhấn mạnh việc bảo vệ các “đối tác dân chủ” trong khu vực, trong đó, Đài Loan chiếm vị trí hàng đầu. Vì thế, ủng hộ vùng lãnh thổ này chính là một phần trong nỗ lực của Mỹ nhằm củng cố các liên minh và đối tác, tạo thành một mạng lưới “sát sườn” hơn để đối phó với sự bành trướng của Trung Quốc. Thứ năm, ngoài vị trí địa chiến lược, Đài Loan còn là một “lá chắn silicon” đối với nền kinh tế toàn cầu. Hiện nay Đài Loan là nơi sản xuất hơn 90% con chíp tiên tiến vào loại bậc nhất thế giới, giữ vai trò là “mắt xích quan trọng nhất” trong chuỗi cung ứng sản phẩm công nghệ bán dẫn toàn cầu. Vì thế, bất kỳ một cuộc tấn công nào vào hòn đảo này cũng sẽ gây ra một thảm họa kinh tế đối với toàn thế giới. Giá trị to lớn của loại công nghệ bán dẫn này đã tạo ra một “lá chắn răn đe” phi quân sự rất mạnh mẽ, khiến Trung Quốc không thể hành động mạo hiểm. Đương nhiên, Mỹ cũng có lợi ích gắn bó rất lớn đối với công nghệ và sản phẩm này của Đài Loan, do đó, khó có thể để cho Trung Quốc dễ dàng tấn công Đài Loan. Ngày 29/8/2025, Thượng nghị sĩ, Chủ tịch Ủy ban Quân vụ Thượng viện Mỹ, ông Roger Wicker và Thượng nghị sĩ Deb Fischer đã đến thăm Đài Loan nhằm “củng cố mối quan hệ đối tác tuyệt vời mà Mỹ và Đài Loan đã có và sẽ có trong tương lai”. 

Như vậy, việc duy trì “tàu sân bay không chìm” về quân sự và “lá chắn silicon” về kinh tế chính là bảo đảm cho sự hiện diện và tồn tại cũng như khả năng phòng thủ đối của Đài Loan. Điều này sẽ giúp Mỹ có được lợi thế địa chiến lược quan trọng để kiềm chế Trung Quốc, không chỉ ở eo biển Đài Loan, mà còn đối với toàn bộ khu vực Biển Đông và hơn thế nữa.

Với Philippines: Quần đảo này đóng vai trò trọng yếu trong chiến lược của Mỹ nhằm kiểm soát Biển Đông và kiềm chế Trung Quốc ở khu vực và trên Biển Đông. Thứ nhất, về vị trí địa chiến lược, Philippines là “cửa ngõ” ra vào Biển Đông, cho phép Mỹ duy trì sự hiện diện quân sự và thực hiện các hoạt động tuần tra tự do hàng hải, hàng không, kiểm soát các tuyến đường biển quan trọng, huyết mạch của thế giới đi qua vùng biển này. Chính sự hiện diện và kiểm soát gần 70% lượng hàng hóa thương mại của thế giới lưu thông qua Biển Đông của Mỹ mới là biểu hiện sinh động và chân thực nhất cho quyền lực và vai trò “siêu cường” của Mỹ tại Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, rộng ra là tại Châu Á – Thái Bình Dương. Đồng thời, quần đảo này còn có thể giúp Mỹ nhanh chóng triển khai lực lượng để đối phó với một cuộc xung đột cả ở Biển Đông và eo biển Đài Loan nếu điều đó xảy ra. Thứ hai, Philippines là đồng minh hiệp ước lâu đời của Mỹ, mối quan hệ này thường xuyên được củng cố và nâng cấp thông qua các cuộc tập trận chung, các hoạt động hỗ trợ quân sự, đồng thời lại được gắn kết bởi các hiệp ước, thỏa thuận chung giữa hai nước như Hiệp ước Phòng thủ chung (MDT) ký năm 1951, Thỏa thuận Các lực lượng thăm viếng (VFA) ký năm 1998 và Thỏa thuận tăng cường hợp tác quốc phòng (EDCA) ký năm 2014. Đây là cơ sở pháp lý cho phép Mỹ tiếp cận các căn cứ quân sự chiến lược trên lãnh thổ Philippines, nhất là các căn cứ nằm ở phía bắc Luzon, hòn đảo lớn nhất của Philippines, nằm gần eo biển Đài Loan. Thứ ba, Philippines là quốc gia có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc ở Biển Đông, quan hệ giữa hai nước thường xuyên căng thẳng, thậm chí không ít lần rơi vào nguy cơ xảy ra xung đột quân sự. Vì thế, Mỹ có thể dựa vào MDT, VFA, EDCA để phối hợp với Philippines nhằm đối phó, ngăn chặn các hành động gây hấn và bành trướng của Trung Quốc, đồng thời duy trì trật tự, đảm bảo tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông trên cơ sở các quy định của luật pháp quốc tế.

Đài Loan và Philippines tương hỗ, phối hợp với nhau, tạo thành “lá chắn kép” trong chiến lược của Mỹ kiềm chế Trung Quốc ở Biển Đông

Cả Philippines và Đài Loan đều là những đồng minh quan trọng và lâu năm của Mỹ. Thực tế những năm qua, nếu hai thực thể này không có sự hỗ trợ và giúp đỡ mạnh mẽ của Mỹ thì chưa chắc đã “đứng vững” ở khu vực, chứ đừng nói là phát huy vai trò quan trọng trong chiến lược của Mỹ nhằm kiềm chế Trung Quốc ở Biển Đông. Thế nhưng, ngoài sự hỗ trợ, giúp đỡ của Mỹ ra, hai thực thể này cũng thường không đứng độc lập, mà luôn có sự gắn kết, quan hệ tương hỗ và bổ sung cho nhau, tạo thành một sự liên kết rất chặt chẽ để Mỹ thực hiện chiến lược trên, kể cả khi có xảy ra xung đột ở Đài Loan hay Biển Đông. Theo đó, đối với Philippines, xét về mặt quân sự, các căn cứ nằm ở phía bắc đảo Luzon, nơi Mỹ được quyền tiếp cận, sẽ cho phép Mỹ nhanh chóng triển khai các lực lượng tác chiến trên không, trên biển, cũng như hỗ trợ hậu cần và các trang, thiết bị khác, giúp Mỹ kịp thời đưa ra phản ứng nếu xảy ra một kịch bản khẩn cấp ở eo biển Đài Loan. Nếu không có các căn cứ quân sự này của Philippines, thì khả năng hỗ trợ Đài Loan của Mỹ trong tình huống xảy ra xung đột sẽ bị suy giảm đáng kể, khiến cả hai đều dễ bị tổn thương hơn. Mặt khác, hiện nay đang có khoảng 150.000 công dân Philippines đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan. Nếu Trung Quốc tấn công Đài Loan bằng quân sự, sẽ gây ra một cuộc khủng hoảng nhân đạo và kinh tế lớn đối với Philippines. Do đó Manila không thể thờ ơ mà phải tìm cách phối hợp với Washington và Đài Bắc để bảo vệ Đài Loan, qua đó bảo vệ lợi ích của chính mình.  

Về phía Đài Loan, nếu xảy ra xung đột quân sự giữa Trung Quốc và Philippines ở Biển Đông, thì Đài Loan sẽ đóng vai trò như một tiền đồn hoặc căn cứ hậu cần cho các lực lượng của Mỹ. Bởi việc Mỹ được phép sử dụng các căn cứ hoặc cơ sở hạ tầng ở Đài Loan sẽ giúp tăng cường khả năng hoạt động và tiếp tế của họ trong khu vực một cách nhanh nhất. Mặt khác, khi xảy ra xung đột ở Biển Đông, thì bằng việc duy trì cảnh giác cao độ và tăng cường khả năng phòng thủ của mình, Đài Loan có thể buộc Trung Quốc phải phân tán lực lượng quân sự giữa hai mặt trận: Biển Đông và eo biển Đài Loan, qua đó làm giảm áp lực quân sự lên Philippines. Hơn nữa, Đài Loan còn có thể sẽ chia sẻ với Mỹ và Philippines thông tin tình báo và giám sát về các hoạt động trong thời gian thực của Trung Quốc ở Biển Đông, giúp hai nước này có cái nhìn toàn diện hơn về tình hình để kịp thời đưa ra các quyết sách chiến lược hiệu quả. Có thể nói, chiến lược FOIP của Mỹ có rất nhiều nội dung quan trọng và có tác dụng đáng nể trong đảm bảo vai trò, vị thế và lợi ích của Mỹ tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Nhưng phải nói trong đó, Mỹ đã đánh giá cao và sử dụng hiệu quả cả Đài Loan và Philippines cho chiến lược của mình. Philippines giống như chiếc “mỏ neo” cắm ở Biển Đông, chẳng những là một “lá chắn” vững chắc giúp Mỹ duy trì sự hiện diện sức mạnh quân sự ở vùng biển nhạy cảm và phức tạp nhất thế giới này, mà còn góp phần giúp Mỹ khuyếch trương vai trò, vị thế “siêu cường” tại khu vực. Trong khi đó, Đài Loan không những là một “hàng rào” tự nhiên trước Trung Quốc, mà còn là “lá chắn kinh tế” rất hiệu quả, khiến Mỹ không thể sao nhãng, mà ngược lại, cần phải tăng cường củng cố hơn nữa. Sự kết hợp giữa khả năng phòng thủ của Đài Loan với các căn cứ tiền tiêu của Philippines sẽ là một lợi thế lớn để Mỹ kiềm chế Trung Quốc ở Biển Đông, kể cả khi Bắc Kinh phát động một cuộc chiến ở Biển Đông hoặc eo biển Đài Loan.

]]>
Nửa năm cầm quyền của Trump và vấn đề Biển Đông https://biendong.net/2025/10/01/nua-nam-cam-quyen-cua-trump-va-van-de-bien-dong/ Wed, 01 Oct 2025 16:25:55 +0000 https://biendong.net/?p=161798 6 tháng sau khi Tổng thống Donald Trump nhậm chức nhiệm kỳ 2, chính sách Biển Đông của chính quyền Mỹ phần lớn vẫn tiếp tục theo quỹ đạo của Trump 1.0 và chính quyền Biden.

Cụ thể, Trump đã tập trung vào việc tận dụng vấn đề Biển Đông để tăng cường hợp tác an ninh với các đồng minh cả trong và ngoài khu vực. Mục tiêu của chiến lược này là xây dựng một liên minh hàng hải nhằm kiềm chế Trung Quốc, đồng thời khuếch đại các nỗ lực chính trị và truyền thông để định hình nhận thức quốc tế về mối đe dọa từ Trung Quốc. Sử dụng đối đầu và áp lực làm công cụ chính, chính sách Biển Đông của Trump tìm kiếm thêm đòn bẩy trong cuộc cạnh tranh chiến lược rộng lớn hơn với Trung Quốc. Tuy nhiên, cách tiếp cận này có thể làm trầm trọng thêm những bất ổn.

Tổng thống Donald Trump đã công bố Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ trong nhiệm kỳ đầu tiên, định vị Biển Đông là khu vực cốt lõi và mô tả các hoạt động của Trung Quốc tại đây là một hình thức bành trướng địa chiến lược theo kiểu “cắt lát salami”; đồng thời, coi các yêu sách phi pháp và những hành vi hung hăng của Trung Quốc bắt nạt cưỡng ép các nước láng giềng ven Biển Đông là thách thức đối với Washington.

Trong nhiệm kỳ đầu tiên, Tổng thống Trump đã áp dụng lập trường quyết đoán hơn ở Biển Đông. Ông đã điều chỉnh các tuyên bố chính sách nhằm phủ nhận quyền và lợi ích của Trung Quốc trong khu vực, đồng thời ủng hộ những yêu sách của các nước như Việt Nam và Philippines. Ông Trump cũng áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với các thực thể và cá nhân Trung Quốc liên quan đến việc xây dựng các đảo và rạn san hô nhân tạo trong khu vực. Ngoài ra, ông còn tăng cường các hoạt động “tự do hàng hải” của Mỹ, nâng cấp trinh sát và các cuộc tập trận quân sự, đồng thời tích cực vận động các đồng minh trong và ngoài khu vực củng cố sự hiện diện quân sự tại khu vực.

Ngày 31/5/2025, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth đã tham dự Đối thoại Shangri-La và có bài phát biểu phác thảo tầm nhìn an ninh của Mỹ đối với khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và chiến lược của nước này nhằm giải quyết thách thức được cho là từ Trung Quốc. Trong bài phát biểu của mình, Bộ trưởng Quốc phòng Hegseth đã cho rằng “Trung Quốc đang tìm cách trở thành một thế lực bá chủ ở châu Á. Họ hy vọng sẽ thống trị và kiểm soát trong khu vực năng động và quan trọng này thông qua việc tăng cường quân sự mạnh mẽ và sẵn sàng sử dụng vũ lực để đạt được mục tiêu, bao gồm cả chiến thuật vùng xám và chiến tranh hỗn hợp, Trung Quốc đã chứng minh rằng họ muốn thay đổi căn bản hiện trạng của khu vực.” Ngoài ra, ông Hegseth cũng cáo buộc “Trung Quốc đang quấy rối các nước láng giềng” và “thách thức chủ quyền, tự do hàng hải và hàng không” tại khu vực Biển Đông. Ông cho biết “bất kỳ nỗ lực nào nhằm đơn phương thay đổi hiện trạng ở Biển Đông và Chuỗi đảo thứ nhất[1] thông qua việc sử dụng vũ lực hoặc cưỡng ép đều không thể chấp nhận được”.

Lập trường mới nhất này của Mỹ cho thấy, trong bối cảnh cạnh tranh địa chiến lược ngày càng gia tăng với Trung Quốc, chính quyền Trump nhiệm kỳ 2 sẽ duy trì lập trường cứng rắn về Biển Đông và áp dụng các chính sách can thiệp quân sự thực chất hơn, thể hiện trên một số điểm sau:

Thứ nhất, Mỹ dự kiến sẽ tăng đáng kể mức viện trợ cho Philippines, định vị nước này là một “mắt xích quân sự” quan trọng ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Nhằm theo đuổi mục tiêu chiến lược chống lại Trung Quốc thông qua các biện pháp hàng hải, chính quyền Trump tiếp tục đường hướng chính sách của thời kỳ Biden bằng cách làm sâu sắc thêm liên minh Mỹ – Philippines. Washington đang tích cực ủng hộ Manila trong nỗ lực đẩy lùi Bắc Kinh, tái khẳng định các cam kết an ninh đồng thời đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa và trang bị vũ khí cho Quân đội Philippines. Điều này bao gồm việc thúc đẩy triển khai quân sự trong và xung quanh Biển Đông. Theo các chuyên gia quân sự, quan điểm chia sẻ gánh vác trách nhiệm phòng thủ với các đồng minh của chính quyền Trump nhiệm kỳ 2 đồng nghĩa với việc Manila sẽ phải chi tiêu nhiều hơn cho quốc phòng, nhưng cũng sẽ nhận được sự hỗ trợ lớn từ Mỹ để nâng cao năng lực đối phó với các chiến thuật “vùng xám” của Trung Quốc ở Biển Đông.

Giới phân tích dự báo trong bối cảnh tranh chấp trên biển ngày càng căng thẳng, nhiều khả năng Washington sẽ cung cấp thêm hệ thống vũ khí tiên tiến cho Manila để trấn an đồng minh lâu đời nhất của họ ở châu Á. Trên thực tế, Mỹ đã đẩy nhanh việc triển khai các hệ thống vũ khí tiên tiến tại Philippines, mở rộng sự hiện diện của các khí tài chiến thuật như hệ thống tên lửa tầm trung Typhoon và hệ thống tên lửa chống hạm NMESIS. Mục tiêu là thiết lập một “mạng lưới hỏa lực ba tầng” có khả năng bao phủ Biển Đông và từ đó tăng cường khả năng chống lại các năng lực chống tiếp cận/chống xâm nhập khu vực (A2/AD) của Trung Quốc trong chuỗi đảo thứ nhất.

Mỹ cũng đưa những hệ thống vũ khí tiên tiến khác như máy bay không người lái trên biển và trên không (hệ thống vũ khí được thiết kế để đối phó với thiết bị không người lái tấn công ồ ạt máy bay không người lái trên biển và trên không) đến tham gia chương trình tập trận chung với Philippines trong năm nay. Sau các cuộc tập trận hệ thống NMESIS được Mỹ tiếp tục để lại cho đồng minh giống như cách họ đã làm với hệ thống tên lửa tầm trung Typhon mà Lầu Năm Góc đưa đến Philippines vào tháng 4/2024. Ngoài ra, còn nhiều hệ thống chống máy bay không người lái trên không và trên biển được để lại ở Philippines sau khi kết thúc tập trận. Hải quân Philippines có đơn vị chuyên vận hành thiết bị không người lái mặt nước sau khi tiếp nhận tàu mặt nước không người lái Mantas T12 và Devil Ray T38 do Mỹ sản xuất. Giới phân tích nhận định việc đưa các vũ khí tiên tiến tới Philippines tập trận rồi không rời đi được coi là cách thức để các vũ khí hiện đại của Mỹ hiện diện ở Philippines nhằm thiết lập sự răn đe mới như Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Hegseth đã tuyên bố.

Theo một số nguồn tin quân sự, Quân đội Mỹ còn đang có kế hoạch xây dựng kho thiết bị lớn nhất thế giới gần Căn cứ Hải quân Vịnh Subic ở Philippines. Sự phát triển này có thể đánh dấu sáng kiến hậu cần quân sự quan trọng nhất của Mỹ tại quốc gia này kể từ khi Quân đội Mỹ rút khỏi Philippines vào năm 1992. Mặt khác, Mỹ cũng đang xem xét mở rộng hợp tác công nghiệp quốc phòng với Philippines. Đầu năm nay, Washington cho biết hai bên đã xác định một số lĩnh vực hợp tác, bao gồm thiết bị không người lái, đạn dược và hỗ trợ hậu cần, bảo dưỡng và sửa chữa tàu và máy bay.

Thứ hai, Mỹ đang tăng cường sự tham gia tập thể và thể chế hóa ở Biển Đông cùng với các đồng minh. Kể từ khi Trump trở lại nắm quyền, ông đã sử dụng Philippines như một trục chiến lược. Các cuộc tập trận quân sự thường xuyên với Manila và các đồng minh châu Á – Thái Bình Dương khác ở Biển Đông đã được tiến hành – các hoạt động nhằm hội nhập sâu hơn vào mạng lưới quân sự Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương với lý do giải quyết các mối quan ngại an ninh khu vực. Cuộc tập trận chung Balikatan giữa Mỹ và Philippines năm nay đã đạt quy mô lịch sử, với sự tham gia lần đầu tiên của Nhật Bản và Úc dưới hình thức các đội đặc nhiệm.

Khi tiếp tục thể chế hóa hợp tác an ninh đa phương ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương trong thời kỳ Trump 2.0, Mỹ dự kiến sẽ tận dụng các cơ chế này như những công cụ và nền tảng cho các can thiệp trong tương lai vào Biển Đông. Phối hợp với Nhật Bản, Úc, Ấn Độ và các nước khác, Mỹ đặt mục tiêu hình thành một “vành đai răn đe”. Washington cũng sẽ tăng cường năng lực hoạt động của các khuôn khổ tiểu đa phương như QUAD (Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ, Úc) và SQUAD (Mỹ, Nhật Bản, Philippines, Úc), giúp các liên minh này sẵn sàng chiến đấu và định hướng nhiệm vụ tốt hơn.

Ngoài ra, Quân đội Mỹ sẽ đẩy nhanh việc xây dựng và nâng cấp các căn cứ ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, đặc biệt là ở Philippines. Những nỗ lực này sẽ được tích hợp với các vị trí chiến lược khác, bao gồm Nhật Bản, Guam và Diego Garcia, để hình thành một “chuỗi can thiệp tiền phương” nhằm tái thiết hiệu quả cấu trúc răn đe của chuỗi đảo thứ nhất.

Thứ ba, Mỹ đang củng cố khuôn khổ chiến lược được gọi là “liên kết ba biển”. Theo chính sách của chính quyền Trump 2.0, sẽ có những nỗ lực mạnh mẽ hơn nhằm gắn kết Biển Đông, Eo biển Đài Loan và Biển Hoa Đông thành một vùng chiến trường duy nhất. Năm nay, cuộc tập trận quân sự Balikatan giữa Mỹ và Philippines đã mô phỏng rõ ràng một kịch bản xung đột ở Eo biển Đài Loan, phản ánh xu hướng quan tâm và can dự ngày càng tăng của Mỹ và Philippines trong một tình huống bất ngờ tiềm tàng của Đài Loan.

Trong cuộc tập trận Balikatan diễn ra từ ngày 21/4 – 9/5/2025 và cuộc tập trận Kamandag lần thứ chín diễn ra từ ngày 26/5 – 6/6/2025 (với sự tham gia của Mỹ, Philippines, Nhật Bản, Hàn Quốc và Anh) các bệ phóng tên lửa chống hạm NMESIS và hệ thống pháo phản lực HIMARS của Lục quân Mỹ đã được triển khai tới đảo Batanes của Philippines, nằm giữa đảo Luzon và Đài Loan. NMESIS – gồm xe tải chở 2 bệ phóng tên lửa có tầm bắn lên tới 185 km – là hệ thống phòng thủ bờ biển có thể ngăn chặn các tàu chiến trong trường hợp xảy ra xung đột trên vùng biển gần Philippines. Các cuộc tập trận bắn đạn thật được tiến hành, tập trung vào các hoạt động chống hạm. Đáng chú ý, các cơ sở quân sự mới của Mỹ chủ yếu đặt gần Kênh Bashi, ngăn cách đảo chính Luzon của Philippines với Đài Loan, phía Bắc Biển Đông. Washington cũng đã triển khai các hệ thống tên lửa chiến đấu mạnh mẽ đến Luzon, có khả năng tấn công các mục tiêu sâu trong đất liền Trung Quốc.

 Trong những tháng gần đây, Philippines đã có lập trường chủ động hơn trên  các vấn đề liên quan đến Đài Loan. Trong tương lai, Manila dự kiến sẽ tăng cường hợp tác với Quân đội Mỹ tại Eo biển Đài Loan, đặc biệt là trong việc hỗ trợ các nỗ lực của Mỹ nhằm thiết lập quyền kiểm soát trực tiếp đối với Kênh đào Bashi và các lối vào phía Nam của eo biển. Mục tiêu là có thể ngăn chặn sự di chuyển của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) ở phía Đông hòn đảo trong trường hợp xảy ra xung đột.

Cùng với đó, Hải quân Mỹ, Nhật Bản và Philippines còn tiến hành tập trận hàng hải chung ngoài khơi vùng biển Tây Nam Nhật Bản từ 16 đến 20/6/2025 nhằm tăng cường khả năng ứng phó và phối hợp giữa hải quân 3 nước hướng tới mục tiêu thúc đẩy một khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở. Những động thái này cho thấy tính chất phối hợp, liên chiến trường trong các hoạt động chuẩn bị của Mỹ với các đồng minh trên ba vùng biển – Biển Đông, Eo biển Đài Loan và Biển Hoa Đông.

Giới quan sát nhận định mặc dù kể từ khi nhậm chức nhiệm kỳ 2, Tổng thống không có những phát biểu công khai đề cập tới Biển Đông, song trên thực tế chính quyền của Tổng thống Trump nhiệm kỳ 2 đã có những bước đi cụ thể tăng cường quan hệ đồng minh quân sự với Philippines – nơi được coi là chốt chặn quan trọng ngăn Trung Quốc khống chế, thôn tính Biển Đông để vượt qua chuỗi đảo thứ nhất và cũng là địa điểm lý tưởng chuẩn bị cho tình huống xấu trong trường hợp Bắc Kinh tiến hành một cuộc tấn công vũ trang đánh chiếm Đài Loan.

Tóm lại, nửa năm đầu tiên trong nhiệm kỳ 2 của chính quyền Trump, mặc dù phải bận rộn với cuộc chiến ở Ukraine và xung đột Trung Đông, song Washington vẫn coi việc ngăn chặn, kiềm chế Trung Quốc, bảo vệ lợi ích, duy trì ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, trong đó có Biển Đông là nhiệm vụ được ưu tiên. Trong bối cảnh đó, Philippines đã nhanh chóng nổi lên như một yếu tố đáng tin cậy và có ý nghĩa trong chiến lược răn đe tổng hợp do Mỹ dẫn đầu nhằm chống lại một Trung Quốc đang ngày càng hung hăng./.


[1] Chuỗi đảo thứ nhất là một chuỗi các quần đảo lớn đầu tiên ở Thái Bình Dương, trải dài từ Bán đảo Kamchatka (Nga) ở phía đông bắc xuống Bán đảo Mã Lai ở phía tây nam. Chuỗi này bao gồm Quần đảo Kuril, Nhật Bản, Lưu Cầu, Đài Loan, miền bắc Philippines và Borneo.

]]>
Tập trận Balikatal 2025: Dấu ấn triển khai quan điểm của Mỹ tại Biển Đông https://biendong.net/2025/08/15/tap-tran-balikatal-2025-dau-an-trien-khai-quan-diem-cua-my-tai-bien-dong/ Fri, 15 Aug 2025 07:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=155069 Từ ngày 21/4 đến 09/5/2025, Mỹ và Philippines đã tổ chức cuộc tập trận quân sự chung thường niên giữa hai nước mang tên Balikatan lần thứ 40.

Ngoài mục tiêu kiểm tra, nâng cao năng lực phòng thủ và khả năng tương tác giữa quân đội hai nước, giới chuyên gia quân sự thế giới và khu vực còn cho rằng, so với các năm trước, cuộc tập trận Balikatan năm 2025 đã xuất hiện khá nhiều dấu ấn mang quan điểm “hòa bình dựa trên sức mạnh” của chính quyền Tổng thống D.Trump nhiệm kỳ hai. Điều này rất được dư luận quan tâm và đang tiếp tục theo dõi, đặc biệt là những động thái, bước đi tiếp theo trong cuộc cạnh tranh chiến lược Mỹ – Trung trên Biển Đông.

Những nội dung cơ bản về quan điểm “hòa bình dựa trên sức mạnh” của Tổng thống D.Trump trong nhiệm kỳ hai

“Hòa bình dựa trên sức mạnh” là một quan điểm triết lý cốt lõi trong chính sách đối ngoại của Tổng thống D.Trump trong nhiệm kỳ hai. Ông nhấn mạnh rằng, một nước Mỹ hùng mạnh về quân sự và kinh tế là nền tảng để duy trì hòa bình và đảm bảo lợi ích quốc gia của Mỹ. Quan điểm này được thể hiện trên các khía cạnh sau:

Một là, phải xây dựng sức mạnh quân sự của nước Mỹ vượt trội các nước khác. Bởi vì theo ông D.Trump, việc tăng cường chi phí ngân sách, đầu tư mạnh mẽ mọi nguồn lực cho quân đội, củng cố năng lực quốc phòng và duy trì ưu thế quân sự vượt trội là phương cách hiệu quả nhất để ngăn ngừa, răn đe các đối thủ và ngăn chặn xung đột. Điều này đòi hỏi chính quyền phải tiến hành triển khai các công việc trọng đại như tăng cường chi tiêu quốc phòng, hiện đại hóa vũ khí, trang bị, đảm bảo cho quân đội Mỹ có khả năng hoạt động hiệu quả trên nhiều mặt trận, nhiều khu vực khác nhau.

Hai là, phải đặt “lợi ích nước Mỹ lên trên hết”. Đây được coi là nguyên tắc định hướng cho mọi chính sách của ông D.Trump trong nhiệm kỳ hai, trong đó bao gồm cả chính sách đối ngoại. Vì thế, “Hòa bình dựa trên sức mạnh” phải gắn liền với việc ưu tiên lợi ích quốc gia của Mỹ, bảo vệ kinh tế trong nước thông qua chính sách bảo hộ thương mại và tái định hình các mối quan hệ quốc tế để phục vụ mục tiêu này.

Ba là, cạnh tranh quyết liệt với các cường quốc. Theo đó, Mỹ phải thể hiện lập trường cứng rắn, kiên quyết trong duy trì và khẳng định lợi ích Mỹ trên thế giới và các khu vực Mỹ có ảnh hưởng, đặc biệt là với các đối thủ chiến lược như Trung Quốc và Nga. Điều này có thể bao gồm cả việc áp đặt các biện pháp trừng phạt, tăng cường hiện diện quân sự ở các khu vực chiến lược và không nhân nhượng trước những hành vi mà Mỹ coi là gây hấn hoặc cưỡng ép.

Bốn là, coi trọng chủ nghĩa đa phương thực dụng. Mặc dù ủng hộ và đề cao sức mạnh đơn phương của Mỹ, nhưng ông D.Trump cũng không hoàn toàn phủ nhận và bác bỏ chủ nghĩa đa phương trong huy động sức mạnh, mà sẽ tiếp cận nó một cách thực dụng hơn. Các thỏa thuận và tổ chức đa phương sẽ được đánh giá dựa trên mức độ chúng phục vụ lợi ích của Mỹ. Ông cũng có thể gây áp lực để các đồng minh phải đóng góp nhiều hơn vào chi phí quốc phòng và an ninh chung.

Năm là, giải quyết xung đột, mâu thuẫn thông qua đàm phán dựa trên vị thế sức mạnh. Thay vì can thiệp quân sự trực tiếp, ông D.Trump có thể ưu tiên các giải pháp đàm phán, nhưng với điều kiện Mỹ phải ở thế thượng phong. Ông tin rằng sức mạnh sẽ buộc các bên phải nghiêm túc đàm phán và chấp nhận các điều khoản có lợi cho Mỹ.

Như vậy, có thể nói quan điểm “hòa bình dựa trên sức mạnh” của Tổng thống D.Trump được áp dụng trong nhiệm kỳ hai của ông là một quyết sách chiến lược mang tính thực dụng và quyết đoán, đặt trọng tâm vào việc củng cố nội lực của nước Mỹ cả về quân sự và kinh tế, tiếp tục xác lập vai trò “siêu cường” thế giới, tạo ra vị thế đàm phán mạnh mẽ, qua đó duy trì hòa bình và bảo vệ lợi ích quốc gia của Mỹ.

Dấu ấn đáng chú ý của quan điểm “hòa bình dựa trên sức mạnh” của Mỹ xuất hiện trong cuộc tập trận Balikatan năm 2025

Trong bối cảnh các vấn đề an ninh của châu Á – Thái Bình Dương trong nửa đầu năm 2025 đang có những diễn biến khá phức tạp như đụng độ quân sự giữa Ấn Độ và Pakistan vừa diễn ra, chiến tranh Ixraen – Iran liên quan đến chương trình hạt nhân đang “nóng bỏng” thì Mỹ và Philippines tổ chức tập trận Balikatan. Mặc dù đây là cuộc tập trận thường niên theo thỏa thuận giữa hai nước, được tổ chức tại vùng lãnh thổ của Philippines, có liên quan đến Biển Đông nhưng nó được giới chuyên gia, nhất là chuyên gia quân sự thế giới và khu vực rất quan tâm, theo dõi.  Bởi người ta đã đoán định, những gì ẩn chứa trong quan điểm “hòa bình dựa trên sức mạnh” của ông D.Trump rất có thể sẽ xuất hiện thông qua cuộc tập trận này. Dự đoán trên quả không sai, một loạt vấn đề liên quan đến quan điểm “hòa bình dựa trên sức mạnh” của ông D.Trump đã thấy xuất hiện trong cuộc tập trận này, trong đó nổi bật nhất là các nội dung sau:

Thứ nhất, qui mô lực lượng tham gia cuộc tập trận khá lớn, có sự tham gia trực tiếp của lực lượng quân sự một số nước là đồng minh của Mỹ.

Tập trận Balikatan năm 2025 có sự tham gia của khoảng 17.000 binh sỹ. Trong đó, ngoài các binh sỹ Mỹ và Philippines, còn có sự tham gia trực tiếp của hàng trăm binh sỹ đến từ Australia và Nhật Bản. Gần 20 quốc gia khác từ Châu Âu, Châu Á, Châu Úc tới Châu Mỹ cũng tham dự với tư cách quan sát viên, bao gồm Canada, Đức, Cộng hòa Séc, Pháp, Lithuania, Hà Lan, Vương quốc Anh; Ấn Độ, Indonesia, Brunei, Malaysia, New Zealand, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan và Việt Nam. Số lượng này tương đương với tập trận Balikatan năm 2024 – năm có qui mô lớn nhất từ trước tới nay. Điều đó cho thấy quyết tâm chính trị của Mỹ và Philippines trong cuộc tập trận này là ngày càng lớn, không chỉ đơn thuần là nhằm nâng cao nhu cầu tác chiến phối hợp giữa quân đội hai nước nữa, mà đang tìm cách vươn lên chiếm ưu thế “vượt trội” về sức mạnh liên kết đa quốc gia để đối phó với các thách thức đang nổi lên ở khu vực, nhất là tại Biển Đông. Đặc biệt, sự tham gia trực tiếp của lực lượng quân sự hai nước Nhật Bản và Australia là vấn đề nhận được sự quan tâm lớn của dư luận. Với Nhật Bản, sau khi ký “Thỏa thuận tiếp cận đối ứng” (RAA) với Philippines ngày 08/7/2024, năm nay Nhật Bản tham gia cuộc tập trận này với tư cách trực tiếp chứ không phải là tư cách quan sát viên như các năm trước. Đây là bước đi mới nhất, tạo điều kiện cho Nhật Bản đóng vai trò “nặng ký” và quyết đoán hơn trong các vấn đề an ninh của đất nước cũng như khu vực. RAA ra đời không chỉ cho phép Nhật Bản tham gia trực tiếp vào các cuộc tập trận Balikatan những năm tiếp theo, mà còn có thể chuyển giao các sáng  kiến công nghệ và đào tạo về quốc phòng cho Philippines, giúp Manila nâng cao khả năng phòng thủ và có sự quyết đoán, cứng rắn hơn trong nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông trước các hành vi gây hấn của Trung Quốc. Với Australia, điểm đáng chú ý ở đây là, hiện nay Canberra đang tích cực xây dựng kiến trúc an ninh nhiều lớp, bao gồm: 1/ Liên minh song phương với Mỹ ngày càng được củng cố; 2/ Thỏa thuận trong nhóm AUKUS gồm Mỹ, Anh, Australia gần đây về việc mua sắm tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân và các công nghệ tiên tiến; 3/ Đối thoại an ninh bốn bên trong nhóm “Bộ Tứ” với Mỹ, Nhật Bản và Ấn Độ về an ninh khu vực; 4/ Mạng lưới quan hệ song phương và đa phương của Australia ngày càng mở rộng với các nước ASEAN. Sự phân lớp này cho phép Australia mạnh dạn triển khai tầm mức ảnh hưởng vượt ra ngoài các lợi ích truyền thống của họ ở Nam Thái Bình Dương, hướng tới Đông Nam Á. Cuộc tập trận Balikatan hàng năm chính là cơ hội để Lực lượng Phòng vệ Australia nâng cao khả năng hoạt động trong các điều kiện địa lý và tác chiến có liên quan đến các tình huống bất trắc tiềm ẩn ở Biển Đông, khu vực đang ngày càng trở thành mối quan tâm chiến lược của Canberra.

          Theo một khía cạnh khác, cụm từ Balikatan trong tiếng Tagalog có nghĩa là “vai kề vai”. Sự tham gia trực tiếp của quân đội Australia và Nhật Bản, cùng với các quan sát viên từ 16 quốc gia khác cho thấy, Mỹ và Philippines giờ đây không chỉ “vai kề vai” cùng nhau như đã có, mà còn “kề vai, sát cánh” với nhiều đồng minh, đối tác hơn để biến cuộc tập trận song phương này thành một “liên minh quân sự đa phương” ở Biển Đông theo quan điểm “hòa bình dựa trên sức mạnh” của Tổng thống D.Trump nhằm đối phó với các hoạt động quân sự ngày càng gia tăng của Trung Quốc.

Vì thế, khi nhận xét về sự tham gia của lực lượng quân đội các nước trong cuộc tập trận Balikatan năm 2025, Trung tướng James Glynn – Tư lệnh Lực lượng Thủy quân Lục chiến Mỹ tại Thái Bình Dương cho rằng: “Cùng với đồng minh kiên định ở khu vực là Philippines và sự tham gia ngày càng tăng của các quốc gia có lợi ích quan trọng chung như Australia và Nhật Bản, chúng tôi đang hoạt động như một lực lượng với năng lực hỗ trợ lẫn nhau, sẵn sàng ứng phó với các thách thức và bảo vệ một khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở”.

Thứ hai, xuất hiện nhiều loại vũ khí, khí tài quân sự tiên tiến, hiện đại được đưa tới tham gia tập trận và được triển khai cả ở các vị trí rất nhạy cảm, có tính răn đe cao đối với các hoạt động mang tính “cưỡng bức”của Trung Quốc ở Biển Đông và eo biển Đài Loan.

Trong cuộc tập trận Balikatan năm 2024, Mỹ đã đưa hệ thống tên lửa tầm trung Typhon đến ra mắt các bên tham gia và hiện diện trên lãnh thổ Philippines – điều đã khiến Trung Quốc phản ứng rất mạnh mẽ, nhưng thực tế thì hệ thống tên lửa này không thực hiện vụ phóng nào, mà chỉ diễn tập về hậu cần, bố trí, cơ động. Nhưng năm nay, lần đầu tiên hệ thống này, bao gồm tên lửa SM-6 và tên lửa Tomahawk đã được Mỹ triển khai tới tỉnh Cagayan ở miền Bắc Philippines, khu vực gần Đài Loan và các tuyến đường hàng hải trọng yếu ở Biển Đông. Không chỉ có hệ thống tên lửa tầm trung Typhon, mà còn có cả hệ thống phòng thủ bờ biển mang tên NMESIS và tổ hợp phòng không MADIS cũng được Mỹ triển khai. Sự hiện diện của các hệ thống tên lửa tối tân này cho thấy, Balikatan năm 2025 không còn là cuộc diễn tập phòng thủ đơn thuần nữa, mà đã là cuộc diễn tập mô phỏng thực chiến với đầy đủ các kịch bản phối hợp tác chiến giữa các lực lượng trên biển, trên không và trên bộ rất uy lực, bao gồm bảo đảm an ninh hàng hải, bắn đạn thật chống đổ bộ, phòng thủ tích hợp trên không và tên lửa… Điều này khẳng định năng lực và sự sẵn sàng của Mỹ trong việc “sử dụng sức mạnh” để đối phó với các thách thức an ninh tại Biển Đông.

Thứ ba, Mỹ không những chỉ “diễu võ” trên thực địa mà còn công khai “giương oai” rất mạnh mẽ trên phương diện truyền thông, tuyên truyền nhằm gửi thông điệp răn đe tới đối thủ tiềm năng.

Ngoài việc đưa vào cuộc tập trận này các loại vũ khí tiên tiến như đã nói ở trên nhằm nâng cao khả năng phòng thủ của Philippines và Mỹ, thể hiện sự quyết tâm bảo vệ chủ quyền và lợi ích an ninh hàng hải, một số quan chức quốc phòng của Mỹ còn đưa ra các tuyên bố mang tính răn đe rất mạnh mẽ. Điển hình là, khi cuộc tập trận Balikatan năm 2025 bắt đầu triển khai, Đô đốc John Aquilino – Tư lệnh Bộ Chỉ huy Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ, đã tuyên bố, cuộc tập trận năm nay sẽ “mang tính răn đe thực chất hơn, trước các hành vi cưỡng ép và đơn phương làm thay đổi hiện trạng ở Biển Đông và quanh eo biển Đài Loan”. Mặc dù viên đô đốc này không nêu cụ thể tên nước nào có hành vi cưỡng ép và đơn phương, nhưng ai cũng hiểu thông điệp cứng rắn này của Mỹ không nhằm vào đối thủ nào khác trong khu vực ngoài Trung Quốc. Điều này phù hợp với cách tiếp cận thực dụng của ông D.Trump, đó là ưu tiên bảo vệ lợi ích quốc gia và các đồng minh trước các mối đe dọa hiện hữu ở Biển Đông. Do tính chất răn đe lớn như vậy, nên Trung Quốc cũng “chạm nọc” và không chịu ngồi yên, tìm cách đáp trả. Theo đó, vào thời gian cuộc tập trận đang ở cao điểm, Bắc Kinh đã điều nhóm tàu sân bay Sơn Đông vào khu vực phía đông Philippines. Có thể khẳng định rằng, cuộc tập trận Balikatan năm 2025 là một thực tế điển hình minh chứng quan điểm “hòa bình dựa trên sức mạnh” của Tổng thống D.Trump đã được thể hiện trong thực tiễn thi hành chính sách đối ngoại của Mỹ. Thông qua việc tăng cường sức mạnh quân sự, tái cấu trúc quan hệ đồng minh dựa trên chia sẻ gánh nặng và tập trung vào các khu vực chiến lược quan trọng, trong đó có Biển Đông, nước Mỹ dưới thời Tổng thống D. Trump nhiệm kỳ hai đang nỗ lực củng cố vị thế lãnh đạo thế giới của mình và răn đe các đối thủ tiềm tàng. Cuộc tập trận này không chỉ nâng cao năng lực phòng thủ của hai nước Mỹ – Phi, mà còn gửi đi một thông điệp rõ ràng về cam kết của Mỹ đối với an ninh và ổn định khu vực, nhất là đối với những thách thức đến từ phía Trung Quốc. Màn khói súng của cuộc tập trận Balikatan năm 2025 đã tan, nhưng âm vang của “tín hiệu răn đe” từ cuộc tập trận này vẫn còn đó và mạnh mẽ hơn rất nhiều so với các lần tập trận trước. Song đương nhiên, Bắc Kinh chưa chắc đã chịu “ngồi yên xem thiên hạ diễn”, mà sẽ có sự đáp trả quyết liệt hơn, theo kiểu đáp trả chính sách áp thuế đối ứng của ông D.Trump đối với Trung Quốc vừa qua. Vì thế, mong muốn có một môi trường hòa bình, ổn định để phát triển của tất cả các nước ven Biển Đông sẽ tiếp tục bị đe dọa và đứng trước nhiều khó khăn, thách thức khó lường hơn.

]]>
Đài Loan trong cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và TQ: Tác động và ảnh hưởng đối với vấn đề Biển Đông https://biendong.net/2025/08/15/dai-loan-trong-canh-tranh-chien-luoc-giua-my-va-tq-tac-dong-va-anh-huong-doi-voi-van-de-bien-dong/ Fri, 15 Aug 2025 03:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=155065 Vấn đề Đài Loan là chủ đề nhạy cảm trong quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ. Trung Quốc coi Đài Loan là một phần lãnh thổ không thể tách rời và kiên trì theo đuổi mục tiêu thống nhất hòn đảo này với Đại lục; trong khi Mỹ xem vấn đề Đài Loan như một yếu tố chiến lược nhằm duy trì ảnh hưởng tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và kiềm chế Trung Quốc.

Chính sự khác biệt ấy đã thúc đẩy cạnh tranh chiến lược giữa hai quốc gia và khiến Đài Loan trở thành điểm nóng thường xuyên trên bản đồ địa chính trị khu vực. Bên cạnh đó, do vị trí nằm ở phía bắc Biển Đông và có tuyên bố yêu sách chủ quyền lãnh thổ trong khu vực này, mọi diễn biến liên quan đến Đài Loan đều có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình an ninh và ổn định tại Biển Đông.

Các động thái răn đe của Trung Quốc trong vấn đề Đài Loan

Từ đầu thế kỷ XXI, cùng với quá trình phát triển mạnh mẽ của đất nước, Trung Quốc liên tục khẳng định nguyên tắc “Một Trung Quốc” một cách công khai và cứng rắn hơn. Ngày 21/02/2000, Văn phòng Quốc vụ viện Trung Quốc đã công bố Sách trắng “Nguyên tắc một nước Trung Quốc và vấn đề Đài Loan”, nêu rõ rằng Đài Loan là một phần lãnh thổ của Trung Quốc; đồng thời nhấn mạnh bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là trọng tâm của nguyên tắc này. Đại hội XVI Đảng Cộng sản Trung Quốc (11/2002) tiếp tục khẳng định: “… vấn đề Đài Loan không thể kéo dài vô thời hạn… sự nghiệp thống nhất hoàn toàn đất nước sẽ sớm được thực hiện”. Tháng 6/2004, Chủ tịch Quân uỷ Trung ương Trung Quốc khi đó, ông Giang Trạch Dân, tuyên bố rằng thời hạn cuối cùng cho việc thống nhất Đài Loan là vào năm 2020. Đại hội XX Đảng Cộng sản Trung Quốc (10/2022) tái khẳng định lập trường không nhượng bộ về vấn đề Đài Loan và đặt mục tiêu thống nhất đất nước trước năm 2049 – kỷ niệm 100 năm ngày thành lập Nước CHND Trung Hoa. Tình báo Mỹ và Đài Loan dự báo Trung Quốc có thể thu hồi Đài Loan vào năm 2027, khi nước này hướng đến xây dựng quân đội hàng đầu thế giới.

Để thực hiện các chính sách và mục tiêu đã đề ra, trong những năm gần đây, Trung Quốc đã triển khai nhiều biện pháp trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Cụ thể:

Thứ nhất, về lĩnh vực chính trị – ngoại giao: Tháng 3/2025, tại kỳ họp Quốc hội Trung Quốc, Thủ tướng Lý Cường nhấn mạnh việc Trung Quốc “kiên quyết thúc đẩy” tiến trình tái thống nhất với Đài Loan, tuy nhiên không đề cập đến giải pháp hòa bình trong bài phát biểu. Điều này cho thấy lập trường của Trung Quốc đối với vấn đề Đài Loan có xu hướng cứng rắn hơn.

Trên trường quốc tế, Trung Quốc tiếp tục gia tăng áp lực ngoại giao đối với các quốc gia công nhận Đài Loan là một quốc gia độc lập, dẫn đến việc số lượng quốc gia thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với Đài Loan ngày càng giảm. Đầu những năm 2000, Đài Loan có quan hệ ở cấp độ nhà nước với khoảng 20 quốc gia, nhưng con số này hiện chỉ còn khoảng 12 quốc gia.

Thứ hai, về quân sự: Dù ưu tiên giải pháp hòa bình, Trung Quốc vẫn không loại trừ khả năng dùng vũ lực. “Luật chống ly khai” năm 2005 cho phép nước này sử dụng vũ lực nếu Đài Loan tuyên bố độc lập hoặc không còn triển vọng thống nhất bằng hòa bình. Để chuẩn bị cho kịch bản xung đột tại eo biển Đài Loan, Trung Quốc đang triển khai đồng bộ các biện pháp quân sự sau:

1. Tăng cường tập trận quy mô lớn quanh Đài Loan: Sau chuyến thăm của bà Nancy Pelosi vào tháng 8/2022, Trung Quốc đã tiến hành 6 cuộc tập trận chưa từng có, trong đó có việc phóng 11 tên lửa đạn đạo Đông Phong bay qua đảo Đài Loan và điều máy bay chiến đấu liên tục xâm nhập vùng nhận diện phòng không (ADIZ). Gần đây, Bắc Kinh tiếp tục duy trì áp lực bằng cách điều 45 máy bay tiếp cận Đài Loan (27/2/2025) và 50 lượt máy bay khác chỉ trong hai ngày (19–20/6/2025).

2. Gia tăng áp lực bằng chiến thuật “vùng xám”: Trung Quốc thường xuyên tổ chức các cuộc tập trận mô phỏng phong tỏa, cho máy bay quân sự xâm nhập ADIZ và tàu chiến tiến sâu vào khu vực biển gần Kim Môn – tất cả nhằm từng bước xoá bỏ “đường trung tuyến ngầm” và kiểm soát thực địa trên không và trên biển.

3. Đẩy mạnh hiện đại hóa quân đội: Trung Quốc đang phát triển các loại vũ khí chiến lược như máy bay ném bom H-20, tên lửa siêu thanh và tăng cường kho hạt nhân. Dù chưa đủ khả năng tấn công toàn diện Đài Loan, những động thái này cho thấy Bắc Kinh đang nghiêm túc chuẩn bị cho khả năng xung đột quân sự trong tương lai.

Thứ ba, sử dụng các biện pháp kinh tế và công nghệ để gây áp lực lên Đài Loan, như hạn chế nhập khẩu một số sản phẩm nông nghiệp hoặc gây khó khăn cho các công ty Đài Loan hoạt động tại đại lục.

Thứ tư, trong quan hệ với Mỹ về vấn đề Đài Loan, Trung Quốc thường xuyên chỉ trích các động thái hỗ trợ Đài Loan của Mỹ, nhất là hoạt động bán vũ khí; coi đây là sự can thiệp vào công việc nội bộ và đe dọa trả đũa. Đồng thời, Bắc Kinh tăng cường ảnh hưởng ở khu vực Đông Nam Á và châu Phi thông qua sáng kiến “Vành đai và con đường” (BRI) nhằm đối trọng với các liên minh của Mỹ như QUAD và AUKUS, qua đó gián tiếp tạo áp lực lên các đồng minh của Mỹ, làm đối trọng gây phức tạp hóa chiến lược hỗ trợ Đài Loan của Washington.

Các động thái của Mỹ nhằm lợi dụng vấn đề Đài Loan để kiềm chế Trung Quốc

Để ngăn chặn ý đồ “thu hồi” Đài Loan của Trung Quốc, Mỹ đã sử dụng Đài Loan như một “lá bài” trong chiến lược đối phó kép với Bắc Kinh. Một mặt, Washington công nhận nguyên tắc “Một Trung Quốc”; mặt khác, vẫn duy trì “Luật quan hệ với Đài Loan” được Quốc hội thông qua từ tháng 4/1979.

Mỹ tiếp tục bán vũ khí cho Đài Loan, ủng hộ hòn đảo này chống lại mô hình thống nhất của Trung Quốc, phản đối giải pháp quân sự và nhấn mạnh rằng vấn đề Đài Loan cần được giải quyết bằng biện pháp hòa bình. Đến nay, Mỹ vẫn là nhà cung cấp vũ khí chính cho Đài Loan, giúp tăng cường năng lực phòng thủ trước nguy cơ bị tấn công từ Trung Quốc.

Các gói viện trợ quân sự ngày càng có giá trị cao, với trang bị hiện đại, có tính năng tấn công, vượt xa yêu cầu phòng vệ thông thường. Năm 2022, hai bên ký kết thỏa thuận trị giá 8 tỷ USD để Mỹ cung cấp 66 máy bay chiến đấu F-16 cho Đài Loan vào năm 2026. Đáng chú ý, nhiều loại vũ khí từng bị hạn chế do lo ngại làm căng thẳng quan hệ Trung – Mỹ, nay đã được đưa vào danh sách cung cấp cho Đài Bắc.

Song song đó, Mỹ vẫn duy trì các kênh liên lạc và trao đổi cấp cao với giới lãnh đạo Đài Loan. Dù các chuyến thăm của quan chức Mỹ mang tính không chính thức, chúng lại thể hiện thông điệp chính trị mạnh mẽ, khiến Trung Quốc phản ứng quyết liệt.

Trên các diễn đàn song phương và đa phương, Mỹ thường xuyên tuyên bố ủng hộ Đài Loan, nhấn mạnh vai trò then chốt của hòa bình và ổn định tại eo biển Đài Loan. Gần đây, sau các cuộc tập trận quy mô lớn của Trung Quốc, ngày 1/4/2025, Bộ Ngoại giao Mỹ tái khẳng định “cam kết lâu dài của Hoa Kỳ đối với các đồng minh và đối tác, bao gồm cả Đài Loan”, đồng thời bày tỏ quan ngại và kêu gọi Bắc Kinh kiềm chế.

Cuối cùng, Mỹ cũng đẩy mạnh hợp tác kinh tế và công nghệ với Đài Loan – đặc biệt trong lĩnh vực chất bán dẫn. Việc này không chỉ mang lại lợi ích song phương, mà còn giúp củng cố vị thế của Đài Loan trong chuỗi cung ứng toàn cầu và giảm sự phụ thuộc vào Trung Quốc

Vấn đề Đài Loan và những tác động lan tỏa đến Biển Đông

Đài Loan không chỉ là điểm nóng chiến lược ở châu Á – Thái Bình Dương, mà còn có mối liên hệ địa lý, kinh tế và quân sự mật thiết với Biển Đông. Vị trí liền kề và khả năng kết nối trực tiếp giúp Đài Loan trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi vận tải hàng hải quốc tế. Bên cạnh đó, vai trò then chốt của hòn đảo này trong chuỗi cung ứng công nghệ cao toàn cầu khiến nó trở thành “lợi ích cốt lõi” đối với cả Trung Quốc và Mỹ. Chính vì vậy, mọi diễn biến liên quan đến Đài Loan đều có tác động dây chuyền đến cục diện Biển Đông, trên nhiều phương diện.

Thứ nhất, về chính trị – ngoại giao: Căng thẳng lan rộng, thế trận giằng co.

Trên bình diện địa chiến lược, vấn đề Đài Loan góp phần làm gia tăng căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc tại Biển Đông. Washington xem Đài Loan là một phần trong chiến lược “chuỗi đảo thứ nhất” nhằm kiềm chế ảnh hưởng của Bắc Kinh tại Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Để củng cố vị thế này, Mỹ đẩy mạnh các hoạt động tuần tra tự do hàng hải (FONOPs), tăng cường triển khai tàu chiến, máy bay quân sự, đồng thời siết chặt liên minh với Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines và Australia.

Đáp trả, Trung Quốc – vốn xem Biển Đông là vùng “lợi ích cốt lõi” – ngày càng thể hiện lập trường cứng rắn thông qua các biện pháp quân sự và ngoại giao mang tính răn đe, không chỉ với Đài Loan mà còn với các đối tác của Mỹ trong khu vực.

Song song với đó, cạnh tranh ảnh hưởng giữa hai siêu cường tại Đông Nam Á ngày càng gay gắt. Trung Quốc đẩy mạnh Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI) để mở rộng ảnh hưởng, trong khi Mỹ thúc đẩy hợp tác quốc phòng, hỗ trợ an ninh hàng hải và phát triển kinh tế với ASEAN. Cả hai bên đều tìm cách vận động các quốc gia Đông Nam Á lên tiếng hoặc giữ lập trường thuận lợi cho mình trong các vấn đề liên quan đến Biển Đông và Đài Loan, tạo nên môi trường ngoại giao phân cực và phức tạp.

Đáng chú ý, nguy cơ xung đột tại eo biển Đài Loan có thể trực tiếp đe dọa tự do hàng hải tại Biển Đông. Trong kịch bản xấu, Trung Quốc có thể áp đặt phong tỏa hoặc kiểm soát các tuyến vận tải biển chiến lược, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến dòng chảy thương mại toàn cầu. Mỹ khi đó có thể gia tăng hiện diện quân sự, làm gia tăng nguy cơ va chạm, trong khi các quốc gia ASEAN bị đẩy vào thế “lưỡng nan” – chọn hợp tác với Mỹ hoặc tránh đối đầu với Trung Quốc.

Đồng thời, cạnh tranh chiến lược Mỹ – Trung khiến các quốc gia Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam và Philippines, lâm vào thế khó xử. Trong nỗ lực duy trì cân bằng chiến lược, các nước này chủ trương tăng cường hợp tác đa phương, nhất là trong khuôn khổ ASEAN và tiến trình xây dựng Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (COC). Tuy nhiên, sự bất đồng nội khối – đặc biệt với những quốc gia nghiêng về Bắc Kinh – tiếp tục cản trở tiến trình đàm phán, trong khi bối cảnh đối đầu giữa các nước lớn ngày càng leo thang.

Thứ hai, về phương diện quân sự: Biển Đông trở thành mặt trận mở rộng trong kịch bản xung đột. Từ góc độ quân sự, hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông không chỉ nhằm củng cố yêu sách chủ quyền, mà còn phục vụ mục tiêu răn đe Mỹ và Đài Loan. Nếu xảy ra xung đột tại eo biển Đài Loan, Biển Đông rất có thể trở thành một “mặt trận mở rộng”, nơi các lực lượng hải – không quân của hai bên triển khai sức mạnh.

Mỹ cũng đã và đang gia tăng hiện diện quân sự tại khu vực thông qua các chiến dịch tuần tra, tập trận chung và triển khai vũ khí hiện đại. Ngoài việc bảo vệ tự do hàng hải, các hoạt động này còn được xem là biện pháp sẵn sàng hỗ trợ Đài Loan trong trường hợp xảy ra khủng hoảng quân sự.

Tuy nhiên, cường độ hoạt động quân sự ngày càng cao của cả hai bên cũng làm gia tăng nguy cơ va chạm hoặc sự cố ngoài ý muốn – những yếu tố có thể dẫn đến leo thang không kiểm soát nếu thiếu các cơ chế liên lạc và giải quyết khủng hoảng hiệu quả.

Thứ ba, hậu quả về kinh tế: Nguy cơ gián đoạn chuỗi cung ứng và môi trường đầu tư

Tác động kinh tế từ cạnh tranh Mỹ – Trung về Đài Loan đến Biển Đông là không thể xem nhẹ. Trước hết là nguy cơ gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu – đặc biệt trong ngành bán dẫn, khi Đài Loan là một trung tâm sản xuất then chốt. Căng thẳng hoặc xung đột có thể cản trở luồng vận chuyển qua eo biển Đài Loan và Biển Đông, gây thiệt hại lớn cho các ngành công nghiệp phụ thuộc vào công nghệ cao.

Đồng thời, Biển Đông – tuyến hàng hải đông đúc bậc nhất thế giới – có thể trở thành “điểm nghẽn” chiến lược. Bất ổn khu vực khiến chi phí vận tải, bảo hiểm gia tăng, thậm chí buộc các doanh nghiệp phải thay đổi tuyến đường, ảnh hưởng trực tiếp đến thương mại khu vực và toàn cầu.

Bên cạnh đó, môi trường địa chính trị căng thẳng làm suy giảm sức hấp dẫn đầu tư. Nhiều dự án hạ tầng, phát triển kinh tế tại các quốc gia ven Biển Đông có nguy cơ bị đình trệ hoặc hủy bỏ do lo ngại rủi ro an ninh – chính trị. Về dài hạn, điều này đe dọa sự phát triển kinh tế bền vững của toàn khu vực.

Lời kết:

Có thể nói, cạnh tranh Trung – Mỹ về vấn đề Đài Loan ngày càng quyết liệt hơn và có tác động đa chiều đến Biển Đông. Trong bối cảnh đó, để duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Đông, các quốc gia trong khu vực cần phát huy vai trò trung tâm của ASEAN để thúc đẩy hợp tác và giải quyết tranh chấp một cách hòa bình, tránh để Biển Đông trở thành một “chiến trường” trong cuộc cạnh tranh địa chính trị Trung – Mỹ.

Với Việt Nam, nhằm giảm thiểu thiệt hại và tối đa hóa lợi ích quốc gia trong cạnh tranh chiến lược Mỹ – Trung về vấn đề Đài Loan, Việt Nam có thể tập trung tiếp cận theo các hướng đi sau

Thứ nhất là, kiên trì thực hiện chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Tích cực đóng góp vào việc củng cố sự đoàn kết và vai trò trung tâm của ASEAN trong các vấn đề khu vực, đặc biệt là Biển Đông. Tiếp tục tận dụng các diễn đàn đa phương để thúc đẩy các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982 trong việc giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông.

Thứ hai là, đa dạng hóa thị trường và chuỗi cung ứng. Việt Nam cần chủ động nâng cao năng lực cạnh tranh nội tại, cải thiện chất lượng nguồn nhân lực và hạ tầng công nghiệp, đồng thời thúc đẩy liên kết kinh tế khu vực để vừa mở rộng không gian phát triển, vừa hạn chế sự phụ thuộc vào các cường quốc.

Thứ ba là, tiếp tục hiện đại hóa quân đội, đặc biệt là hải quân và không quân nhằm nâng cao khả năng tự vệ và bảo vệ chủ quyền biển đảo. Bên cạnh đó, Việt Nam cần thúc đẩy hợp tác quốc phòng đa phương – không nhằm chạy đua vũ trang, mà để tăng cường lòng tin chiến lược, giảm thiểu nguy cơ xung đột và xây dựng môi trường an ninh ổn định. Cuối cùng là, Việt Nam cần kiên trì lập trường giải quyết tranh chấp ở Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982. Đồng thời, cần thể hiện thái độ rõ ràng, kiên quyết trong phản đối mọi hành vi vi phạm chủ quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam – thông qua các kênh ngoại giao song phương, đa phương và công luận quốc tế.

]]>
Mỹ sử dụng các biện pháp vô hiệu chiến thuật vùng xám của Trung Quốc ở Biển Đông (Phần 2) https://biendong.net/2025/08/02/my-su-dungcac-bien-phap-vo-hieu-chien-thuat-vung-xam-cua-trung-quoc-o-bien-dong-phan-2/ Sat, 02 Aug 2025 13:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=154357 Khu vực Biển Đông có vị trí địa chiến lược vô cùng quan trọng đối với các nước trong và ngoài khu vực. Để kìm chế các hành động của Trung Quốc có thể gây bất ổn định ở Biển Đông và duy trì ảnh hưởng của Mỹ tại khu vực này, Mỹ đã và đang triển khai các biện pháp trên thực địa và biện pháp kinh tế – chính trị, ngoại giao một cách tổng thể để duy trì một khu vực Biển Đông tự do hàng hải, hàng không và thương mại không bị cản trở. Bài viết này sẽ tổng hợp phân tích các biện pháp kinh tế, chính trị, ngoại giao, pháp lý mà Mỹ đã và đang thực hiện tại khu vực này nhằm đối phó với các chiến thuật của Trung Quốc.

Biện pháp kinh tế trực tiếp mà Mỹ thực hiện để đối phó với các hoạt động vùng xám của Trung Quốc đó là việc Chính phủ Mỹ áp dụng lệnh trừng phạt kinh tế đối với hành xử của Trung Quốc ở Biển Đông. Năm 2020, lần đầu tiên Bộ Thương mại Mỹ đã đưa 24 công ty Trung Quốc vào Danh sách các Đối tượng (Entity List). Danh sách này hạn chế xuất khẩu một số sản phẩm nhất định của các công ty và cá nhân đe doạ đến an ninh quốc gia hay các ưu tiên chính sách đối ngoại Mỹ. Theo Bộ trưởng Thương mại Wilbur Ross, 24 công ty (trong đó có 22 công ty Nhà nước) của Trung Quốc bị đưa vào danh sách vì đóng vai trò quan trọng trong hoạt động xây dựng các căn cứ nhân tạo ở quần đảo Trường Sa.[1] Đồng thời, Bộ Ngoại giao Mỹ cũng đã công bố sẽ không cấp visa cho các cá nhân Trung Quốc chịu trách nhiệm hay tham gia vào hoạt động bồi đắp, xây dựng hay quân sự hoá trên diện rộng các cấu trúc tranh chấp ở Biển Đông, hay việc Trung Quốc sử dụng các biện pháp cưỡng chế chống lại các bên yêu sách ở Đông Nam Á để ngăn cản các bên này tiếp cận tài nguyên biển; Các cá nhân này sẽ không được phép vào Mỹ và các thành viên gia đình cũng có thể bị hạn chế visa tương tự. Tuy nhiên, Bộ Ngoại giao Mỹ không nêu tên cụ thể các cá nhân cũng như số lượng các cá nhân bị hạn chế visa.


[1] Gregory Poling & Zack Cooper, Washington Tries Pulling Economic Levers in the South China Sea (AMTI, 28/8/2020) tại https://amti.csis.org/washington-tries-pulling-economic-levers-in-the-south-china-sea/

Bộ trưởng Thương mại Mỹ Wilbur Ross

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Zhao Lijian đã gọi hành động trừng phát là can thiệp quá mức vào công việc nội bộ của Trung Quốc và vi phạm luật pháp quốc tế. Cụ thể, Zhao cho rằng “hoạt động xây dựng có liên quan của Trung Quốc trong phạm vi lãnh thổ của Trung Quốc hoàn toàn thuộc phạm vi chủ quyền và không liên quan đến quân sự hoá. Việc tham gia của các doanh nghiệp và cá nhân Trung Quốc vào các hoạt động xây dựng của đất nước là hợp lý và hợp pháp và có thể hiểu được. Không có lý do gì các doanh nghiệp và cá nhân Trung Quốc lại bị trừng phạt bất hợp pháp vì tham gia vào các hoạt động ở trên chính đất nước mình.”

Một số nhà bình luận cho rằng Mỹ đã đúng khi sử dụng các công cụ kinh tế nhằm mục tiêu thay đổi hành vi của Trung Quốc và các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân nước này. Tuy nhiên, biện pháp trừng phạt chỉ hiệu quả khi nhắm đến các hoạt động bất hợp pháp cụ thể và đang diễn ra. Hầu như không có hoạt động bồi đắp tôn tạo đảo ở Trường Sa từ năm 2016 và không có hoạt động xây dựng đáng kể từ năm 2018, do vậy, hoạt động thực sự Mỹ cần phải nhắm đến là đánh cá bất hợp pháp, dân quân biển và khảo sát dầu khí. Đây mới là các đối tượng đang quấy nhiễu các nước Đông Nam Á, khai thác tài nguyên bất hợp pháp và vi phạm quyền của các nước này.[1]

2. Biện pháp chính trị – ngoại giao – pháp lý

Các biện pháp chính trị – ngoại giao – pháp lý mà Mỹ thực hiện để đối phó với các hoạt động vùng xám bao gồm:

(i) Giao thiệp ở các cấp đối với các vụ việc liên quan trực tiếp đến Mỹ: đối với vụ việc USNS Impeccable, ngày 9/3/2009, Bộ Quốc phòng Mỹ có tuyên bố chính thức về vụ việc, cáo buộc các tàu Trung Quốc nỗ lực cùng phối hợp để di chuyển rất hung hăng và nguy hiểm gần tàu Mỹ, gia tăng nguy cơ xung đột, vi phạm quy định  của luật pháp quốc tế về việc tôn trọng quyền và an toàn của các chủ thể sử dụng biển hợp pháp khác; khẳng định tàu Mỹ đang hoạt động trong vùng biển quốc tế, nơi mà tàu Trung Quốc không có thẩm quyền điều chỉnh hoạt động của tàu quân sự nước ngoài. Cùng ngày, Người phát ngôn Nhà trắng cũng cho biết nước này đã triệu hồi tuỳ viên quân sự Trung Quốc ở Washington, cũng như Đại sứ quán Mỹ ở Bắc Kinh cũng đã gặp Bộ Ngoại giao Trung Quốc để phản đối.[2] Ngày 11/3/2009, Bộ trưởng Ngoại giao Hilary Clinton đã gặp Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc ở Washington DC để chuẩn bị cho chuyến thăm chính thức của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và Tổng tống Obama, và đã nêu quan ngại về vụ việc Impeccable và hai bên đã trao đổi, nhất trí cùng nỗ lực đảm bảo các vụ việc tương tự không xảy ra trong tương lai. Cùng ngày, Bộ Quốc phòng Mỹ cũng đã bình luận cho rằng các cuộc trao đổi trực tiếp là rất hữu ích giúp truyền tải thông điệp rằng quan ngại của Mỹ về vụ việc là rất nghiêm trọng. Ngày 12/3/2009, Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ Tướng James Jones và Tổng thống Obama đã gặp Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc tại Nhà trắng và nêu vụ việc Impeccable, tuy nhiên, thông cáo báo chí sau đó cho thấy cuộc gặp tập trung vào tổng thể quan hệ song phương giữa hai nước và các vấn đề toàn cầu nói chung, không tập trung vào vụ việc Impeccable. Kết quả ngày 20/3/2009, tờ báo chính phủ Trung Quốc China Daily đăng bài tuyên bố căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc đối với tàu Impeccable đã kết thúc. Bài báo trích dẫn nguồn không nêu tiên cho rằng quân đội Trung Quốc đã sẵn sàng kết thúc vụ việc căng thẵng với Mỹ ở Biển Đông sau khi các nỗ lực ngoại giao đã được thực hiện để làm giảm căng thẳng, nhấn mạnh sự cần thiết phải tập trung vào các vấn đề quan trọng hơn trong quan hệ giữa hai nước.[3]

(ii) Đưa ra các tuyên bố phản đối trực diện đối với các hành xử vi phạm luật pháp quốc tế đặc biệt là UNCLOS của Trung Quốc ở Biển Đông. Đối với các vụ việc liên quan đến các đồng minh, đối tác ở Biển Đông, Mỹ đưa ra rất nhiều tuyên bố của Bộ Ngoại giao phản đối các hoạt động vi phạm luật pháp quốc tế của Trung Quốc, khẳng định sát cánh cùng Philippines trong vụ việc Bãi Cỏ Mây, hay Bãi Sabina, nêu quan ngại, phản đối các yêu sách bất hợp pháp của Mỹ, đề nghị Trung Quốc tuân thủ luật pháp quốc tế, UNCLOS và Phán quyết Toà trọng tài Biển Đông 2016.

(ii) Tăng cường tăng cường quan hệ với đồng minh, đối tác về các mặt kinh tế, an ninh quốc phòng để trấn an các đồng minh, đối tác về sự ủng hộ, sát cánh của Mỹ đối với các nước này. Với các nước ASEAN, Mỹ đã cam kết gói viện trợ 150 triệu USD hỗ trợ ASEAN nâng cao năng lực, trong đó có 60 triệu USD dành cho nâng cao năng lực về an ninh hàng hải.[4] Trong khuôn khổ QUAD, Mỹ đã công bố sáng kiến Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương về nhận diện tình hình trên biển IPMDA trong khuôn khổ QUAD nhằm tăng cường năng lực cho các đối tác ở các đảo thuộc Thái Bình Dương, khu vực Đông Nam Á và khu vực Ấn Độ Dương có đầy đủ thông tin về hoạt động di chuyển của tàu thuyển trong các vùng biển của các nước này sát với thời gian thực, đảm bảo đưa ra các phản ứng, xử lý phù hợp, đóng góp vào duy trì một Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và cởi mở. Thông qua Sáng kiến thực thi pháp luật Đông Nam Á (Southeast Asia Maritime Law Enforcement), Mỹ cũng đã duy trì cam kết hỗ trợ các nước ASEAN xây dựng và nâng cao năng lực cho lực lượng thực thi pháp luật trên biển (thực hiện huấn luyện cho hơn 850 cán bộ thực thi pháp luật). Với Philippines, sau chuyến công du Mỹ của Tổng thống Ferdinand Marcos Jr, hai bên nhất trí mở rộng Thỏa thuận Hợp tác quốc phòng tăng cường (EDCA) ký với Mỹ năm 2014, theo đó, Mỹ được phép tiếp cận thêm 04 căn cứ quân sự của Philippines (ngoài 05 cơ sở sẵn có theo cam kết trong khuôn khổ EDCA); nối lại đối thoại 2+2 giữa các quan chức ngoại giao và quốc phòng hàng đầu của hai bên sau 07 năm gián đoạn; lên kế hoạch cho hơn 500 hoạt động quân sự chung trong năm 2023, trong đó có việc nối lại tuần tra hàng hải chung tại Biển Đông và tổ chức cuộc tập trận thường niên Balikatan lớn nhất trong vòng 30 năm qua. Trong các chuyến công du của Tổng thống Mỹ đến Việt Nam và Indonesia, Mỹ đã nâng cấp quan hệ với Việt Nam và Indonesia lên Đối tác Chiến lược toàn diện, đưa quan hệ giữa Mỹ – Việt Nam, Mỹ – Indonesia lên một tầm cao mới, toàn diện trên tất cả các phương diện.

 (iv) Tăng cường ngoại giao pháp lý để đề cao luật biển như được phản ánh trong UNCLOS và trật tự pháp lý quốc tế dựa trên luật lệ. Năm 2020 Mỹ có điều chỉnh quan trọng về lập trường pháp lý, theo đó, đã tham gia vào “cuộc chiến Công hàm” năm 2020-2021 thông qua việc gửi thư đến Tổng thư ký LHQ và HĐBA LHQ vào ngày 01/6/2020 để công khai thể hiện lập trường pháp lý mạnh mẽ. Cụ thể, Mỹ (i) Phản bác các yêu sách biển của Trung Quốc, trong đó có yêu sách quyền lịch sử và yêu sách “Tứ Sa”, yêu sách các cấu trúc tại Trường Sa và bãi Scarborough có vùng EEZ và TLĐ riêng, và yêu sách vùng biển tính từ các bãi ngầm hoặc bãi cạn lúc chìm lúc nổi; (ii) khẳng định Phán quyết Vụ kiện Biển Đông có giá trị cuối cùng và ràng buộc đối với Trung Quốc và Philippines, yêu cầu Trung Quốc tuân thủ và điều chỉnh các yêu sách phù hợp với luật pháp quốc tế (như thể hiện trong Công ước).

Đồng thời, Mỹ tích cực công bố các nghiên cứu về tính phi pháp của các yêu sách biển của Trung Quốc của Bộ Ngoại giao Mỹ, trong đó quan trọng nhất phải kể đến công trình “Ranh giới trên Biển”. Đây là loạt công trình nghiên cứu công phu và lâu năm của Bộ Ngoại giao Mỹ về yêu sách biển và đường ranh giới biển của các nước và đánh giá sự phù hợp của các yêu sách này với luật pháp quốc tế. Đối với các yêu sách biển của Trung Quốc, năm 2014, Mỹ công bố Báo cáo số 143 khẳng định các yêu sách biển của Trung Quốc ở Biển Đông không rõ ràng và không phù hợp luật pháp quốc tế. Năm 2022, Mỹ tiếp tục Công bố Báo cáo số 150 bác bỏ toàn diện các yêu sách biển của Trung Quốc ở Biển Đông, bao gồm yêu sách chủ quyền, yêu sách Tứ Sa, yêu sách quyền lịch sử. Với việc công bố các Báo cáo này, Mỹ kêu gọi Trung Quốc đưa ra các yêu sách phù hợp với luật pháp quốc tế như được phản ánh trong UNCLOS, tuân thủ phán quyết Toà trọng tài Biển Đông 2016 và chấm dứt các hoạt động bất hợp pháp và cưỡng chế ở Biển Đông.

Ngoài ra, hàng năm, Mỹ cũng có tuyên bố của Bộ Ngoại giao Mỹ nhân dịp kỷ niệm ngày Toà trọng tài Biển Đông ra Phán quyết (13/7/2016), khẳng định giá trị ràng buộc và cuối cùng của Phán quyết, đồng thời yêu cầu các bên tuân thủ.

Như vậy, có thể thấy việc Trung Quốc thúc đẩy áp dụng các hoạt động vùng xám nhằm củng cố và tăng cường các yêu sách phi pháp ở Biển Đông đe doạ trực tiếp đến các lợi ích của Mỹ ở khu vực, Mỹ đã có những chuyển biến sâu sắc và toàn diện trong chính sách của Mỹ để đối phó với Trung Quốc. Cụ thể, Mỹ: (i) tăng cường hiện diện trên thực địa thông qua các hoạt động FONOPs, Đưa tàu chiến tháp tùng các tàu thu thập thông tin và tàu khảo sát, tập trận chung ở Biển Đông với các nước đồng minh đối tác trong khu vực; (ii) triển khai áp đặt các biện pháp trừng phạt kinh tế đối với các cá nhân, tổ chức tham gia vào các hoạt động cưỡng chế ở khu vực; và (iii) áp dụng toàn diện các biện pháp chính trị   ngoại giao – pháp lý như giao thiệp ở các cấp đối với các vụ việc liên quan trực tiếp đến Mỹ, đưa ra các tuyên bố phản đối trực diện đối với các hành xử vi phạm luật pháp quốc tế đặc biệt là UNCLOS 1982 của Trung Quốc ở Biển Đông; Tăng cường tăng cường quan hệ với đồng minh, đối tác và Tăng cường ngoại giao pháp lý để đề cao luật biển như được phản ánh trong UNCLOS 1982 và trật tự pháp lý quốc tế dựa trên luật lệ. Các biện pháp này đã mang lại nhiều kết quả tích cực, hạn chế được các hành vi “vùng xám” của tàu thuyền Trung Quốc trên thực địa, duy trì được sự can dự của Mỹ ở khu vực, và bảo vệ được lợi ích an ninh chiến lược của Mỹ ở Biển Đông đó là đảm bảo các quyền và tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông.

Qua một số vụ việc có liên quan trực tiếp tới Mỹ ở Biển Đông (điển hình là vụ USNS 2009), Mỹ tỏ cương quyết, cứng rắn, sẵn sàng đối đầu với các lực lượng của Trung Quốc để bảo vệ nguyên tắc và lợi ích chiến lược của Mỹ ở Biển Đông. Thực tiễn cũng cho thấy Trung Quốc có xu hướng làm dịu, tránh leo thang căng thẳng sau khi Mỹ cho thấy sự cứng rắn và sẵn sàng huy động các lực lượng quân sự tham gia vào vụ việc. Tuy nhiên, cả Mỹ và Trung Quốc đều không muốn quan hệ rơi vào đổ vỡ, nỗ lực quản lý và kiểm soát các hành vi một cách có trách nhiệm, duy trì các kênh tiếp xúc, đối thoại, nhất là Lãnh đạo cấp cao, tránh để các vấn đề trên biển ảnh hưởng đến tổng thể quan hệ song phương giữa hai nước./.


[1] Gregory Poling & Zack Cooper, Washington Tries Pulling Economic Levers in the South China Sea (AMTI, 28/8/2020) tại https://amti.csis.org/washington-tries-pulling-economic-levers-in-the-south-china-sea/

[2] White House, Briefing by White House Press Secretary Robert Gibbs on 3/9/2009 (Press Conference, White House, Washington DC, 9/3/2009).

[3] Cui Xiaohuo, “Sino-US Sea Standoff appears to have ended” (China Daily, 20/3/2009)

[4] Tổng thống Mỹ cam kết viện trợ 150 triệu USD cho các nước ASEAN, tại https://www.qdnd.vn/quoc-te/tin-tuc/tong-thong-my-cam-ket-vien-tro-150-trieu-usd-cho-cac-nuoc-asean-694309

]]>
Mỹ sử dụng các biện pháp để vô hiệu chiến thuật vùng xám của TQ ở Biển Đông https://biendong.net/2025/08/02/my-su-dung-cac-bien-phap-de-vo-hieu-chien-thuat-vung-xam-cua-tq-o-bien-dong/ Sat, 02 Aug 2025 01:59:00 +0000 https://biendong.net/?p=154354 Chiến thuật “vùng xám” của Trung Quốc thực hiện ở Biển Đông đã làm đau đầu không chỉ các nước trong khu vực mà còn bao gồm cả các nước ở trên thế giới đặc biệt là Mỹ. Chiến thuật này đã thách thức sự an ninh, an toàn tự do hàng hải, hàng không và thương mại không bị cản trở ở vùng biển này.

Vì vậy, Mỹ đã triển khai nhiều biện pháp cả trên thực địa, kinh tế hay biện pháp chính trị – ngoại giao – pháp lý để làm vô hiệu hóa chiến thuật này của Trung Quốc. Mục tiêu của Mỹ trong đối phó chiến thuật vùng xám của Trung Quốc là khác nhau trong từng vụ việc cụ thể, tuy nhiên, các mục tiêu chung bao gồm: ngăn chặn Trung Quốc không làm thay đổi nguyên trạng ở Biển Đông, ngăn Trung Quốc không củng cố kiểm soát thông qua các hoạt động xây dựng và quân sự hoá ở Biển Đông; tái khẳng định cam kết an ninh của Mỹ đối với khu vực, đặc biệt là Philippines; tập hợp lực lượng sau mỗi hoạt động của Trung Quốc.

Trên thực địa, Mỹ duy trì sự hiện diện mạnh mẽ Hạm đội Thái Bình Dương ở khu vực Biển Đông với các hoạt động như huấn luyện, tập trận với đồng minh và đối tác đến các hoạt động thăm cảng, hoạt động tự do hàng hải và các hoạt động thường xuyên khác. Các hoạt động này là trọng tâm trong nỗ lực của Mỹ nhằm làm giảm căng thẳng hay các hoạt động cưỡng chế ở khu vực, duy trì tự do hàng hải và quyền tiếp cận của Mỹ đối với khu vực, thúc đẩy giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hoà bình, tuân thủ trật tự trên biển dựa trên luật lệ và tăng cường quan hệ với đồng minh, đối tác. Các hoạt động trên thực địa tiêu biểu mà Mỹ tiến hành bao gồm: (i) FONOPs; (ii) Đưa tàu chiến tháp tùng các tàu thu thập thông tin và tàu khảo sát; (iii) tập trận chung với các nước đồng minh đối tác trong khu vực.

(i) FONOPs là một trong những hoạt động thuộc chương trình tự do hàng hải (Freedom of Navigation program) do Bộ Quốc phòng Mỹ phối hợp với Bộ Ngoại giao Mỹ triển khai từ năm 1979 nhằm mục đích thách thức các yêu sách biển quá mức nhằm thực thi quyền tự do hàng hải và hàng không trên thế giới.[1] Yêu sách biển quá mức ở đây không chỉ được hiểu là các yêu sách biển không phù hợp với luật pháp quốc tế, mà hàm ý rộng hơn bao gồm nỗ lực của quốc gia ven biển để hạn chế các quyền và tự do hàng hải và hàng không và việc sử dụng biển hợp pháp của các quốc gia khác thông qua luật, quy định và các tuyên bố khác không phù hợp với luật quốc tế như được phản ánh trong UNCLOS. Bộ Ngoại giao Mỹ sẽ làm nhiệm vụ phản đối các yêu sách biển quá mức, kêu gọi tuân thủ luật pháp quốc tế, và Bộ Quốc phòng thực hiện quyền và tự do hàng hải biển thông qua việc tiến hành các hoạt động trên thực địa nhằm thách thức các yêu sách biển quá mức đó. Các hoạt động này do lực lượng hải quân và không quân Mỹ thực hiện, và mục đích, hoạt động cụ thể của mỗi một chiến dịch do đặc điểm cụ thể của từng yêu sách biển quá mức mà Mỹ muốn phản đối. Thông qua các hoạt động này, Mỹ muốn truyền tải thông điệp rằng Mỹ không chấp nhận các yêu sách biển quá mức của các quốc gia khác, và do vậy ngăn chặn việc các yêu sách đó được thừa nhận theo luật quốc tế. Hàng năm Bộ Quốc phòng Mỹ đều có báo cáo về các hoạt động này, bao hàm các thông tin như khu vực hoạt động, tàu/máy bay thực hiện hoạt động, mục đích của các hoạt động đó là gì. Chẳng hạn, trong năm 2014, Mỹ đã thách thức 35 yêu sách biển quá mức trên thế giới, trong đó có 19 yêu sách ở khu vực thuộc phạm vi hoạt động của Hạm đội Thái Bình Dương Mỹ. Từ 01/10/2022 đến 30/9/2023, Mỹ tiến hành thách thức 29 yêu sách biển quá mức của 17 quốc gia, trong đó có 6 yêu sách biển của Trung Quốc và Việt Nam ở Biển Đông.

Đối với Biển Đông, các nhóm yêu sách biển quá mức của Trung Quốc mà các hoạt động FONOPS nhắm đến có thể được chia thành 03 loại cụ thể như trình bày dưới đây, và mỗi hoạt động của Mỹ có thể thách thức 01 hoặc nhiều yêu sách quá mức cùng lúc.

Thứ nhất, thách thức quy định của Trung Quốc không tuân thủ quy định của UNCLOS về quyền qua lại vô hại khi yêu cầu xin phép trước khi đi qua lãnh hải của quốc gia đó. Chẳng hạn như hoạt động FONOPs ngày 27/10/2015 khi tàu USS Lassen đi qua khu vực 12 hải lý của 5 cấu trúc ở quần đảo Trường Sa bao gồm Subi Reef, Northeast Cay, Southwest Cay, South Reef, và Sandy Cay – là đối tượng tranh chấp chủ quyền của 5 bên Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam và Philippines. Hoạt động này nhằm thách thức quy định của Trung Quốc, Đài Loan yêu cầu phải xin phép trước khi đi qua lãnh hải của các cấu trúc này. Mỹ không tuân thủ các quy định này.[2]

Thứ hai, thách thức các yêu sách về đường cơ sở thẳng quá mức. Ngày 21/10/2016, tàu USS Decatur hoạt động tự do hàng hải đi qua đường cơ sở thẳng mà Trung Quốc vẽ quanh quần đảo Hoàng Sa, dừng chờ và diễn tập trong khu vực. Tàu USS Decatur không đi vào khu vực 12 hải lý của bất kỳ cấu trúc nào mà chỉ đi qua khu vực giữa ranh giới lãnh hải 12 hải lý và đường cơ sở thẳng của Trung Quốc. Như vậy, tàu USS Decatur đã đi vào khu vực được coi là nội thuỷ của Trung Quốc nếu đường cơ sở thẳng là hợp pháp, nhưng thực tế lại bất hợp pháp. Ngày 24/3/2023, tàu USS Milius (DDG 69) cũng hoạt động tự do hàng hải gần quần đảo Hoàng Sa nhằm thách thức yêu sách của Trung Quốc về dường cơ sở thẳng quanh đảo Hoàng Sa và đồng thời thách thức cả quy định của Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam về yêu cầu thông báo/xin phép trước khi thực hiện quyền qua lại vô hại trong lãnh hải.[3] Ngày 10/5/2023, tàu USS Halsey (DDG 97) cũng tiến hành hoạt động với khu vực tương tự với mục đích tương tự.

Thứ ba, thách thức sự tồn tại của vùng lãnh hải bất hợp pháp. Ngày 24/10/2017, tàu USS Dewey đi qua khu vực 12 hải lý của Bãi Vành Khăn ở quần đảo Trường Sa, do Trung Quốc chiếm đóng và là đối tượng tranh chấp giữa Trung Quốc với Philippines và Việt Nam. Theo Phán quyết Toà Trọng tài về Biển Đông 2016, Bãi Vành Khăn được coi là bãi cạn nửa chìm nửa nổi và do đó có quyền có lãnh hải riêng. Tàu USS Dewey di chuyển trong phạm vi 12 hải lý của Bãi Vành Khăn theo hình zigzag và diễn tập “cứu nạn người rơi xuống biển”. Việc di chuyển theo dạng zigzag và tiến hành diễn tập cho thấy Mỹ không phải đang thực hiện quyền qua lại vô hại, mà chỉ nhằm thách thức sự tồn tại của vùng lãnh hải bất hợp pháp xung quanh Bãi Vành Khăn. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là Trung Quốc, Đài Loan, Philippines hay Việt Nam đều chưa chính thức công bố yêu sách lãnh hải quanh Bãi Vành Khăn. Vậy, liệu có thực sự tồn tại một yêu sách biển quá mức để Mỹ thách thức hay không? Bộ Quốc phòng Mỹ không giải thích rõ cơ sở pháp lý cho hoạt động này, do vậy, mục đích của hoạt động này vẫn chưa thực sự rõ ràng. Ngày 10/4/2023, tàu USS Milius (DDG 69) cũng tiến hành hoạt động ở khu vực tương tự, và lần này, Bộ Quốc phòng Mỹ khẳng định tàu USS Milius chứng minh rằng Bãi Vành Khăn, là bãi cạn nửa chìm nửa nổi theo tình trạng tự nhiên của mình và không có quyền có lãnh hải theo luật quốc tế.

Ngoài ra, một số Báo cáo của Bộ Quốc phòng Mỹ về hoạt động FONOPs, gần đây là năm 2023 có đề cập đến việc hoạt động FONOPs còn nhằm thách thức yêu sách quyền lịch sử của Trung Quốc ở Biển Đông (thực hiện cùng các đồng minh, đối tác khác) hay thách thức quy định của quốc gia ven biển về việc yêu cầu phải có sự chấp thuận trước đối với hoạt động khảo sát quân sự trong vùng Đặc quyền kinh tế của quốc gia này. Tuy nhiên, thông cáo báo chí về từng hoạt động FONOPs của Hạm đội Thái Bình Dương trong năm 2023 không hề nêu rõ phục vụ các mục đích này.

(ii) Huy động tàu chiến tháp tùng các tàu trinh sát và tàu khảo sát: nhằm thách thức quy định của quốc gia ven biển về việc yêu cầu phải có sự chấp thuận trước đối với hoạt động khảo sát quân sự trong vùng Đặc quyền kinh tế của các quốc gia trong khu vực, Mỹ thường xuyên huy động tàu chiến tháp tùng các tàu trinh sát và tàu khảo sát ở Biển Đông. Điển hình đó là vụ việc USNS Impeccable năm 2009, khi tàu Impeccable đang hoạt động ở khu vực biển cả ở phía Nam đảo Hải Nam thì 05 tàu hải quân, hải cảnh và tàu cá Trung Quốc bao vây tàu Impeccable. Tàu Mỹ buộc phải tìm cách chạy thoát khi tàu cá dân sự Trung Quốc đang nỗ lực can thiệp với các thiết bị sóng âm thanh, thả chướng ngại vật và dừng ngay trước mũi tàu trong khi các tàu công vụ Trung Quốc canh chừng ở vòng ngoài. Tàu Impeccable cuối cùng cũng chạy thoát khỏi vòng vây ra khỏi khu vực này. Trung Quốc quyết định không làm leo thang tình hình khi tàu khu trục Hải quân Mỹ hộ tống tàu Impeccable quay trở lại khu vực để tiếp tục hoạt động và đe doạ sẽ tiếp tục huy động các tàu hộ tống vũ trang thường xuyên đến khu vực này; truyền thông Trung Quốc đã kêu gọi các bên kết thúc vụ việc căng thẳng. Mặc dù cả Mỹ và Trung Quốc được cho là đã đạt được thoả thuận không chính thức về việc ngăn chặn các vụ việc tương lai, việc Trung Quốc quấy rối hoạt động của các tàu tình báo Mỹ vẫn tiếp tục trong các tháng sau đó.

Có thể thấy, hành động của Trung Quốc cho thấy sự phối hợp chặt chẽ nhịp nhàng giữa Hải quân, các lực lượng thực thi pháp luật và tàu cá dân sự Trung Quốc trong phạm vi khu vực Trung Quốc có yêu sách. Mặc dù Hải quân và các lực lượng thực thi pháp luật cũng tham gia vào hoạt động cản phá tàu Mỹ, các tàu cá dân sự hoạt động như lực lượng dân quân biển chịu trách nhiệm chính đối với các hành vi quấy nhiễu nghiêm trọng nhất. Các tàu công vụ Trung Quốc chỉ bao vây ở vòng ngoài. Mô hình phối hợp hoạt động này giữa các lực lượng của Trung Quốc cũng được áp dụng tương tự trong các vụ việc Trung Quốc ngăn cản tàu Mỹ qua lại tự do gần đá Subi tháng 10/2015, vụ việc Scarborough Shoal với Philippines năm 2012 hay vụ HD-981 với Việt Nam 2014.

Vụ việc Impeccable 2009 cũng cho thấy việc Trung Quốc đã không leo thang căng thẳng sau khi Mỹ cho thấy sẵn sàng điều động các lực lượng hải quân hộ tống tàu tình báo, có thể thường xuyên hơn đến khu vực này. Trên thực tế, tàu và máy bay Trung Quốc vẫn thỉnh thoảng quấy rối tàu khảo sát đại dương Mỹ hoạt động gần bờ biển Trung Quốc. Trong bối cảnh lợi ích lâu dài của Mỹ trong việc thực hiện các hoạt động khảo sát ở vùng biển quốc tế và cam kết rõ ràng của Trung Quốc trong việc hạn chế các hoạt động đó, các vụ việc căng thẳng có thể vẫn phát sinh trong quan hệ giữa hai nước. Tuy nhiên, quan sát cách phản ứng giữa hai bên trong các vụ việc cho thấy xung đột căng thẳng dường như khó xảy ra trừ khi Trung Quốc quyết định cứng rắn hơn đối với các hoạt động khảo sát gần bờ biển nước này.

(iii) Mỹ cũng thực hiện hàng loạt các hoạt động chung diễn tập với các đồng minh đối tác với hình thức đa dạng, quy mô ngày càng rộng lớn và độ phức tạp ngày càng tăng. Ở khu vực, Mỹ tổ chức nhiều cuộc tập trận với Philippines nhất, trong đó có hoạt động tập trận chung thường niên Balikatan. Balikatan là hoạt động tập trận thường niên giữa Lực lượng Vũ trang Philippines và quân đội Mỹ được thiết kế nhằm tăng cường khả năng tác chiến song phương, năng lực, niềm tin và hợp tác giữa hai bên được vun đắp xong hàng thập kỷ qua. Hoạt động gần đây nhất là hoạt động tập trận lần thứ 39 diễn ra từ 22/4 – 10/5/2024 với sự tham gia của khoảng 16,000 binh lĩnh Mỹ và Philippines, với binh lính Úc và Pháp tham dự với vai trò quan sát viên.

Với Indonesia, sau cuộc tập trận SeaSurvex được tiến hành ở đảo Batam gần vùng biển Natuna từ ngày 6 – 10/4/2015 với sự tham gia của 4 máy bay Indonesia và phi cơ do thám biển Orion của Mỹ, phát ngôn viên hải quân Indonesia khẳng định nước này muốn tập trận thường xuyên với Mỹ trong vùng biển Natuna phía nam Biển Đông. Với Malaysia, Mỹ cũng bắt đầu hoạt động diễn tập chính thức với Malaysia từ năm 2015 và năm 2014, lực lượng thuỷ quân lục chiến hai nước đã tham gia diễn tập ở Đông Sabah. Từ năm 2016, Việt Nam cũng tham gia vào các hoạt động diễn tập đa phương do Mỹ dẫn dắt như Sáng kiến Thực thi pháp luật trên biển Đông Nam Á, Tập trận trên biển ASEAN – Mỹ hay RIMPAC. RIMPAC là hoạt động tập trận đáng chú ý vì đây là tập trận quân sự lớn nhất thế giới được tổ chức 2 năm 1 lần từ năm 1971 với sự tham gia của 29 quốc gia do Mỹ dẫn đầu nhằm tăng cường khả năng tác chiến của các lực lượng tham gia RIMPAC.  RIMPAC 2024 được tổ chức từ 27/6 đến 01/8/2024 ở khu vực quần đảo Haiwaii của Mỹ. Năm 2014, Trung Quốc lần đầu tiên tham gia RIMPAC mặc dù ở mức độ rất hạn chế.

Có thể thấy, các biện pháp trên thực địa của Mỹ dùng để đối phó với chiến thuật vùng xám của Trung Quốc trên thực địa chưa thực sự giải quyết triệt để được nguồn gốc vấn đề nhưng cũng đã giúp hạn chế được phần nào những yêu sách lãnh thổ trái luật pháp quốc tế của Trung Quốc cũng như hạn chế Trung Quốc thực hiện những hành động làm leo thang căng thẳng tại khu vực này. Những biện này của Mỹ cũng cho thấy pháp luật nhất là UNCLOS 1982 vẫn được thực thi tại khu vực Biển Đông nhộn nhịp này./.


[1] US Department of Defense, Freedom of Navigation (FON) Program (February 28, 2017) tại https://policy.defense.gov/Portals/11/DoD%20FON%20Program%20Summary%2016.pdf?ver=2017-03-03-141350-380

[2] Mỹ cũng nhằm mục đích thách thức quy định của Việt Nam yêu cầu tàu phải thông báo trước khi thực hiện quyền qua lại vô hại qua lãnh hải Việt Nam.

[3] 7th Fleet Destroyer conducts Freedom of Navigation Operation in South China Sea, tại https://www.c7f.navy.mil/Media/News/Display/Article/3339703/7th-fleet-destroyer-conducts-freedom-of-navigation-operation-in-south-china-sea/

]]>
Sự thay đổi trong chính sách của Mỹvề Biển Đông khi đối phó với các hoạt động trên biển của TQ những năm gần đây https://biendong.net/2025/08/01/su-thay-doi-trong-chinh-sach-cua-myve-bien-dong-khi-doi-pho-voi-cac-hoat-dong-tren-bien-cua-tq-nhung-nam-gan-day/ Fri, 01 Aug 2025 12:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=154351 Biển Đông đóng vai trò rất quan trọng trong tổng thể lợi ích của Mỹ. Gần 30% thương mại hàng hải thế giới đi qua Biển Đông hàng năm, trong đó mang lại gía trị thương mại hàng hải khoảng $1.2 nghìn tỷ cho Mỹ. Trước các hoạt động hung hăng nhằm củng cố các yêu sách phi pháp ở Biển Đông đe doạ trực tiếp đến các lợi ích của Mỹ ở khu vực, Mỹ đã có những chuyển biến sâu sắc trong chính sách của Mỹ để đối phó với Trung Quốc.

Cột mốc quan trọng trong sự chuyển biến về chính sách của Mỹ đó là dưới thời Tổng thống Obama khi tháng 7/2010, khi Ngoại trưởng Hillary Clinton trong phát biểu tại Diễn đàn ARF tại Hà Nội lần đầu tiên tuyên bố Mỹ có “lợi ích quốc gia” ở Biển Đông, các yêu sách về quyền lợi biển ở Biển Đông phải hoàn toàn dựa trên các yêu sách hợp pháp về lãnh thổ dựa trên đất liền (nguyên tắc đất thống trị biển), qua đó gián tiếp bác bỏ yêu sách “đường đứt đoạn” của Trung Quốc. Tháng 02/2014, Trợ lý Ngoại trưởng Daniel Russell khẳng định tuyên bố của Trung Quốc về quyền và lợi ích ở Biển Đông trên cơ sở đường chín đoạn không phù hợp với các nguyên tắc của luật quốc tế và Trung Quốc nên làm rõ hoặc điều chỉnh lập trường này.[1] Trên cơ sở đó, tháng 12/2014, Bộ Ngoại giao Mỹ công bố báo cáo số 143 về Các đường ranh giới trên biển – Yêu sách biển của Trung Quốc ở Biển Đông, khẳng định các yêu sách biển của Trung Quốc ở Biển Đông không rõ ràng và không phù hợp luật pháp quốc tế.[2] Năm 2015, Trợ lý Ngoại trưởng Daniel Russell làm rõ thêm lập trường của Mỹ trong vấn đề Biển Đông, theo đó, Mỹ chỉ duy trì trung lập đối với các bên tranh chấp, chứ không trung lập về phương thức giải quyết tranh chấp, sẽ dốc sức ủng hộ tuân thủ luật pháp quốc tế. Cùng năm, Trợ lý Ngoại trưởng Daniel Russell cũng khẳng định Mỹ có quyết tâm kiên định nhằm tránh đối đầu quân sự với các nước ở Biển Đông, trong đó có Trung Quốc. Cũng trong năm 2015, Bộ Quốc phòng Mỹ công bố Chiến lược an ninh biển Châu Á – Thái Bình Dương, theo đó, xác định 03 mục tiêu biển chính ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương: đảm bảo tự do biển cả;[3] ngăn chặn xung đột và các hành vi cưỡng chế; và thúc đẩy tuân thủ các chuẩn mực và luật pháp quốc tế.[4] Bộ Quốc phòng Mỹ do vậy cam kết đảm bảo tiếp cận tự do và rộng mở để bảo vệ trật tự kinh tế ổn định phục vụ lâu dài tất cả các quốc gia ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và duy trì khả năng của lực lượng Mỹ để ứng phó khi cần thiết. Năm 2016, Quan chức cấp cao Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ Daniel Britenbrink tuyên bố Mỹ có “lợi ích quốc gia tối cao” tại Biển Đông giống như Trung Quốc và các nước khác trong khu vực.


[1] Phát biểu của Daniel Russell trong Phiên điều trần ở Nghị viện ngày 5/02/2014

[2] Báo cáo số 143.

[3] Tự do biển cả là thuật ngữ chưa được định nghĩa trong luật quốc tế, nhưng có thể hiểu bao hàm không chỉ là tự do của các tàu thuyền thương mại đi qua các luồng hải hải quốc tế. Bộ Quốc phòng Mỹ sử dụng khái niệm “tự do hàng hải” theo nghĩa bao hàm tất cả các quyền, tự do và sử dụng biển và vùng trời phía trên, bao gồm cho cả tàu và máy bay quân sự như được thừa nhận của luật quốc tế.

[4] US Department of Defense, “The Asia-Pacific Maritime Security Strategy: Achieving U.S. National Security Objectives in a Changing Environment” https://dod.defense.gov/Portals/1/Documents/pubs/NDAA%20A-P_Maritime_SecuritY_Strategy-08142015-1300-FINALFORMAT.PDF

Dưới thời Tổng thống Trump, Mỹ có điều chỉnh mang tính bước ngoặt hơn nữa khi chính quyền Trump thể hiện quyết tâm trong việc kiềm chế Trung Quốc trên thực địa và ủng hộ đồng minh, đối tác trong vấn đề Biển Đông. Mỹ điều chỉnh lập trường đối với vấn đề pháp lý tại Biển Đông theo hướng rõ ràng, công khai hơn để bác bỏ các yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông. Cụ thể Mỹ gửi 01 thư đến Tổng thư ký LHQ và HĐBA LHQ (01/6/2020), 01 tuyên bố của Bộ trưởng Ngoại giao Mike Pompeo (13/7/2020) và 01 Tuyên bố của Bộ trưởng Quốc phòng (21/7), theo đó: (i) Phản bác các yêu sách biển của Trung Quốc, trong đó có yêu sách quyền lịch sử và yêu sách “Tứ Sa”, yêu sách các cấu trúc tại Trường SA và bãi Scarborough có vùng EEZ và TLĐ riêng, và yêu sách vùng biển tính từ các bãi ngầm hoặc bãi cạn lúc chìm lúc nổi; (ii) khẳng định Phán quyết Vụ kiện Biển Đông có giá trị cuối cùng và ràng buộc đối với Trung Quốc và Philippines, yêu cầu Trung Quốc tuân thủ và điều chỉnh các yêu sách phù hợp với luật pháp quốc tế (như thể hiện trong Công ước).

Dưới thời Tổng thống Biden, chính sách Biển Đông dưới thời Trump tiếp tục được kế thừa, song tập trung nhiều hơn vào việc hỗ trợ đồng minh, đối tác nâng cao năng lực nhằm đối phó với Trung Quốc. Tháng 01/2022, Mỹ tiếp tục công bố báo cáo Ranh giới trên biển số 150 đưa ra các lập luận pháp lý có hệ thống nhằm bác bỏ toàn diện các yêu sách biển của Trung Quốc ở Biển Đông, bao gồm yêu sách chủ quyền, yêu sách Tứ Sa, yêu sách quyền lịch sử. Trong năm 2022, Mỹ công bố Chiến lược an ninh quốc gia và Chiến lược quốc phòng quốc gia, theo đó tái khẳng định sẽ bảo đảm tự do đi lại và cách tiếp cận mở tại Biển Đông. Gần đây nhất, tháng 2/2024, Bộ trưởng Antony Blinken đã công bố tài liệu Cam kết lâu dài của Mỹ đối với khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nhân kỷ niệm 2 năm công bố Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, theo đó, khẳng định cam kết của Mỹ trong việc ủng hộ nỗ lực của các đồng minh của Philippines trong việc thúc đẩy nhóm bạn bè thúc đẩy luật biển như được phản ánh trong UNCLOS, khẳng định Mỹ sẽ cùng đồng minh đối tác trong việc phản đối các hành vi quấy rối liên tục các tàu đang thực hiện quyền tự do hảng hải; khẳng định Mỹ sẽ thúc đẩy ngoại giao pháp lý mạnh mẽ để củng cố luật biển và trật tự quốc tế dựa trên luật lệ, trong đó có gặp gỡ trao đổi với các chuyên gia luật biển quốc tế và công bố các nghiên cứu cụ thể về yêu sách biển trong loạt nghiên cứu về “Các đường ranh giới trên biển” của Bộ Ngoại giao Mỹ. [1]

Dưới thời Tổng thống Trump nhiệm kỳ lần 2, vẫn còn quá sớm để có thể đưa ra nhận định, đánh giá chính xác về chính sách Biển Đông của Tổng thống Trump trong nhiệm kỳ này. Tuy nhiên, các động thái gần đây của Mỹ về chính sách ngoại giao và trên thực địa cho thấy khả năng cao Mỹ sẽ tiếp tục kế thừa có chọn lọc chính sách Biển Đông của chính quyền tiền nhiệm. Tại phiên điều trần tại Thượng viện Mỹ và trong trả lời phỏng vấn báo chí (10/2/2025), Ngoại trưởng Rubio nhấn mạnh, Trung Quốc là đối thủ ngang cơ mạnh nhất và nguy hiểm nhất mà Mỹ phải đối mặt. Tại Hội nghị An ninh Munich (15/02/2025), Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth tuyên bố “ưu tiên của Mỹ là ngăn chặn chiến tranh với Trung Quốc ở Thái Bình Dương, cùng Nhật và Hàn Quốc ra tuyên bố chung phản đối các hoạt động đơn phương nhằm thay đổi nguyên trạng bằng vũ lực hay cưỡng chế ở khu vực, nhấn mạnh cam kết duy trì vùng biển Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở, đảm bảo luật quốc tế giữ vai trò chủ đạo, cùng các quốc gia G7 ra tuyên bố (15/02 và 14/03/2025) ra tuyên bố bày quan ngại sâu sắc về tình hình Biển Đông, phản đối các hành vi đơn phương vi phạm luật pháp quốc tế, lên án các hành vi tấn công nguy hiểm vào tàu thuyền của Philippines và Việt Nam. Đặc biệt so với thông điêp kêu gọi đối thoại và kiềm chế do cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austrin đưa ra tại Shangri-La 2024, Bộ trưởng Pêt Hegseth tại Shangri-La 2025 (31/5) thể hiện lập trường cứng rắn hơn, chỉ trích và tấn công trực diện các hoạt động đơn phương gây mất ổn định của Trung Quốc ở Biển Đông, cho rằng các hoạt động này thể hiện sự thiếu tôn trọng căn bản của nước này đối với các quốc gia láng giềng và thách thức chủ quyền, tự do hang hải và hang không, khẳng định Mỹ đang theo dõi sát sao các hoạt động gây bất ổn của Trung Quốc và bất kỳ nỗ lực đơn phương nào nhằm thay đổi nguyên trạng bằng vũ lực hay cưỡng ép đều không thể chấp nhận được.

Đối với chiến thuật vùng xám, Mỹ cho rằng các hoạt động cưỡng chế theo chiến thuật vùng xám đe doạ các mục tiêu, lợi ích chiến lược của Mỹ.[2] Trước hết, các hoạt động cưỡng chế của Trung Quốc thách thức trật tự và chuẩn mực khu vực, do đó đe doạ tác động đến trật tự khu vực bằng việc thay đổi nguyên trạng thông qua các hoạt động trấn áp và vũ lực. Thứ hai, các hành vi hung hăng của Trung Quốc làm phóng đại hơn nguy cơ xung đột ngắn hạn. Thứ ba, Trung Quốc gây áp lực đối với các đồng minh, đối tác của Mỹ có thể làm suy giảm hệ thống tối ưu hoá mạng lưới các mối quan hệ song phương thông qua minh chứng rằng Mỹ không đủ năng lực và ý chí hay sự suy yếu trong mối quan hệ gắn kết đồng minh. Thứ tư, sự hung hăng hiếu chiến của Trung Quốc làm dấy lên quan ngại về việc thực hiện các quyền tự do hàng hải và tiếp cận kinh tế ở khu vực. Thứ năm, hành vi cưỡng chế của Trung Quốc có thể mang lại mối đe doạ cơ bản đối với trật tự khu vực ở Châu Á. Trong bối cảnh đó, việc kiểm soát sự trỗi dậy của Trung Quốc với tư cách là một cường quốc có thể được coi là thách thức chiến lược trọng yếu cho Mỹ và an ninh Châu Á nói chung.

Các hành vi cưỡng chế của Trung Quốc cũng được cho là đe doạ đến lợi ích kinh tế của Mỹ ở Châu Á. Việc duy trì và phát triển thịnh vượng ở khu vực cũng như sự rộng mở về kinh tế và dòng chảy thương mại tự do được xem là trọng yếu đối với sự phát triển kinh tế của Mỹ và thế giới. Như đã trình bày ở trên, gần 30% thương mại hàng hải thế giới đi qua Biển Đông hàng năm, trong đó mang lại gía trị thương mại hàng hải khoảng $1.2 nghìn tỷ cho Mỹ. Các lợi ích kinh tế của Mỹ ở khu vực sẽ không thể được đảm bảo nếu không có môi trường phát triển ổn định dựa trên các quy tắc và luật lệ mạnh mẽ và công bằng làm cơ sở cho các quốc gia cạnh tranh mà không dẫn đến xung đột. Do vậy Mỹ có lợi ích kinh tế lớn trong việc bảo vệ hệ thống trật tự dựa trên luật lệ ở khu vực này sẽ tiếp tục thực thi các chính sách và hoạt động trên thực địa để duy trì một khu vực Biển Đông tự do hàng hải, hàng không và thương mại không bị cản trở./.


[1] Antony Blinken, The United States’ Enduring Commitment to the Indo-Pacific: Marking Two Years Since the Release of the Administration’s Indo-Pacific Strategy (9/2/2024), https://www.state.gov/wp-content/uploads/2024/02/Indo-Pacific-Strategy-Second-Anniversary-Fact-Sheet.pdf

[2] Michael J. Green et al, “Countering Coercion in Maritime Asia: The Theory and Practice of Gray Zone Deterrence” (CSIS, 9/5/2017) tại https://www.csis.org/analysis/countering-coercion-maritime-asia

]]>
An ninh Biển Đông sẽ ra sao dưới tác động từ liên minh của Mỹ ở khu vực dưới thời D.Trump 2.0                             https://biendong.net/2025/07/12/an-ninh-bien-dong-se-ra-sao-duoi-tac-dong-tu-lien-minh-cua-my-o-khu-vuc-duoi-thoi-d-trump-2-0/ Sat, 12 Jul 2025 08:15:00 +0000 https://biendong.net/?p=153751 Các liên minh và hệ thống căn cứ quân sự của Mỹ ở khắp các châu lục trên thế giới thường được xem là “tài sản chiến lược quốc gia”, giúp Mỹ duy trì vai trò “siêu cường” và theo đuổi các lợi ích chiến lược khác nhau từ trước tới nay.

Tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương hay còn gọi là khu vực Ấn – Thái, các liên minh do Mỹ “dẫn dắt” những năm gần đây, có sự chuyển hướng theo dạng hình thành một mạng lưới các “tiểu liên minh” theo kiểu “ba bên” hoặc “bốn bên” và quan hệ đối tác đa dạng, nhằm thiết kế một “công cụ” quan trọng để Mỹ kiềm chế một cách chặt chẽ và sát sườn hơn đối với sự “trỗi dậy và bành trướng” của Trung Quốc. Tuy nhiên, khi ông D.Trump quay trở lại Nhà Trắng làm tổng thống nhiệm kỳ hai (2.0), bước đầu đang thực thi những chính sách khiến nhiều nước khu vực Ấn – Thái nằm trong các liên minh trên nảy sinh sự lo ngại về triển vọng hoạt động trong tương lai. Kèm theo đó là những tác động nào sẽ đến với an ninh khu vực Biển Đông.

Nhìn lại chính sách của ông D.Trump đối với các liên minh ở khu vực Ấn – Thái trong nhiệm kỳ đầu

Năm 2017, trong “Chiến lược an ninh quốc gia” của Mỹ, ông D.Trump đã nói về nhận định “Chiến lược này cho thấy chúng ta đang ở trong một kỷ nguyên của cạnh tranh toàn cầu trong các lĩnh vực như kinh tế, quân đội và chính trị. Chúng ta cũng phải đối mặt với các quốc gia kình địch như Nga và Trung Quốc, những nước tìm cách thách thức ảnh hưởng, giá trị và thịnh vượng của Mỹ. Chúng ta sẽ tìm cách xây dựng một mối quan hệ đối tác lớn với những nước đó với mục đích là luôn luôn bảo vệ giá trị quốc gia”.

Năm 2019, chính quyền ông D.Trump đã công bố chiến lược “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở” (Free and Open Indo Pacific – FOIP), trong đó nhấn mạnh sẽ duy trì một khu vực tự do, mở cửa và thịnh vượng, với mục tiêu chính là đối phó với sự “trỗi dậy” của Trung Quốc. Theo đó, Mỹ xác định sẽ củng cố các liên minh song phương với Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines, Thái Lan và Australia, đồng thời thúc đẩy các khuôn khổ an ninh đa phương như nhóm “Bộ tứ” (QUAD) gồm Mỹ, Nhật Bản, Australia và Ấn Độ, Hiệp định đối tác an ninh ba bên Australia, Vương quốc Anh và Mỹ (AUKUS), Liên minh ba bên Mỹ, Australia và New Zealand (ANZUS). Đó là chưa kể gia tăng quan hệ với các tổ chức, các quốc gia đối tác khác trong khu vực như ASEAN, Đối thoại Shangri-La, Singapore, Việt Nam, Ấn Độ, Indonesia…  

Đi cùng với việc công bố chiến lược “FOIP”, Mỹ cũng đã đổi tên Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương (USPACOM) của họ thành Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương (USINDOPACOM), phản ánh rõ nét ưu tiên chiến lược của Washington đối với khu vực đại dương rộng lớn, trải dài từ Ấn Độ Dương tới Thái Bình Dương. Ngoài ưu tiên chiến lược trên, một điểm nhấn khác rất đáng quan tâm là Mỹ chủ trương sẽ tập trung vào việc đối phó với Trung Quốc thông qua cạnh tranh trong các lĩnh vực quân sự, kinh tế và thương mại. Dựa trên sự kế thừa và tiếp nối với các chính sách đã có trước đây của Mỹ.

Tuy nhiên, khác với những người tiền nhiệm, với phong cách tư duy mang nặng “tính thực dụng” và “giao dịch” mà ông D. Trump rất ưa chuộng, nên ông đã “chuyển hóa” chúng vào trong quan hệ với các đối tác, kể cả với các đồng minh thân cận, “cùng chí hướng”. Theo đó, Tổng thống D.Trump thường xuyên yêu cầu, thậm chí có lúc gay gắt, với đồng minh trong việc chia sẻ gánh nặng tài chính và chiến lược. Ngay như cả với đồng minh rất thân cận là Nhật Bản, ông cũng công khai đặt câu hỏi về giá trị của liên minh này đối với Mỹ, đồng thời yêu cầu hai đồng minh là Hàn Quốc và Nhật Bản phải tăng chi phí cho sự hiện diện quân sự của Mỹ tại các cứ điểm tiền tiêu. Thậm chí, ông D.Trump còn tìm cách “xích lại” gần hơn với Triều Tiên dù rằng động thái này không mấy hiệu quả, khiến cho lợi ích an ninh của Hàn Quốc gặp bất lợi. Đối với QUAD, nhóm liên minh được thành lập năm 2007, nhưng năm 2017 mới chính thức khởi động và AUKUS mới được thành lập tháng 9/2021, mặc dù đã hình thành và đi vào hoạt động, nhưng vẫn tồn tại nhiều hạn chế, chậm trễ trong triển khai, làm ông D.Trump không thật hài lòng và đặt ra nhiều yêu cầu theo hướng đưa lại nhiều lợi ích hơn cho nước Mỹ.

Dù vậy, nhìn tổng thể trong nhiệm kỳ đầu của ông D. Trump vẫn thấy,  việc ông sử dụng các liên minh ở khu vực Ấn – Thái để kiềm chế Trung Quốc đã đạt được một số kết quả, nổi bật là: 1/ Đã củng cố thêm quan hệ với các đồng minh truyền thống như Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia. Đặc biệt, Mỹ đã chú trọng quan hệ với Ấn Độ, công nhận vai trò quan trọng của nước này trong chiến lược “FOIP” để kiềm chế Trung Quốc. 2/ Khôi phục và khởi động lại QUAD nhằm tăng cường hợp tác an ninh và đối phó với ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc. 3/ Thể hiện rõ quyết tâm hơn của Mỹ trong việc duy trì vai trò lãnh đạo và đối phó với các thách thức đến từ Trung Quốc thông qua việc công bố chiến lược “FOIP”. 4/ Đã thực thi các biện pháp thuế quan và thương mại “cứng rắn” đối với Trung Quốc, qua đó giúp giảm thiểu thâm hụt thương mại và kiềm chế sự trỗi dậy mạnh mẽ về kinh tế của nước này.

Bên cạnh kết quả trên, vẫn tồn tại một số thách thức và hạn chế, như:
1/ Việc Mỹ rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã gây ra sự “hoang mang” cho các đồng minh và đối tác, nhưng lại tạo cơ hội cho Trung Quốc tăng cường ảnh hưởng kinh tế trong khu vực. 2/ Sự thiếu nhất quán và khó đoán định trong chính sách đối ngoại của ông D.Trump đã gây khó khăn cho việc xây dựng lòng tin với các đồng minh. 3/ Xu hướng tập trung vào cạnh tranh song phương với Trung Quốc, thay vì xây dựng một chiến lược đa phương toàn diện đã làm giảm sức ép và khả năng “răn đe tập thể” đối với Trung Quốc. 4/ Cách tiếp cận “nước Mỹ trên hết” và các yêu cầu chia sẻ gánh nặng tài chính của ông D.Trump đã gây ra sự căng thẳng trong quan hệ với một số đồng minh truyền thống.

Sau khi tiếp quản Nhà Trắng, chính quyền Tổng thống J.Biden vẫn kế tục chính sách của ông D.Trump, đẩy mạnh cạnh tranh chiến lược với Trung Quốc bằng cách bổ sung các khía cạnh công nghệ, đổi mới và tách rời chuỗi cung ứng. Ông J.Biden đã tiến hành củng cố các liên minh song phương với Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia và Philippines, đồng thời tái cam kết với ASEAN thông qua Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+). Đối với hai cơ chế là QUAD và AUKUS, Mỹ đã tăng cường đáng kể tính chất tác chiến của QUAD thông qua việc thành lập các nhóm công tác và tổ chức cuộc họp thường niên ở cấp nguyên thủ quốc gia và chính phủ. Với AUKUS, nổi bật nhất là việc Hải quân Australia sẽ sở hữu 8 tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân do Mỹ sản xuất, một động thái rõ ràng là nhằm đối phó với Trung Quốc trong khu vực Ấn – Thái. Đồng thời, một loạt những cơ chế “nhóm nhỏ” quan trọng được hình thành, như Đối thoại an ninh 3 bên Mỹ – Nhật – Australia (kéo dài 7 năm) cùng với Đối thoại Mỹ – Nhật – Hàn, được khởi xướng tại Trại David hồi tháng 8/2023, Hội nghị thượng đỉnh Mỹ – Nhật – Phi (tháng 4/2024)… cho phép Mỹ hợp tác có mục tiêu và hiệu quả hơn trong các vấn đề an ninh cụ thể với các đối tác “cùng chí hướng”.

Có thể khẳng định rằng, cả ông D.Trump và ông J.Biden đã có nhiều nỗ lực đưa Mỹ trở lại và đóng vai trò “dẫn dắt” các hành động đa phương ở khu vực để kiềm chế Trung Quốc thông qua các liên minh, các quan hệ đối tác và cơ chế đa phương.

Các liên minh do Mỹ “dẫn dắt” ở khu vực Ấn – Thái dưới thời D.Trump 2.0 sẽ ra sao

Các liên minh đã được xem là “tài sản chiến lược” thì có thể hiểu, người đứng đầu nước Mỹ và nội các Mỹ có thể thay đổi, nhưng “tài sản” trên chắc chắn vẫn sẽ được duy trì. Tuy nhiên, dưới thời ông D.Trump hiện nay, các liên minh này đang bị tác động, chi phối bởi các yếu tố sau: 1/ Với tư duy ưu tiên “lợi ích nước Mỹ là trên hết”, ông D.Trump sẽ tiếp tục đặt lợi ích kinh tế và an ninh của Mỹ lên hàng đầu, sẽ đòi hỏi các đồng minh đóng góp nhiều hơn về tài chính và quân sự để cùng “chia sẻ gánh nặng” với Mỹ. Các đồng minh của Mỹ ở khu vực Ấn – Thái cũng không đứng ngoài đòi hỏi trên của Mỹ. 2/ Về quan hệ kinh tế, ông D.Trump sẽ sử dụng cách tiếp cận “cứng rắn” hơn về thương mại, thuế quan với Trung Quốc, và cũng có thể áp dụng cách làm này với cả các đồng minh để gây áp lực, buộc các nước này phải có trách nhiệm và hành động thực chất, hiệu quả hơn, qua đó đưa lại lợi ích lớn hơn cho nước Mỹ. Điều này đã xảy ra khi ngày 02/4/2025, ông D.Trump đã ban hành luật thuế đối ứng mới lên hơn 180 quốc gia có quan hệ thương mại với Mỹ. 3/ Phong cách lãnh đạo “khó đoán định” của ông D.Trump có thể tạo ra sự không chắc chắn về cam kết của Mỹ, bằng chứng là ngày 02/4/2025 ông vừa ban hành mức thuế rất cao đánh vào hàng hóa xuất nhập khẩu của hầu hết các nước đối tác thương mại thì ngày 28/4/2025 lại ra quyết định hoãn thi hành 90 ngày. Rồi điều chỉnh cả mức thuế với từng nước đối tác theo mức độ “thương lượng” và quan hệ với từng nước trên. Điều này khiến các đồng minh phải “tự sờ lên gáy” mà tìm kiếm các bảo đảm khác hoặc khả năng tự chủ lớn hơn. 4/ Nội bộ Mỹ có sự đồng thuận hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho Chính quyền D.Trump thực thi các chính sách đối với các liên minh. Hiện nay, cả đảng Cộng hòa và Dân chủ đều thống nhất rằng, Trung Quốc là “thách thức lớn nhất về an ninh và kinh tế” đối với Mỹ, được thể hiện trong Dự án 2025 (Project 2025) – dự án nhằm duy trì chiến lược “FOIP”.

Rõ ràng, các yếu tố chi phối và tác động trên cho thấy, việc sử dụng các liên minh để thực hiện chiến lược trên sẽ vẫn được duy trì, nhất là nhằm kiềm chế Trung Quốc. Trong đó, các chính sách “cứng rắn” về thương mại và an ninh đối với Trung Quốc vẫn tiếp nối và sẽ mạnh mẽ hơn trong nhiệm kỳ hai của ông D.Trump, nhưng khi tiếp cận và triển khai thực hiện với các liên minh, sẽ có sự thay đổi và dự báo có thể xảy ra các “kịch bản” sau.

Thứ nhất, Mỹ sẽ gia tăng yêu cầu các đồng minh phải có sự đóng góp nhiều hơn. Lý do đầu tiên xuất phát từ các yếu tố chi phối như đã nêu trên. Tiếp theo là, trong nhiệm kỳ đầu, ông D.Trump đã từng chỉ trích các đồng minh NATO vì không đóng góp đủ ngân sách quốc phòng, nên cũng có thể áp dụng logic tương tự trong nhiệm kỳ hai với các đối tác châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, hay Philippines. Điều này có thể làm suy yếu lòng tin của các đồng minh vào cam kết dài hạn của Mỹ. Mặt khác, không giống như ông J.Biden là chú ý đến tính dài hạn và nhấn mạnh sức mạnh tập thể của liên minh, ông D.Trump ưa thích các thỏa thuận song phương hơn đa phương (điển hình là rút khỏi TPP trong nhiệm kỳ đầu), nên có thể làm giảm hiệu quả của các cơ chế đa phương như QUAD hoặc AUKUS, vốn dựa trên hợp tác đa phương để cân bằng ảnh hưởng với Trung Quốc thông qua “răn đe tập thể”. Ông D.Trump đã nhiều lần tuyên bố, Đài Loan nên “trả phí” cho việc Mỹ bảo vệ hòn đảo này khi cho rằng, Đài Loan không đóng góp đủ cho việc này, còn Mỹ đóng vai trò như một “công ty bảo hiểm”. Hay như yêu cầu Nhật Bản hỗ trợ nếu Mỹ bị tấn công. Tư duy và cách làm này có thể tạo thêm áp lực lên các đồng minh, gây xáo trộn nhất định, nhưng sẽ không làm suy yếu và thậm chí tác động ở mức độ nào đó với các liên minh, bởi vì các nước Nhật Bản, Australia, Philippines và vùng lãnh thổ Đài Loan không thể không có Mỹ để “cân bằng” và “đối chọi” với Trung Quốc. Và ngược lại, Mỹ sẽ khó có thể bảo đảm cao nhất lợi ích của mình ở khu vực nếu thiếu sự hợp tác liên minh với những đối tác này.

Thứ hai, chiến lược an ninh của Mỹ có thể sẽ có sự thay đổi theo phong cách tư duy thực dụng của ông D.Trump, khiến các đồng minh lâm vào thế “khó xử” trong cân bằng giữa Mỹ và Trung Quốc. Vừa qua, ông D.Trump đã đề xuất rút quân khỏi một số khu vực ở châu Âu và các khu vực khác trên thế giới để “tiết kiệm chi phí”, vậy nên cũng không loại trừ khả năng vấn đề giảm hiện diện quân sự của Mỹ ở châu Á cũng có thể được đặt ra trong tương lai. Tuy vậy, khả năng này trước mắt rất khó xảy ra vì từ đầu nhiệm kỳ đến nay, nội bộ chính quyền Mỹ rất nhất quán trong việc đánh giá và coi trọng khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, nhất là nguy cơ nổi lên từ Trung Quốc. Mặc dù vậy, các đồng minh trong khu vực đều tính đến tình huống này và chú ý củng cố năng lực quốc phòng hoặc tìm kiếm quan hệ với các đối tác như Pháp, Ấn Độ, thậm chí tìm đường “đến gần” Trung Quốc. Ông D.Trump cũng có thể tăng cường ủng hộ Đài Loan, như bán vũ khí, ủng hộ tư cách thành viên của Đài Loan trong các tổ chức quốc tế… Hoạt động này chắc chắn sẽ vấp phải sự phản ứng của Trung Quốc, và vì thế sẽ đặt các nước vào thế khó xử trong cân bằng quan hệ giữa Washington và Bắc Kinh khi bày tỏ quan điểm.

Thứ ba, Mỹ sẽ tái áp thuế quan hoặc hạn chế thương mại “cứng rắn” hơn với Trung Quốc. Điều này đã xảy ra ngay những ngày đầu của D.Trump 2.0. Tuy nhiên, cách tiếp cận “đơn phương” này có thể làm suy yếu sự phối hợp với các đồng minh, vốn lâu nay đã phụ thuộc vào chuỗi cung ứng từ Trung Quốc. Đối với chiến lược “FOIP”, để vừa bảo vệ lợi ích và ảnh hưởng của Mỹ đã có gần một thế kỷ nay vừa kiềm chế Trung Quốc, ông D. Trump vẫn duy trì và thúc đẩy, nhưng sẽ hạn chế đầu tư đa phương, thay vào đó tập trung vào các thỏa thuận song phương có lợi trực tiếp cho Mỹ, song lại ảnh hưởng đến lợi ích của các đồng minh.

Thứ tư, các đồng minh trong khu vực sẽ có sự phản ứng, gây bất lợi cho Mỹ. Trên thực tế, các nước này đang có sự phụ thuộc rất lớn vào Mỹ cả về an ninh và kinh tế, nhất là về an ninh. Song, trên cương vị tổng thống của một quốc gia “siêu cường”, ông D.Trump có sự tính toán rất sâu xa và chi ly, sẵn sàng bỏ qua lợi ích của nước khác để hướng đến mục tiêu “lợi ích nước Mỹ là trên hết”. Chỉ xem những gì ông D.Trump hành xử với nước Nga và cuộc chiến ở Ucraines trong vòng 100 ngày mới lên cầm quyền đã cho thấy những toan tính “thâm sâu” của ông mà ngay đến cả những đồng minh “cật ruột” như Anh, Pháp, Đức đều thất vọng và quay cuồng ứng phó. Trong bối cảnh như vậy, các nước, các tổ chức như ASEAN, Ấn Độ, hay Australia có thể quay sang tăng cường hợp tác nội khối, hoặc mở rộng quan hệ với các tổ chức và cường quốc khác như EU, Nga để giảm sự phụ thuộc vào Mỹ.

Quan hệ Mỹ – Trung vốn đã căng thẳng, nay chính quyền D.Trump 2.0 lại nhấn mạnh rằng, Trung Quốc là “mối đe dọa trực tiếp nghiêm trọng nhất” đối với Mỹ (Dự án 2025). Vì thế, để đề phòng với tình huống xung đột Mỹ – Trung có thể xảy ra, gây bất lợi cho bản thân, nhiều nước trong khu vực, kể cả là đồng minh và đối tác quan trọng của Mỹ, như Hàn Quốc, Singapore…sẽ tìm cách  “dung hòa lợi ích”, tránh đứng hẳn về “phe” Mỹ do sự bất ổn và tính khó đoán định của ông D.Trump.

Thứ năm, đây có lẽ là “kịch bản” mà ông D.Trump không mong muốn, nhưng tư duy và cách làm của ông đối với các liên minh lại có thể dẫn đến, đó là tạo “cơ hội” cho Trung Quốc phát triển, bởi Trung Quốc không bao giờ “án binh bất động” trước Mỹ. Nghĩa là, lợi dụng chính sách “thực dụng” và “khó đoán định” của ông D.Trump có thể gây chia rẽ các liên minh, Trung Quốc sẽ tăng cường chính sách quan hệ kinh tế, thương mại với các nước “bạn bè” của Mỹ, gia tăng đầu tư cơ sở hạ tầng, “ngoại giao bẫy nợ”… hoặc mở rộng ảnh hưởng quân sự ở Biển Đông nếu cảm thấy Mỹ có phần “sao nhãng”. Các sáng kiến kinh tế lớn do Trung Quốc “cầm trịch” như “Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực” (RCEP), hoặc sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI) có thể trở nên hấp dẫn hơn nếu Mỹ rút khỏi vai trò lãnh đạo kinh tế ở khu vực.

Những tác động tới an ninh khu vực Biển Đông dưới thời D.Trump 2.0

Với những “kịch bản” trên, an ninh khu vực Biển Đông trong nhiệm kỳ hai của Tổng thống D.Trump sẽ ra sao là vấn đề không dễ đoán định, nhưng chắc chắn Mỹ sẽ gia tăng các hoạt động vào khu vực này trên nhiều mặt trận, nhiều cách thức khác nhau. Trong đó, sử dụng các liên minh và đối tác là một cách thức được ông D.Trump chú trọng và triển khai theo phong cách riêng “không giống ai” của vị tổng thống này. Chính vì vậy, tình hình an ninh ở khu vực Biển Đông thời gian tới bị tác động và có thể diễn biến theo các hướng sau:

Một là, đối đầu và căng thẳng sẽ gia tăng. Lý do là, ngoài áp dụng “con bài sở trường” là “trừng phạt” về kinh tế đối với Trung Quốc, Mỹ sẽ tăng cường các hoạt động quân sự với các đồng minh đã có ở khu vực này, dựa trên thế mạnh  về hợp tác quân sự đã từng được xây dựng và triển khai. Theo đó, các cuộc diễn tập quân sự đơn phương, song phương và đa phương do Mỹ dẫn dắt sẽ tiếp tục gia tăng; nhiều loại trang bị, vũ khí mới thuộc thế hệ “công nghệ 4.0” sẽ được tích hợp và đưa vào triển khai, thí nghiệm và ứng dụng; không loại trừ sẽ xuất hiện thêm các hiệp ước, các liên minh mới xuất hiện hay được mở rộng từ các liên minh cũ. Khi “kịch bản” này xảy ra, Trung Quốc chắc chắn sẽ phản ứng lại dưới nhiều hình thức trong đó có thể gia tăng hoạt động làm phức tạp tình hình, xâm phạm vùng biển các nước liên quan nhất là Philippinnes, nước được cho là “thân Mỹ”, nên có thể dẫn đến các cuộc va chạm thậm chí “đối đầu” trực tiếp trên biển và trên không, làm gia tăng nguy cơ tính toán sai lầm và xung đột không mong muốn.

Hai là, trước áp lực về an ninh ở Biển Đông, không loại trừ khả năng các quốc gia trong khu vực có thể buộc phải “chọn phe”, làm gia tăng sâu sắc hơn sự “phân cực” giữa các quốc gia ủng hộ Mỹ và những quốc gia có quan hệ kinh tế hoặc chính trị chặt chẽ với Trung Quốc. Nếu điều này xảy ra, sẽ rất dễ đẩy tình hình an ninh khu vực vào thế “đối đầu” nguy hiểm. Từ đó có thể làm suy yếu sự đoàn kết, thống nhất của các tổ chức khu vực trong các vấn đề quốc tế và khu vực, trong đó có ASEAN, nhất là sự đồng thuận của khối này trong việc giải quyết các vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông giữa ASEAN và Trung Quốc.

Ba là, cuộc chạy đua vũ trang mới ở khu vực sẽ trở nên bức thiết và “nóng bỏng”. Hiện nay, thế giới chứng kiến các cuộc chiến tranh ở Ucraines, ở Trung Đông, mới đây ở Ấn Độ và Pakisxtan với sự xuất hiện của các loại vũ khí, trang bị mới, hiện đại và rất hiệu quả như máy bay không người lái, tên lửa chính xác, vũ khí điện tử… Những nước đứng ngoài các cuộc chiến, xung đột trên không thể “bình chân như vại” mà không ít thì nhiều đã bắt tay vào “chạy đua vũ trang ngầm”. Trong đó có cả các nước khu vực Ấn – Thái bởi do lo ngại về sự gia tăng căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc, về những bất ngờ “khó đoán định” từ chính sách của Mỹ, về cả sự “khuyến khích” đồng minh tăng ngân sách quốc phòng từ Mỹ. Các quốc gia này buộc phải tăng ngân sách và chi tiêu quốc phòng, nghiên cứu phát triển, mua sắm vũ khí trang bị mới và hiện đại hóa quân đội. Điều này có thể dẫn đến một cuộc chạy đua vũ trang mới trong khu vực, tiềm ẩn nguy cơ đối với hòa bình và ổn định khu vực.

Bốn là, về kinh tế, căng thẳng gia tăng ở Biển Đông có thể gây ra những tác động tiêu cực đến thương mại và đầu tư trong khu vực, ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của các quốc gia liên quan. Ngoài việc hai nước “chủ chòm” là Mỹ, Trung “gây sự” với nhau, các nước xung quanh Biển Đông sẽ có thể không chỉ gặp khó khăn trong quan hệ thương mại, đầu tư với hai quốc gia này mà còn có thể hứng chịu hậu quả từ những biện pháp trừng phạt trả đã lẫn nhau của hai nước này như trừng phạt kinh tế bằng thuế quan, cắt đứt chuỗi cung ứng hàng hóa và thậm chí là bao vây, ngăn chặn trên biển, cắt đứt tuyến giao thông biển quan trọng của thế giới qua Biển Đông.  

Năm là, tranh chấp pháp lý về Biển Đông tiếp tục căng thẳng. Mỹ và các đồng minh sẽ nhấn mạnh tầm quan trọng của luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982 để làm cơ sở phản đối hành vi phi pháp, khiêu khích nguy hiểm của Trung Quốc bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của mình ở Biển Đông. Song Trung Quốc đã và sẽ cho rằng, Mỹ không có cơ sở pháp lý để lên tiếng, can dự vào Biển Đông vì Mỹ không phải là một bên tranh chấp, hơn nữa không tham gia và phê chuẩn UNCLOS 1982. Thực chất là Trung Quốc muốn loại bỏ vai trò, lợi ích và sự can dự của Mỹ để dễ dàng thực hiện các yêu sách “chủ quyền phi pháp” của mình. Sự tranh chấp này khó đi đến “hồi kết” và sẽ khiến cho vai trò pháp lý quốc tế ở Biển Đông không thể phát huy đầy đủ hiệu quả.

Sáu là, bản thân phong cách lãnh đạo “khó đoán định” của ông D.Trump, nhất là thay đổi vào “phút chót” khi “thấy lợi cho quốc gia” sẽ dẫn đến những sự thay đổi đột ngột trong chính sách, “xem nhẹ” lợi ích nước khác kể cả đồng minh hoặc các tuyên bố bất ngờ của ông này cũng có thể làm gia tăng sự bất ổn trong khu vực.

Tóm lại, củng cố và bảo vệ vai trò, lợi cihs, vị thế “siêu cường” của Mỹ ở khu vực, các chính sách lâu nay kiềm chế ảnh hưởng của Trung Quốc là mục tiêu không thay đổi của Mỹ. Do đó, Mỹ sẽ vẫn tiếp tục củng cố các liên minh đã có ở khu vực Ấn – Thái và thậm chí thiết lập liên minh mới khi cần để phục vụ mục tiêu trên. Với chính sách “nước Mỹ trên hết”, cùng với tính cách “khó đoán định” của mình, nên việc ông D.Trump sử dụng các “kịch bản” nào và phối kết hợp chúng ra sao để đối phó với Trung Quốc vẫn đang được “giấu kín”. Tương lai và hoạt động của các liên minh, các cơ chế nói trên sẽ như thế nào dưới thời D.Trump 2.0 vẫn là những ẩn số, chưa dễ có đáp áp ngay hiện nay. Ít nhất trên thực tế, cuộc tập trận Balikatan 2025 do Mỹ phối hợp đồng minh Philippines tiến hành từ ngày 21/4 – 09/5/2025 và những gì xảy ra trên Biển Đông gần đây cũng cho thấy Mỹ đang huy động các liên minh và Trung Quốc cũng đang hành động để đối phó. An ninh khu vực Biển Đông thời gian tới tiềm ẩn nhiều điều bất trắc, khả năng căng thẳng leo thang có thể kéo theo những thay đổi bất ngờ, khó lường hơn.

]]>
Không ai thắng trong xung đột ở Biển Đông https://biendong.net/2025/07/09/khong-ai-thang-trong-xung-dot-o-bien-dong/ Wed, 09 Jul 2025 01:44:00 +0000 https://biendong.net/?p=155029 Biển Đông, với vị trí chiến lược quan trọng và trữ lượng tài nguyên phong phú, từ lâu đã trở thành điểm nóng địa chính trị trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Cạnh tranh địa chiến lược Mỹ-Trung ở Biển Đông và Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương ngày càng căng thẳng. Trung Quốc tăng các hoạt động áp lực lên Philippines – một đồng minh lâu đời của Mỹ, làm dấy lên lo ngại về nguy cơ xung đột quân sự Mỹ-Trung. Câu hỏi đặt ra: Liệu sẽ có bên thắng cuộc nếu chiến tranh xảy ra?

Các chuyên gia nhận định quân đội Trung Quốc sở hữu nhiều thiết bị hiện đại và tàu chiến hơn Mỹ, nhưng thiếu kinh nghiệm chiến đấu. Nếu xảy ra xung đột giữa Mỹ và Trung Quốc ở Đài Loan hoặc Biển Đông, cả hai bên sẽ chịu tổn thất lớn, có thể bao gồm cả thiệt hại về máy bay, tàu chiến. Song nhiều phân tích cũng chỉ ra, Mỹ có khả năng giành chiến thắng nhờ lực lượng được đào tạo, chỉ huy tốt và giàu kinh nghiệm, bù đắp cho sự thua kém về số lượng.

Mỹ có kinh nghiệm lâu năm trong các hoạt động liên quan đến cuộc chiến chống khủng bố và lực lượng quân đội đã tham gia nhiều chiến dịch trong nhiều thập kỷ, hiện đang duy trì trạng thái sẵn sàng tại Đông Á. Trong khi đó, Trung Quốc thường xuyên tổ chức các cuộc tập trận quy mô lớn, tuy nhiên chưa có nhiều kinh nghiệm thực chiến. Các báo cáo cho biết Trung Quốc sở hữu nhiều trang thiết bị quân sự tiên tiến như tàu sân bay, máy bay, tên lửa và xe tăng. Tuy vậy, chất lượng thực tế của các khí tài này so với Mỹ vẫn còn là vấn đề cần xem xét thêm.

Các chuyên gia quân sự nhận định nếu Mỹ-Trung xảy ra chiến tranh trên biển, Mỹ có thể nhanh chóng đánh bại nhiều tàu chiến Trung Quốc, buộc Trung Quốc phải đề nghị hòa giải trong vòng một tuần.

Giới phân tích chiến lược quân sự cũng cho rằng trong trường hợp xảy ra chiến tranh giữa hai siêu cường, Không quân và Hải quân Mỹ sẽ bắt đầu bằng một chiến dịch gây sốc và kinh hoàng bằng tên lửa hành trình Tomahawk phóng từ tàu ngầm để tiêu diệt tên lửa chống hạm của Trung Quốc ở trên bờ. Máy bay chiến đấu tàng hình và máy bay ném bom của Không quân Mỹ sẽ xuyên thủng hệ thống phòng không của Trung Quốc và phá hủy radar, các cơ sở chỉ huy và kiểm soát, cũng như tên lửa đất đối không, khiến Trung Quốc mất ưu thế trên không.

Một cuộc tấn công hải quân tăng cường sẽ được triển khai ngay sau đó. Các tàu sân bay trong khu vực sẽ điều động F-35C Lightning II và F/A-18 E/F Super Hornet để tấn công các tàu sân bay Trung Quốc. Tàu ngầm Mỹ sẽ phá hủy các tàu này bằng ngư lôi hạng nặng.

Với tên lửa chống hạm của mình, Trung Quốc có thể sẽ tấn công, tuy nhiên, các nhóm tác chiến tàu sân bay Mỹ sẽ chủ yếu nằm ngoài tầm bắn. Hệ thống chiến đấu Aegis sẽ trở thành một hàng rào chắn để bảo vệ đội tàu trong các nhóm tác chiến. Có khả năng một số ít tên lửa chống hạm của Trung Quốc phóng từ máy bay sẽ đánh chìm một số tàu Mỹ, thậm chí bao gồm cả tàu sân bay. Tuy nhiên, Trung Quốc sẽ phải trả một cái giá đắt đỏ.

Các chuyên gia cho rằng nếu Mỹ và Trung Quốc giao tranh, xung đột sẽ chỉ kéo dài dưới một tuần. Tình huống có thể bắt đầu bằng việc tấn công Đài Loan, khiến Mỹ can thiệp, dẫn đến các cuộc xung đột bằng tên lửa và ngư lôi.

Có khả năng xảy ra các sự cố như va chạm trên không giữa máy bay hoặc va chạm giữa tàu Trung Quốc và tàu Mỹ. Cả hai phía có thể quy trách nhiệm cho nhau và nguy cơ xảy ra các cuộc tấn công bằng tên lửa qua lại là điều có thể xảy ra. Tuy nhiên, chưa thể xác định liệu những sự kiện này có dẫn đến một cuộc xung đột quy mô lớn hay không. Tổng thống Mỹ Donald Trump vẫn chưa đưa ra chiến lược quân sự rõ ràng đối với khu vực Đông Á, ngoại trừ tuyên bố rằng Mỹ sẽ “hủy diệt” mạnh mẽ hơn.

Thứ trưởng Quốc phòng Mỹ phụ trách chính sách, Elbridge Colby, đang xây dựng một chiến lược đối phó với Trung Quốc, dự kiến sẽ công bố trong năm nay. Ngày 2/5/2025, người phát ngôn Lầu Năm Góc Sean Parnell cho biết Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth đã yêu cầu xây dựng một chiến lược quốc phòng mới trong năm 2025, tập trung vào việc bảo vệ lãnh thổ quốc gia và răn đe Trung Quốc tại khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Chiến lược này cũng sẽ tập trung vào việc tăng cường chia sẻ trách nhiệm với các đồng minh và đối tác toàn cầu, qua đó củng cố quan hệ với các đối tác cũng như đồng minh, và tạo điều kiện cho hòa bình lâu dài. Theo yêu cầu của Bộ trưởng Hegseth, bản dự thảo cuối cùng chiến lược quốc phòng mới dự kiến sẽ được đệ trình muộn nhất vào ngày 31/8/2025. Như vậy có thể thấy trong mọi kịch bản chiến tranh xảy ra giữa Mỹ với Trung Quốc sẽ đều có sự tham gia của các đồng minh Mỹ với cách thức khác nhau.

Một trong những vấn đề được quan tâm đối với Trung Quốc trong trường hợp xảy ra xung đột kéo dài là mức độ độc lập về năng lượng. Hiện tại, Trung Quốc vẫn nhập khẩu một lượng lớn năng lượng, chủ yếu là dầu mỏ và khí đốt tự nhiên, từ các nguồn như Trung Đông và Australia. Trong tình huống có xung đột liên quan đến Đài Loan, nguy cơ bị phong tỏa hoặc trừng phạt có thể ảnh hưởng đến các hoạt động nhập khẩu này. Mỹ và các đồng minh có thể áp dụng các biện pháp hạn chế tiếp cận nguồn cung năng lượng của Trung Quốc, ví dụ như kiểm soát các tuyến hải quân quan trọng tại Eo biển Malacca và Biển Đông.

Các chuyên gia quân sự đã phân tích về chiến lược chống tiếp cận/chống xâm nhập khu vực (A2/AD) của Trung Quốc. Chiến lược này nhằm hạn chế sự hiện diện của quân đội Mỹ trong khu vực. Mặt khác, Mỹ cũng có thể áp dụng chiến lược A2/AD của riêng mình trong trường hợp Trung Quốc tiến hành phong tỏa hoặc cô lập Đài Loan. Khi đó, Mỹ có thể thực hiện các biện pháp kiểm soát tại Eo biển Malacca giữa Malaysia và Indonesia, một điểm vận chuyển quan trọng đối với nguồn cung dầu tới Trung Quốc. Việc này sẽ ảnh hưởng đến khả năng duy trì hoạt động lâu dài của Trung Quốc nếu nguồn cung nhiên liệu bị hạn chế.

Trung Quốc đã đạt được nhiều tiến bộ đáng kể trong việc hiện đại hóa lực lượng quân đội và trang bị đa dạng các loại vũ khí hiện đại. Dù vậy, một số ý kiến cho rằng Trung Quốc đang thể hiện sự tự tin cao trong lĩnh vực này. Về phía Mỹ, nước này cho biết đã chuẩn bị sẵn sàng cho mọi tình huống có thể dẫn đến xung đột. Lực lượng tàu ngầm, tàu sân bay của Mỹ cũng như trình độ đào tạo và kinh nghiệm thực chiến của binh sĩ đều được đánh giá cao qua nhiều nhiệm vụ thực tế.

Trung Quốc hiện sở hữu nhiều khí tài quân sự hiện đại, dù hiệu quả thực tế trong chiến đấu của các loại vũ khí này vẫn chưa được kiểm chứng. Yếu tố con người tiếp tục giữ vai trò quan trọng bên cạnh công nghệ. Trung Quốc sở hữu tên lửa chống hạm, máy bay chiến đấu tàng hình và một lực lượng tàu chiến đáng kể có thể gây ảnh hưởng tới Hải quân Mỹ. Tuy nhiên, khả năng của Hải quân và Không quân Mỹ cũng duy trì ở mức sẵn sàng tác chiến cao. Các phân tích lưu ý rằng không nên xem nhẹ bất cứ bên nào trong trường hợp xảy ra xung đột. Trong khi đó, chính quyền Mỹ dưới nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Trump đã đề ra các biện pháp nhằm tăng cường khả năng răn đe đối với Trung Quốc, đồng thời nhấn mạnh ưu tiên chiến lược “Nước Mỹ trước tiên”. Washington thể hiện mong muốn tránh các cuộc xung đột trực tiếp với Trung Quốc tại Biển Đông hoặc những khu vực có thể ảnh hưởng tới định hướng chiến lược này.

Thực tế cho thấy, một cuộc chiến giữa Mỹ và Trung Quốc tại Biển Đông không chỉ gây tổn thất nghiêm trọng về sinh mạng, tài sản mà còn để lại những hậu quả lâu dài đối với an ninh khu vực và toàn cầu. Cả Mỹ và Trung Quốc đều sở hữu lực lượng quân sự hùng mạnh, hệ thống vũ khí hiện đại và khả năng tấn công lẫn phòng thủ vượt trội. Tuy nhiên, sự đụng độ giữa hai cường quốc này sẽ không chỉ giới hạn ở Biển Đông mà còn kéo theo sự can dự của các quốc gia đồng minh, từ đó biến xung đột khu vực thành một cuộc chiến toàn diện.

Thứ nhất, về mặt quân sự, cả hai bên đều có khả năng triển khai sức mạnh đáng kể. Mỹ với hệ thống căn cứ quân sự trải rộng từ Nhật Bản, Hàn Quốc đến Philippines, cùng lực lượng hải quân hiện đại và các tàu sân bay hạt nhân. Trong khi đó, Trung Quốc đã tăng cường hiện diện quân sự tại Biển Đông thông qua việc xây dựng và củng cố các đảo nhân tạo, triển khai các hệ thống phòng thủ tên lửa và tăng cường lực lượng hải cảnh. Tuy nhiên, ngay cả khi một bên giành được ưu thế quân sự trong thời gian ngắn, tổn thất về sinh mạng và cơ sở hạ tầng sẽ là vô cùng to lớn và khó có thể bù đắp.

Thứ hai, về mặt kinh tế, một cuộc chiến tại Biển Đông sẽ gây gián đoạn nghiêm trọng đến các tuyến đường hàng hải quốc tế. Đây là tuyến đường vận chuyển chiếm hơn 30% lưu lượng hàng hải toàn cầu và là huyết mạch kinh tế quan trọng đối với các nền kinh tế châu Á và thế giới. Việc phong tỏa hoặc tấn công vào các tàu hàng có thể gây ra khủng hoảng kinh tế toàn cầu, đẩy giá dầu mỏ và các hàng hóa thiết yếu lên cao và làm tê liệt chuỗi cung ứng toàn cầu.

Thứ ba, về mặt chính trị – ngoại giao, xung đột tại Biển Đông sẽ làm gia tăng căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc, đồng thời làm phức tạp thêm tình hình trong quan hệ quốc tế. Các nước Đông Nam Á, bao gồm Việt Nam, Philippines, Malaysia và Indonesia, sẽ phải đối mặt với áp lực lớn trong việc chọn phe hoặc duy trì lập trường trung lập. Sự can dự của các cường quốc ngoài khu vực như Nga, Nhật Bản và Ấn Độ cũng sẽ khiến tình hình càng trở nên phức tạp hơn.

Cuối cùng, về mặt môi trường, một cuộc chiến tranh tại Biển Đông sẽ gây ra những thiệt hại không thể đảo ngược đối với hệ sinh thái biển. Sự cố tràn dầu từ các tàu chiến, vụ nổ từ các loại vũ khí hạng nặng và tác động của các hoạt động quân sự sẽ làm tổn hại nghiêm trọng đến các rạn san hô, nguồn cá và các loài sinh vật biển, từ đó ảnh hưởng đến đời sống của hàng triệu ngư dân và cộng đồng ven biển. Tóm lại, dù Mỹ hay Trung Quốc có thể tuyên bố giành chiến thắng về mặt quân sự trong một cuộc chiến tại Biển Đông, nhưng cái giá phải trả sẽ vô cùng đắt đỏ và không bên nào thực sự được hưởng lợi. Thay vì theo đuổi các chính sách đối đầu, cả hai cường quốc cần tìm kiếm các giải pháp hòa bình và xây dựng các cơ chế quản lý xung đột hiệu quả để đảm bảo an ninh, ổn định và phát triển bền vững cho khu vực và thế giới.

]]>