Nga – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Mon, 31 Jul 2023 02:24:09 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 Nguy cơ va chạm tàu ngầm hạt nhân gia tăng ở Biển Đông https://biendong.net/2023/07/02/nguy-co-va-cham-tau-ngam-hat-nhan-gia-tang-o-bien-dong/ Sun, 02 Jul 2023 02:20:35 +0000 https://biendong.net/?p=109858 Các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân (SSBN) của Trung Quốc hiện đang lảng vảng suốt ngày đêm ở Biển Đông gây nguy cơ va chạm với các hoạt động hàng hải trong khu vực.

Sáu tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân Type 094 của Trung Quốc hiện đang thực hiện các cuộc tuần tra gần như liên tục từ Hải Nam đến Biển Đông và được cho là được trang bị một tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm (SLBM) tầm xa mới có thể tấn công lục địa Mỹ. Tên lửa mới này được cho là JL-3, với tầm bắn được cho là lên đến 10.000 km và cho phép Trung Quốc tấn công lục địa Mỹ từ các pháo đài được bảo vệ ở Biển Đông.

Theo một báo cáo của Lầu Năm Góc, lần đầu tiên Trung Quốc liên tục duy trì trên biển ít nhất một tàu ngầm hạt nhân được trang bị tên lửa đạn đạo, gây thêm áp lực cho Mỹ và các đồng minh. Tài liệu này cho biết hạm đội gồm 6 tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo lớp Jin của Trung Quốc đang tiến hành tuần tra “gần như liên tục” từ Đảo Hải Nam tới Biển Đông. Các nhà phân tích cho biết, được trang bị tên lửa đạn đạo mới với tầm bắn xa hơn, chúng hoàn toàn có thể vươn tới lục địa Mỹ từ vùng ven biển của Trung Quốc.

Phát biểu trong một phiên điều trần trước Quốc hội Mỹ vào tháng 3 vừa qua, Tướng Anthony Cotton, chỉ huy Bộ Tư lệnh Chiến lược Mỹ cho rằng các tàu ngầm Trung Quốc hiện đang được trang bị tên lửa thế hệ thứ ba JL-3. “Các cuộc tuần tra răn đe” của Bắc Kinh giúp họ đưa ra cảnh báo về một cuộc phản công hạt nhân ngay cả khi các hệ thống và tên lửa trên đất liền bị phá hủy. Theo học thuyết hạt nhân cổ điển, điều đó giúp ngăn kẻ thù tiến hành tấn công phủ đầu.

Trước đây, các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân Type 094 của Trung Quốc, được trang bị tên lửa SLBM JL-2, cần phóng từ Tây Thái Bình Dương và phía Đông Hawaii thì mới tấn công được lục địa Mỹ. Điều đó đòi hỏi phải đi qua các nút thắt trên biển như Eo biển Miyako, Kênh Bashi và Biển Sulu, khiến các SSBN dễ bị lực lượng hải quân Mỹ và đồng minh đánh chặn.

Theo giới chuyên gia quân sự diễn biến mới này cho thấy sự cải thiện nhanh chóng của Trung Quốc trong lĩnh vực hậu cần, chỉ huy và kiểm soát cũng như vũ khí để duy trì khả năng răn đe hạt nhân trên biển. Trung Quốc đang bắt đầu triển khai tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân tương tự như cách các cường quốc hạt nhân như Mỹ, Anh, Pháp và Nga đã làm trong nhiều thập kỷ. Sự tiến triển này sẽ buộc các tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân (SSN) của Mỹ phải liên tục theo dõi các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân của Trung Quốc, khiến gia tăng nguy cơ leo thang hạt nhân.

Tháng 2 vừa qua, tờ “Asia Times” lưu ý rằng mỗi nhà máy trong số 13 nhà máy đóng tàu hải quân của Trung Quốc đều có công suất lớn hơn tất cả 7 nhà máy đóng tàu hải quân của Mỹ cộng lại, khiến Mỹ cảm thấy lúng túng trước năng lực đóng tàu đang lên của Trung Quốc. Việc cắt giảm ngân sách và các vấn đề khác gần đây đã khiến các xưởng đóng tàu của hải quân Mỹ sa thải công nhân lành nghề, khiến các tàu chiến của Mỹ đang được sữa chữa phải nán lại xưởng đóng tàu lâu hơn. Điều này khiến năng lực đóng tàu đang chịu sức ép lại càng quá tải và kho tàu ngầm gặp khó khăn.

Giới phân tích quân sự nhận định sự ra đời của JL-3 có thể cho phép Trung Quốc thực hiện thành công “chiến lược pháo đài” ở Biển Đông, loại bỏ sự cần thiết phải đưa các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân của họ di chuyển vào Tây Thái Bình Dương để phóng SLBM. Thay vào đó, trong chiến lược pháo đài, Trung Quốc sẽ sử dụng Biển Đông như “một khu bảo tồn” tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân được bảo vệ bởi tên lửa đặt trên đất liền, máy bay, lực lượng hải quân và các đảo cũng như thực thể kiên cố của nó.

Địa hình nửa kín của Biển Đông khiến nó trở thành một khu vực lý tưởng cho chiến lược pháo đài. Từ góc độ hậu cần, Trung Quốc có thể dễ dàng duy trì các cuộc tuần tra tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân tầm ngắn trên các vùng nước mở với các cơ sở chỉ huy và kiểm soát tương đối gần đó. Hơn nữa, do Biển Đông nằm giữa các tuyến liên lạc trên biển (SLOC), môi trường tiếng ồn dưới nước có thể khiến các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân của Trung Quốc khó bị phát hiện hơn. Tiếng ồn có thể được khai thác cùng với các tính năng âm thanh và nhiệt độc đáo của khu vực để có thể duy trì sự ẩn nấp cho tàu.

Hans Kristensen, Giám đốc dự án thông tin hạt nhân của Liên đoàn các nhà khoa học Mỹ nhận định với sự ra đời của tên lửa JL-3, các chiến lược gia Trung Quốc sẽ giữ các tàu ngầm tên lửa đạn đạo của họ ở vùng nước sâu của Biển Đông – nơi Trung Quốc đã xây dựng một loạt các căn cứ – thay vì mạo hiểm tuần tra ở Tây Thái Bình Dương. Collin Koh, nhà nghiên cứu an ninh tại Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam của Singapore, cho rằng Trung Quốc có thể giữ các tàu ngầm tên lửa đạn đạo của họ trong một “pháo đài” ở vùng biển được bảo vệ gần bờ biển của họ. Ông nói: “Nếu tôi là người lập kế hoạch, tôi sẽ muốn giữ các tài sản răn đe chiến lược của mình càng gần tôi càng tốt và Biển Đông là nơi hoàn hảo cho điều đó”. Nga được cho là đang giữ phần lớn trong số 11 tàu ngầm được trang bị tên lửa đạn đạo của họ ở các căn cứ ngoài khơi bờ biển Bắc Cực, trong khi các tàu của Mỹ, Pháp và Anh được triển khai rộng rãi hơn.

Sự phát triển năng lực của tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân có thể gắn liền với việc Trung Quốc liên tục mở rộng kho vũ khí hạt nhân của mình. Theo một số nguồn tin quân sự, Trung Quốc có kế hoạch mở rộng kho vũ khí hạt nhân từ khoảng 400 đầu đạn hiện nay lên 1.500 đầu đạn vào năm 2035, với kho vũ khí lớn hơn và đa dạng hơn giúp tăng khả năng tấn công đáp trả của Trung Quốc và đặt nước này vào vị thế tốt hơn để đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân. Một số nhà quân sự cho rằng 700 đầu đạn hạt nhân có khả năng đủ để Trung Quốc duy trì năng lực tấn công đáp trả, với các lựa chọn cho các cuộc tấn công hạt nhân ở cấp độ hạn chế. Kho vũ khí hạt nhân lớn hơn và đa dạng hơn giúp Trung Quốc có thể gây nguy hiểm cho các nhóm tác chiến tàu sân bay và căn cứ đảo của Mỹ nằm rải rác trên Thái Bình Dương, bao gồm Hawaii và Guam.

Theo Hạm đội Thái Bình Dương, Hải quân Mỹ duy trì khoảng 20 tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân trên khắp Thái Bình Dương, bao gồm cả ở đảo Guam và Hawaii. Trong khuôn khổ AUKUS, các tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân của Mỹ và Anh sẽ được triển khai ở ngoài khơi phía Tây Úc từ năm 2027. Các tàu ngầm như vậy là vũ khí cốt lõi để săn các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo, được hỗ trợ bởi các tàu hoạt động trên mặt nước và máy bay giám sát P-8 Poseidon. Mỹ cũng có các cảm biến đáy biển ở các tuyến đường biển quan trọng để giúp phát hiện tàu ngầm.

Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung ngày càng quyết liệt ở Biển Đông và khu vực, để tiếp tục duy trì ưu thế quân sự tại khu vực, Washington đã triển khai nhiều biện pháp với các đồng minh. Tháng 9 năm 2021, nguyên thủ 3 nước Mỹ, Anh, Úc tuyên bố thành lập liên minh AUKUS, theo đó, Mỹ và Anh sẽ giúp Úc xây dựng một hạm đội tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân. Một số nhà quân sự tiết lội các tàu ngầm tấn công mà Mỹ, An sẽ giúp Australia xây dựng được thiết kế riêng để tiêu diệt tàu chiến của đối phương mà cụ thể là các tàu chiến của Trung Quốc. Các tàu ngầm hạt nhân sẽ giúp cho Úc có nhanh chóng xuất hiện ở Biển Đông khi cần thiết và có thể hiện diện ở đó trong nhiều ngày hơn.

Ngày 13/3/2023, Tổng thống Mỹ Joe Biden, Thủ tướng Anh Rishi Sunak và Thủ tướng Úc Albanese, lãnh đạo 3 thành viên AUKUS đã gặp nhau tại bang California và tuyên bố thông qua thoả thuận cung cấp tàu ngầm USS Missouri chạy bằng năng lượng hạt nhân cho Úc. Tổng thống Biden cho biết lần đầu tiên sau 65 năm, Mỹ sẽ chia sẻ công nghệ trung tâm của tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân (SSN), cho phép Úc chế tạo và phát triển các hạm đội tàu ngầm có khả năng đối đầu với tàu ngầm Trung Quốc ở khu vực Biển Đông. Phát biểu của ông Biden cho thấy rõ mục tiêu của AUKUS là nhằm ứng phó với tốc độ phát triển mạnh của tàu ngầm hạt nhân Trung Quốc.

Một số chuyên gia quân sự đã đề cập đến việc Hải quân Mỹ triển khai “tuyến phòng thủ dưới biển hình móc câu”, theo đó Mỹ xây dựng một mạng lưới liền mạch gồm các ống nghe dưới nước, cảm biến và thiết bị được đặt ở vị trí chiến lược trải rộng từ bờ biển phía Bắc Trung Quốc và chạy đến Đài Loan, Philippines và Indonesia. Hệ thống đó đảm bảo rằng các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân của Trung Quốc không thể rời khỏi Biển Đông mà không bị phát hiện, loại bỏ lợi thế về không gian và khoảng cách mà đại dương mang lại cho việc che giấu các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân của Bắc Kinh.

Mặt khác, ngay cả khi các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân của Trung Quốc lảng vảng trên Biển Đông suốt ngày đêm, chúng có thể không an toàn trước các máy lén dưới nước và những con mắt theo dõi trên bầu trời. Dù các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo chạy bằng năng lượng hạt nhân của Trung Quốc có thể không cần phải ra khỏi Biển Đông để phóng tên lửa và đe dọa đất liền Mỹ, nhưng chúng vẫn bị bao quanh bởi những vùng nước, cho phép việc theo dõi chúng dễ dàng hơn thông qua các phương tiện khác. Giới quân sự cho rằng Mỹ và các đồng minh có thể sử dụng mạng lưới vệ tinh theo kế hoạch của Úc để theo dõi tàu ngầm Trung Quốc. Mạng lưới này sở hữu những tiến bộ trong công nghệ cảm biến như hình ảnh vệ tinh có độ phân giải cao và radar khẩu độ tổng hợp, kết hợp với giám sát thủy âm và thông tin tình báo nguồn mở, tất cả sẽ khiến các đại dương trở nên “trong suốt” từ nay đến năm 2050, qua đó loại bỏ mọi lợi thế tàng hình mà tàu ngầm hiện có. Việc Trung Quốc triển khai nhiều tàu ngầm hơn ở Biển Đông, tất nhiên người Mỹ sẽ không ngồi yên nhìn Bắc Kinh. Lầu Năm Góc đang cố gắng thâm nhập vào “pháo đài” Biển Đông để xem họ có thể làm gì và cần làm gì. Điều này đồng nghĩa với việc Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc và quân đội Mỹ ngày càng “cọ xát” với nhau nhiều hơn, làm tăng khả năng va chạm tàu ngầm, vì vậy căng thẳng có thể gia tăng và các sự cố có thể xảy ra.

]]>
Tuân thủ và thực thi nghiêm UNCLOS 1982, là bảo vệ nền tảng pháp lý quốc tế vững chắc và bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc ở Biển Đông https://biendong.net/2023/01/10/tuan-thu-va-thuc-thi-nghiem-unclos-1982-la-bao-ve-nen-tang-phap-ly-quoc-te-vung-chac-va-bao-ve-loi-ich-quoc-gia-dan-toc-o-bien-dong/ Tue, 10 Jan 2023 02:33:56 +0000 https://biendong.net/?p=95903 Trong quan hệ quốc tế giữa các quốc gia có chủ quyền trên thế giới, bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc là vấn đề nguyên tắc mang tính “bất biến”. Với Việt Nam, lãnh thổ không chỉ có phần diện tích trên đất liền, mà còn có cả các vùng biển, các đảo ở Biển Đông được xác định theo các quy định của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS 1982).

Hơn nữa, những lợi ích từ Biển Đông mang đến cho Việt Nam vô cùng to lớn và đương nhiên gắn liền với lợi ích quốc gia – dân tộc của Việt Nam, Vì vậy, việc tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982 cũng là bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia – dân tộc của Việt Nam.

Biển Đông có nhiều lợi ích gắn liền với lợi ích quốc gia – dân tộc của Việt Nam

Do có vị trí địa – kinh tế và địa – chính trị quan trọng, nên từ lâu Biển Đông đã trở thành nhân tố không thể thiếu trong chiến lược phát triển không chỉ của các nước, vùng lãnh thổ trong khu vực, mà còn của cả một số cường quốc hàng hải trên thế giới. Đó cũng là một trong nhiều lý do quan trọng dẫn đến những tranh chấp ở vùng biển này.

Việt Nam với bờ biển dài trên 3.260 km, trung bình khoảng 100 km2 đất liền có 1 km bờ biển, cao gấp 6 lần tỉ lệ của thế giới. Ven bờ có khoảng 3.000 đảo lớn, nhỏ, với diện tích khoảng l.700 km2, trong đó 3 đảo có diện tích hơn 100 km2, 23 đảo có diện tích hơn 10 km2, 82 đảo có diện tích hơn l km2 và hơn l.400 đảo chưa có tên. Vì vậy, Biển Đông gắn bó mật thiết, ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng – an ninh, bảo vệ môi trường của Việt Nam.

Tại Biển Đông có 2 quần đảo lớn là Hoàng Sa và Trường Sa. Đây là 2 quần đảo mà Việt Nam có đầy đủ bằng chứng địa lý, lịch sử và pháp lý cụ thể, thực tế, rõ ràng không thể tranh cãi, chứng minh về sự chiếm hữu và làm chủ thực sự, hòa bình và thực thi liên tục chủ quyền từ quá khứ đến hiện tại.

Biển, đảo Việt Nam nói chung và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nói riêng là một bộ phận quan trọng cấu thành phạm vi chủ quyền thiêng liêng của đất nước và dân tộc Việt Nam theo đúng quy định của UNCLOS 1982. Do đó, tuân thủ nghiêm chỉnh UNCLOS 1982 chính là bảo vệ vững chắc chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông, cũng chính là bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc của Việt Nam.

Việt Nam thực thi và tuân thủ nghiêm chỉnh UNCLOS 1982

Trước khi UNCLOS 1982 ra đời.

Từ năm 1967, Liên hợp quốc đã bắt đầu quá trình bàn thảo và xây dựng bộ luật quốc tế về biển cả và đại dương. Theo đó, các nước đã có các phiên họp trù bị và tiếp đó, từ năm 1973 chuyển sang các Hội nghị bàn về xây dựng Luật biển do Liên hợp quốc chủ trì. Trong những năm trên, Việt Nam do điều kiện đất nước bị tạm thời chia cắt, nên không có điều kiện tham gia vào quá trình trù bị (từ 1967 – 1973) và giai đoạn đầu của Hội nghị Luật Biển của Liên hợp quốc lần thứ ba (1973 – 1976). Việt Nam bắt đầu tham gia tiến trình trên tại khóa họp thứ sáu năm 1977 (tổng số có tất cả 11 phiên họp) và tham gia trong bối cảnh có rất nhiều khó khăn: đất nước vừa thoát khỏi chiến tranh, kiến thức và tư liệu về luật biển rất hạn chế, kinh nghiệm hoạt động tại diễn đàn đa phương đang còn thiếu, nhiều nội dung đã được hội nghị thảo luận.

Tuy nhiên, với nỗ lực là một thành viên tham gia đàm phán, Việt Nam đã vừa học hỏi, nắm bắt các khía cạnh lợi ích hoặc có tác động đối với mỗi nhóm nước, vừa xây dựng và thúc đẩy quan điểm pháp lý của Việt Nam trong các vấn đề mấu chốt với vị thế của một quốc gia ven biển trên một loạt vấn đề như: quy chế lãnh hải và quyền qua lại vô hại của tàu nước ngoài trong đó có tàu quân sự; qui định về đường cơ sở, quy chế các đảo và bãi đá, chế độ pháp lý vùng đặc quyền kinh tế và quyền tự do hàng hải; giới hạn ngoài cùng của thềm lục địa, các nguyên tắc về phân định biển, nguyên tắc và cơ chế giải quyết tranh chấp; chế độ khai thác đáy đại dương, chiến lược kinh tế biển… Đóng góp lớn nhất của Việt Nam là đã cùng Nhóm các nước ủng hộ nguyên tắc phân định biển công bằng, đưa ra được nhiều quy định mà sau này đã được chính thức hóa tại các Điều 74 và 83 của Công ước, như về chiều rộng lãnh hải là 12 hải lý, chế độ pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế… Đồng thời, trong quá trình tham gia, Việt Nam đã lên tiếng mạnh mẽ khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Mặt khác, Việt Nam đã tích cực vận dụng các quy định liên quan của luật pháp quốc tế để xây dựng các văn bản pháp luật trong nước về biển. Năm 1977, Việt Nam ban hành “Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam về các vùng biển Việt Nam” trong đó xác lập vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý, không chỉ giới hạn trong quyền đánh bắt cá mà còn có các quyền chủ quyền và quyền tài phán khác. Tuyên bố này đưa ra khi UNCLOS 1982 đang được xây dựng, điều đó thể hiện sự đóng góp của Việt Nam vào quá trình pháp điển hóa tiến bộ luật biển quốc tế. Với tuyên bố này, Việt Nam cùng với các quốc gia khác như Kenya, Mianmar, Cuba, Yemen, Cộng hòa Dominica, Guatemala, Ấn Độ, Pakistan, Mexico, Seychelles được coi như những quốc gia tiên phong trong việc đưa ra khái niệm vùng đặc quyền kinh tế, trở thành khái niệm có giá trị tập quán và sau này trở thành một nội dung quan trọng của UNCLOS 1982.

Sau khi UNCLOS 1982 ra đời

Việt Nam là một trong 107 quốc gia ký UNCLOS 1982 ngay sau khi văn kiện này được mở ký và cũng là một trong những quốc gia phê chuẩn sớm, trước khi Công ước có hiệu lực. Điều đó thể hiện thiện chí, sự coi trọng và kỳ vọng của Việt Nam vào một trật tự pháp lý mới về biển và đại dương. 

Từ khi Công ước ra đời (1982) đến nay, Việt Nam đã thực thi và tuân thủ nghiêm Công ước trên những mặt cơ bản sau:

Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện nhiều chủ trương, chính sách, luật pháp đúng đắn về biển để làm cơ sở cho việc thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền, quản lý, khai thác và sử dụng biển bền vững.

Về chủ trương, chính sách, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành một số văn kiện sau: Nghị quyết số 03-NQ/TW năm 1993 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong những năm trước mắt; Chỉ thị số 20-CT/TW của Trung ương Đảng năm 1997 về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Đặc biệt là sự ra đời Nghị quyết 09-NQ/TW (khóa X) năm 2007 về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, và Nghị quyết số 36-NQ/TW (khóa XII) năm 2018 về Chiến lược phát triển biển bền vững với tầm nhìn chiến lược sâu rộng, tính bao quát cao trên các lĩnh vực kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh, đối ngoại, hợp tác quốc tế, môi trường…

Nhà nước cũng đã ban hành hàng loạt văn bản pháp lý nhằm thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng, các quy định của UNCLOS 1982, như: Ngày 23/6/1994, Quốc hội Việt Nam ra Nghị quyết về việc phê chuẩn UNCLOS 1982, trong đó khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với nội thủy, lãnh hải, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam trên cơ sở các quy định của UNCLOS 1982 và các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, yêu cầu các nước tôn trọng các quyền nói trên của Việt Nam. Đồng thời, Nghị quyết còn khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và chủ trương giải quyết các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ cũng như các bất đồng khác liên quan đến Biển Đông thông qua thương lượng hòa bình, trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982.

Để thể hiện trách nhiệm và thiện chí của một quốc gia thành viên Công ước, Việt Nam luôn tôn trọng và thực thi đầy đủ các nghĩa vụ theo Công ước, từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia, vận dụng các quy định của Công ước trong xác định các vùng biển và phân định ranh giới biển với các nước láng giềng, quản lý và sử dụng biển, đồng thời hợp tác với các nước trong các lĩnh vực biển phù hợp với các quy định của Công ước theo hướng bảo tồn và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên biển, phục vụ phát triển bền vững.

Năm 2012, Việt Nam đã ban hành Luật Biển Việt Nam nhằm thống nhất việc hoạch định, sử dụng, thăm dò, khai thác tài nguyên biển và quản lý các vùng biển, thềm lục địa, hải đảo của Việt Nam, cũng như việc giải quyết tranh chấp trên biển giữa Việt Nam và các nước láng giềng. Đây được coi là bước tiến quan trọng trong việc chuyển hóa các quy định của UNCLOS 1982 vào hệ thống pháp luật trong nước, tạo thuận lợi cho việc quản lý thống nhất về biển và phát triển kinh tế biển của Việt Nam.

Cùng với việc ban hành Luật Biển, Quốc hội Việt Nam cũng đã thông qua Bộ Luật Hàng hải 2015, có hiệu lực từ ngày 01/7/2017 nhằm điều chỉnh các hoạt động giao thông hàng hải trên biển, chế độ ra vào các cảng biển Việt Nam. Đồng thời, Việt Nam đã thông qua nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đến quản lý và sử dụng biển, đại dương, như Luật Biên giới quốc gia (2003), Luật Bảo vệ môi trường (2014), Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (2015), Luật Cảnh sát biển năm 2018, Nghị định 143/2017/NĐ-CP ngày 14/12/2017 của Chính phủ quy định bảo vệ công trình hàng hải, Nghị định 71/2015/NĐ-CP ngày 03/9/2015 của Chính phủ về quản lý hoạt động của người và phương tiện trong khu vực biên giới biển.

Tất cả các văn kiện trên đã tạo bước chuyển mạnh về tư duy và hành động của toàn bộ hệ thống chính trị, là cơ sở pháp lý cho công tác quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo và đã đem lại các thành tựu to lớn trong việc khai thác, sử dụng, quản lý và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

Thứ hai, căn cứ các quy định của UNCLOS 1982, Việt Nam đã và đang tiến hành có hiệu quả và triển khai các hoạt động kinh tế biển trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa 200 hải lý, phục vụ phát triển đất nước. Việt Nam cũng chủ động thúc đẩy hợp tác cùng các bên liên quan trong việc bảo vệ môi trường biển, cứu hộ cứu nạn trên biển, phòng chống thiên tai và triển khai các biện pháp ngăn chặn tội phạm trên biển, góp phần thực hiện đầy đủ các quy định của Công ước. Đặc biệt là ngày 22/10/2018, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, thể hiện quyết tâm rất lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc phát triển bền vững kinh tế biển, đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển.

Thứ ba, với chủ trương nhất quán thông qua các biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp, bất đồng trên biển, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc áp dụng có hiệu quả UNCLOS 1982 để giải quyết các tranh chấp về phân định biển với các nước láng giềng, trong đó luôn đề cao nguyên tắc công bằng để tìm ra giải pháp hợp lý. Việt Nam đã ký với Thái Lan Hiệp định về phân định biển ngày 09/8/1997; ký với Trung Quốc Hiệp định về phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ ngày 25/12/2000; ký với Indonesia Hiệp định về phân định thềm lục địa ngày 26/6/2003.

Thực tiễn đàm phán và ký kết các văn kiện nêu trên đã thể hiện sự vận dụng sáng tạo các quy định của UNCLOS 1982 của Việt Nam, qua đó đóng góp và làm phong phú thêm luật pháp quốc tế về phân định biển.

Trên cơ sở các quy định của UNCLOS 1982, Việt Nam đang thúc đẩy đàm phán phân định và hợp tác cùng phát triển tại khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc; đàm phán phân định vùng đặc quyền kinh tế với Indonesia và đàm phán về các vấn đề trên biển với các nước láng giềng khác.

Thứ tư, trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS 1982, Việt Nam kiên quyết, kiên trì và kịp thời đấu tranh trước bất cứ vi phạm nào đối với chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam ở khu vực Biển Đông; tích cực định hình tiếng nói chung về vấn đề hòa bình, an ninh, ổn định ở khu vực Biển Đông trong các cơ chế khu vực, đa phương và toàn cầu; tham gia vào việc xây dựng các luật lệ quốc tế liên quan đến biển và đại dương ở quy mô khu vực và toàn cầu.

Tại các hội nghị bàn về vấn đề tranh chấp ở Biển Đông, Việt Nam luôn kiên trì yêu cầu các bên “tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982”, coi đây như một nguyên tắc để giải quyết và xử lý các tranh chấp liên quan đến biển, đảo. Việt Nam đã nỗ lực đưa nguyên tắc này vào các văn kiện của ASEAN, kể cả “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC); “Tuyên bố 6 điểm ngày 20/7/2012 của ASEAN về Biển Đông”; dự thảo Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC). Trong đàm phán COC, Việt Nam và các nước ASEAN thống nhất phải đưa UNCLOS 1982 vào trong tiến trình này, coi đây vừa là cơ sở, vừa là vấn đề có tính nguyên tắc.

Với nỗ lực của Việt Nam, nội dung “căn cứ luật pháp quốc tế, UNCLOS 1982 để tìm ra giải pháp cơ bản lâu dài cho các tranh chấp tại Biển Đông” đã được đưa vào “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc” ký ngày 10/11/2011. Điều đó cho thấy, Việt Nam không chỉ chủ động thực hiện nghiêm túc các quy định của Công ước, mà còn luôn có ý thức thúc đẩy việc tôn trọng và thực hiện đầy đủ các quy định của UNCLOS 1982.

Việt Nam còn tích cực tham gia các hoạt động trong khuôn khổ các cơ chế quốc tế được thành lập theo UNCLOS 1982. Việt Nam đã từng được bầu làm Phó Chủ tịch Đại hội đồng và thành viên Hội đồng của Cơ quan quyền lực quốc tế về đáy đại dương. Việt Nam tham gia đầy đủ Hội nghị các quốc gia thành viên UNCLOS 1982 được tổ chức hàng năm tại Đại hội đồng Liên hợp quốc và luôn có những đóng góp tích cực vào việc thúc đẩy thực thi hiệu quả Công ước; tham gia và có những đóng góp tích cực vào các hội nghị của Cơ quan quyền lực quốc tế về đáy đại dương; ủng hộ tăng cường hoạt động của Ủy ban Ranh giới thềm lục địa và nâng cao vai trò của Tòa án Luật Biển quốc tế…

Tại các diễn đàn liên quan, Việt Nam luôn khẳng định: trong hoạt động sử dụng biển, các quốc gia phải tuân thủ đúng các quy định của UNCLOS 1982, thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo Công ước. Việt Nam cũng đã tham gia xây dựng nhiều cơ chế, văn kiện pháp lý quốc tế và khu vực liên quan đến biển, như Công ước quốc tế về Tổ chức Vệ tinh hàng hải (INMARSAT), Hệ thống an toàn và cứu nạn hàng hải toàn cầu (GMDSS), tham gia Công ước Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO) và các công ước khác của IMO, như Công ước quốc tế về phòng ngừa ô nhiễm từ tàu 1973 và Nghị định thư bổ sung 1978 (MARPOL 73/78), Công ước về Tìm kiếm cứu nạn 1979 (SAR 79), Công ước quốc tế về an toàn sinh mạng trên biển 1974 (SOLAS 74), Công ước quốc tế về ngăn ngừa hành vi bất hợp pháp đe dọa an toàn hàng hải 1988 (SUA 88) và một số văn kiện pháp lý trong khuôn khổ Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO).

Ở cấp độ khu vực, Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định chung trong khuôn khổ hợp tác ASEAN liên quan đến vận tải biển và dịch vụ vận tải như: Hiệp định khung ASEAN về Tạo điều kiện thuận lợi cho vận tải hàng hóa quá cảnh 1998, Hiệp định khung ASEAN về Tạo điều kiện thuận lợi cho vận tải liên quốc gia 2012…

Những bằng chứng sinh động trên thể hiện thiện chí, sự tích cực, quyết tâm và cam kết thực tế của Chính phủ Việt Nam đối với việc tôn trọng và thực thi các quy định của UNCLOS 1982, đồng thời thể hiện nỗ lực và chủ trương nhất quán của Việt Nam trong việc hợp tác giải quyết các tranh chấp, bất đồng trên biển bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982, nhằm thúc đẩy hợp tác với các quốc gia, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của Việt Nam ở Biển Đông.

Có thể khẳng định rằng, kể từ khi ra đời cho đến nay, UNCLOS 1982 ngày càng thể hiện tầm quan trọng không thể phủ nhận trong đời sống pháp luật quốc tế. Văn kiện này đã thực sự trở thành căn cứ pháp lý vững chắc để xác định quyền và nghĩa vụ của các quốc gia ven biển, cũng như cách xử lý các vấn đề liên quan đến biển và đại dương, kể cả những tranh chấp về biển. Là một quốc gia gắn liền với biển, Việt Nam luôn đi đầu và không ngừng nỗ lực trong việc thực hiện UNCLOS 1982. Việt Nam tin tưởng chắc chắn rằng, nếu các quốc gia ven biển đều thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ được quy định bởi UNCLOS 1982 thì nhân loại không những sẽ tránh được những căng thẳng, xung đột trên biển mà còn có điều kiện tốt hơn để khai thác biển và đại dương bền vững, phục vụ lợi ích của con người.

]]>
Lợi dung Nga-Ukraina đánh nhau, TQ bán chíp “ đểu” cho Nga https://biendong.net/2022/10/21/loi-dung-nga-ukraina-danh-nhau-tq-ban-chip-deu-cho-nga/ Fri, 21 Oct 2022 01:30:00 +0000 https://biendong.net/?p=90125 Truyền thông Nga đăng tải thông tin rằng tỷ lệ hỏng hóc của chip do Nga mua từ Trung Quốc lên tới 40%, cao hơn nhiều so với mức 2% trước chiến tranh Nga-Ukraine, khiến các nhà sản xuất sản phẩm điện tử của Nga phải đau đầu.

Tỷ lệ hỏng hóc của chip vận chuyển từ Trung Quốc sang Nga đã tăng 1.900% trong những tháng gần đây.

Tờ Register dẫn lời hãng truyền thông Nga Kommersant cho biết, trước khi Nga xâm lược Ukraine, tỷ lệ hỏng hóc của chip xuất khẩu từ Trung Quốc sang Nga là 2%, nhưng hiện đã lên tới 40%. Điều này có nghĩa là tỷ lệ hỏng hóc của chip vận chuyển từ Trung Quốc sang Nga đã tăng 1.900% trong những tháng gần đây.

Ngay cả tỷ lệ hỏng hóc 2% cũng là cao hơn so với tỷ lệ lý tưởng đối với thiết bị hiện đại đòi hỏi nhiều chip khác nhau, và quan trọng không kém đối với thiết bị quân sự, chứ chưa nói đến 40%, có nghĩa là về cơ bản khi Nga muốn sản xuất bất cứ sản phầm gì cần chip, trước tiên phải lãng phí rất nhiều thời gian và công sức để thử nghiệm nếu dùng chip Trung Quốc, vốn đang là lựa chọn gần như duy nhất của Nga lúc này vì các lệnh cấm vận.

Báo cáo chỉ ra rằng các nhà sản xuất sản phẩm điện tử của Nga đang gặp rất nhiều khó khăn và chuỗi cung ứng ở Nga đang bị tắc nghẽn.

Báo cáo cho rằng tình hình này là do các lệnh trừng phạt kinh tế của các nước châu u và Mỹ áp đặt lên Nga, buộc nhiều công ty lớn phải rút khỏi Nga, khiến các nhà kinh doanh vùng xám và các nhà khai thác cơ hội khác không mấy sẵn sàng giao dịch với các công ty Nga. Có thể những người này đang bán phá giá những sản phẩm không sử dụng được cho những người mua Nga, những người mà họ cũng biết rằng họ không thể dễ dàng có được sản phẩm thay thế.

Register chỉ ra rằng nếu 40% số chip mà Nga nhận được từ Trung Quốc thực sự tồi tệ, nó sẽ đưa Trung Quốc và Nga vào tình thế không mấy tốt đẹp. Ngoài ra , tỷ lệ hỏng hóc cao như vậy là không thể hiểu được , vì các nhà chức trách ở Bắc Kinh thường tuyên bố chống tham nhũng, hiện đại hóa nền kinh tế và chỉ tập trung vào phát triển chất lượng sản phẩm hàng đầu thế giới.

]]>
Tổng thống Ukraine chọc tức Nga https://biendong.net/2022/10/21/tong-thong-ukraine-choc-tuc-nga/ Fri, 21 Oct 2022 01:15:00 +0000 https://biendong.net/?p=90157 Tổng thống Zelensky tuyên bố quần đảo Nam Kuril/Chishima tranh chấp giữa Moskva và Tokyo là lãnh thổ của Nhật Bản.

Tháp biên phòng Nga trên đảo Kunashir, một đảo trong quần đảo tranh chấp Kuril/Chishima, vào tháng 11/2005 Ảnh: AP

Theo đài RT (Nga), Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky ngày 7/10 đã ký sắc lệnh công nhận quần đảo Nam Kuril (Kuril – theo cách gọi của Nga, và Chishima – theo cách gọi của Nhật) là lãnh thổ của Nhật Bản.

Tuyên bố mang tính biểu tượng này được đưa ra hai ngày sau khi Tổng thống Nga Vladimir Putin ký luật chấp nhận bốn khu vực của Ukraine sáp nhập vào Liên bang Nga.

Sắc lệnh của Tổng thống Zelensky công nhận các đảo Iturup, Kunashir, Shikotan và Habomai thuộc Nam Kuril là của Nhật Bản.

Nga tuyên bố toàn bộ quần đảo Kurili là lãnh thổ của nước này kể từ khi Thế chiến thứ hai kết thúc, trong khi đó Nhật Bản tuyên bố bốn đảo ở phía nam quần đảo này là của mình và gọi là “Lãnh thổ phía Bắc”.

“Một quyết định quan trọng đã được đưa ra hôm nay. Công bằng. Hoàn hảo về mặt pháp lý, lịch sử. Ukraine đã tái khẳng định sự tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Nhật Bản, bao gồm cả Lãnh thổ phía Bắc của nước này, vẫn đang bị Nga chiếm đóng”, đải RT dẫn phát biểu của ông Zelensky qua một video.

Trong phát biểu trên, ông Zelensky – người từng tuyên bố sẽ giành lại toàn bộ lãnh thổ của Ukraine, bao gồm cả Crimea – cho rằng “cần phải giải phóng khỏi sự chiếm đóng của Nga tất cả các vùng đất mà quân chiếm đóng đang tìm cách giữ”.

Nhật Bản đã lên án chiến dịch quân sự của Nga ở Ukraine và áp đặt các biện pháp trừng phạt kinh tế đối với Moskva. Vào tháng 3, Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida tuyên bố quần đảo Kurils/Chishima là “những vùng lãnh thổ tổ tiên của chúng tôi”. Sau đó Nga đã chấm dứt một thỏa thuận cho phép công dân Nhật Bản đến thăm toàn bộ quần đảo mà không cần thị thực, ngừng các hoạt động kinh tế chung với Tokyo trên quần đảo và đình chỉ các cuộc đàm phán về chấm dứt tranh chấp.

Hai quốc gia chưa bao giờ chính thức ký kết hiệp ước hòa bình sau Thế chiến thứ hai, do tranh chấp về bốn hòn đảo cực nam trong chuỗi đảo Kuril/Chishima.

Sắc lệnh của Tổng thống Zelensky được cho là một phản ứng đối với việc Tổng thống Putin ký các sắc lệnh công nhân 4 khu vực của Ukraine, gồm Donetsk, Lugansk, Kherson và Zaporozhye, sáp nhập vào Liên bang Nga. Cuộc trưng cầu dân ý về sáp nhập tổ chức tại 4 vùng lãnh thổ này từ ngày 23-27/9 đã bị Ukraine và các nước phương Tây bác bỏ là “giả tạo” và chúng tuyên bố không có giá trị pháp lý.

Về phần mình, Tổng thống Nga đã tuyên bố sẽ bảo vệ các vùng lãnh thổ mới sáp nhập bằng “tất cả các phương tiện sẵn có”.

Liên Xô căn cứ vào quyết định của Hội nghị Yalta năm 1945 để đưa quần đảo Nam Kuril vào bản đồ lãnh thổ của mình. Sau khi Liên Xô tan rã, Nga được thừa kế hợp pháp quần đảo này, tuy nhiên Nhật Bản đã không chấp nhận kết cục như vậy. Bắt đầu từ năm 1981, Tokyo đã nối lại các hoạt động bảo vệ quyền liên quan đến bốn hòn đảo này. Khi Thủ tướng Abe lên nắm quyền, Nhật Bản cũng khởi động lại các cuộc đàm phán về vấn đề lãnh thổ.

Tokyo cũng tiến hành nhiều phương án nhằm thu hồi nhóm đảo này, bao gồm cả việc phát triển lực lượng quân sự để đe dọa Nga. 

Trong khi đó, Nga cũng có các hành động thiết thực để thể hiện quyết tâm cảnh báo Nhật Bản. Moskva đã thiết lập và tăng cường sự hiện diện quân sự ở Kuril, mặt khác, đưa ra Kế hoạch kinh tế Viễn Đông để phát triển những hòn đảo này. Vào cuối năm 2021, Moskva đã triển khai hệ thống tên lửa Bastion trên đảo Matua. Từng là một căn cứ lớn của Nhật trước Thế chiến thứ II, Matua hiện là nơi đóng quân của Nga.

]]>
Liên doanh vũ khí Ấn Độ – Nga đạt doanh thu lớn với tên lửa Brahmos https://biendong.net/2022/10/21/lien-doanh-vu-khi-an-do-nga-dat-doanh-thu-lon-voi-ten-lua-brahmos/ Fri, 21 Oct 2022 01:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=90107 Liên doanh sản xuất tên lửa hành trình siêu thanh giữa Ấn Độ và Nga hy vọng sẽ thu được 5 tỉ USD đến năm 2025 từ các đơn đặt hàng.

Hệ thống tên lửa BrahMos chuẩn bị cho một cuộc duyệt binh hồi năm 2015 ở Ấn Độ

Reuters dẫn lời ông Atul D Rane, chủ tịch liên doanh BrahMos Aerospace giữa Ấn Độ và Nga sản xuất tên lửa hành trình siêu thanh, ngày 18.10 cho biết công ty đã ký thỏa thuận xuất khẩu đầu tiên trị giá 375 triệu USD trong năm nay với Philippines. BrahMos Aerospace cũng hy vọng sẽ thu được 5 tỉ USD vào năm 2025 từ các đơn đặt hàng.

“Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đã đưa ra mục tiêu đạt 5 tỉ USD (xuất khẩu quốc phòng) vào năm 2025. Tôi hy vọng bản thân BrahMos sẽ có thể đạt mục tiêu 5 tỉ USD vào năm 2025”, ông Rane nói.

Theo ông Rane, BrahMos Aerospace đang thảo luận về các đơn đặt hàng mới với các nước Đông Nam Á như Indonesia, Malaysia.

Liên doanh BrahMos Aerospace rất phù hợp với sáng kiến “Make in India” (Sản xuất tại Ấn Độ) của Thủ tướng Narendra Modi nhằm khuyến khích các công ty sản xuất phát triển và đầu tư thêm vào lĩnh vực sản xuất.

Ấn Độ đã sản xuất máy bay chiến đấu MiG và máy bay phản lực Su-30 theo giấy phép Nga cấp và cả hai nước đã hợp tác chế tạo tên lửa BrahMos ở Ấn Độ. Nga cũng là nhà cung cấp vũ khí chính của Ấn Độ.

Vào tháng 4 năm ngoái, Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov cho biết hai nước đang thảo luận về việc sản xuất “bổ sung” thiết bị quân sự của Nga ở Ấn Độ.

Ấn Độ cũng đã trở thành khách hàng dầu mỏ lớn thứ hai của Nga sau Trung Quốc. Các nhà máy lọc dầu của Ấn Độ đã thu mua dầu giá rẻ của Nga.

Lực lượng phòng vệ của Ấn Độ hiện sử dụng tên lửa siêu thanh đất đối đất BrahMos. Tên lửa này có thể phóng từ các bệ phóng trên đất liền, trên biển và cả dưới biển.

]]>
Khi ông Miller cảnh báo https://biendong.net/2022/10/20/khi-ong-miller-canh-bao/ Thu, 20 Oct 2022 10:10:53 +0000 https://biendong.net/?p=90101 Cư dân các thành phố châu Âu có thể “bị đóng băng” trong đợt rét đỉnh điểm của mùa Đông năm nay. Đó là cảnh báo của ông Alexey Miller – Giám đốc điều hành tập đoàn Gazprom (Nga) tại sự kiện Tuần lễ Năng lượng Nga, 12/10.

Không đợi tới cảnh báo của ông Miller, năng lượng cho châu Âu mới thành câu chuyện chẳng lành. Trước đó, chỉ ít lâu sau khi cuộc chiến Ukraine nổ ra,  nhiều nhà phân tích, nhà lãnh đạo quốc gia đã đưa ra những lo ngại về việc châu Âu sẽ phải đối mặt với tình trạng thiếu năng lượng.

Thiếu năng lượng sẽ khiến châu Âu bị “đóng băng” trong mùa đông

Mối lo ngại ngày càng tăng với việc ngày 8/3, tổng thống Mỹ, ông Joe Biden công bố lệnh cấm nhập khẩu dầu của Nga.

Lệnh của người đứng đầu Nhà Trắng khiến giá dầu thô trên thị trường tăng dựng đứng, thậm chí có lúc tới 140 USD/thùng. Cả thế giới rúng động trước không phải một bóng ma mà là một thực tế phũ phàng khủng hoảng năng lượng toàn cầu. Mỗi lo ngại đứt đoạn nguồn cung năng lượng khiến nội bộ EU phân tán, bất đồng. Còn hơn cả nội bộ, quan hệ EU-Mỹ cùng “sinh chuyện” khi Washington  hối thúc các đồng minh Tây Âu tẩy chay năng lượng của Nga nhằm gây sức ép lên Kremlin.

Nói thì dễ, nhưng làm mới khó.

 Mỹ cứ hô hào thế, nhưng giải pháp giúp các đồng minh châu Âu có nguồn năng lượng thay thế xem ra chẳng khả thi chút nào. Hay nói cách khác, hiện thực hóa các phương án thay thế nguồn năng lượng từ Nga còn là câu chuyện của tương lai trong khi năng lượng là cầu của thực tại. Chẳng ai đói mà có thể chờ tới hàng năm mới có đồ ăn. Một châu Âu phụ thuộc tới 70% năng lượng Nga, đâu thể là chuyện đùa. Một cường quốc như Đức, khí đốt do Nga cung cấp lâu này chiếm tới 60% sản lượng, ngay lúc này, việc thay thế nguồn cung càng là điều không thể.

 Các nền kinh tế quy mô nhỏ hơn, như Ý, Ba Lan cũng phụ thuộc nguồn năng lượng từ Nga lần lượt là 40 và 70%. Thậm chí, với Slovakia, con số đó là 90%…

Chính thế, ngay từ đầu, bộ trưởng bộ Năng lượng Đức đã phản đối lệnh cấm vận nhập khẩu năng lượng của Mỹ. Một số quốc gia đồng minh khác không ra mặt cãi Mỹ, nhưng tìm cách trì hoãn, nấn ná hoặc thực thi một cách trễ nải, câu giờ…

Đó là câu chuyện hồi tháng ba. Tháng ba, mùa đông còn xa lắc mà đã phức tạp thế. Tới thời điểm này, khi mùa đông ập về, câu chuyện năng lượng càng trở nên ồn ào.

 Nga là bên bị cấm vận bán năng lượng, tưởng rơi vào thế bí, phải hốt hoảng, vậy mà xem chừng, lại là bên nắm thế chủ động. Ít đôi chối những cáo buộc từ phương Tây nhằm vào mình, nhưng những sự cố đường ống vận chuyển năng lượng gần đây khiến các quốc gia không thể loại bỏ nghi ngờ rằng Nga là thủ phạm.

 Nghi ngờ càng tăng cao khi Nga tỏ ra không mấy hào hứng, cứ đủng đỉnh với việc tiếp nhận các thiết bị sửa chữa đường ống bơm khí đốt, bơm dầu sang châu Âu trong khi đối tác thì săn đón, sốt sắng hết mực.

 Hẳn rồi, hẳn là Moscow cố tình làm thế để Tây Âu biết “thế nào là lễ độ”.

 Nói cách khác, dù phải đối mặt với vô vàn khó khăn, tình thế không lường được trên chiến trường do sự kháng cự và trả đòn tấn công của Kiev,  Kremlin, thời điểm này đôi lúc vẫn có thể còn vừa cười vừa nhấm nháp cái cảm giác chứng kiến những quốc gia châu Âu nghe lệnh Mỹ, tới lúc này sa vào thảm cảnh tê tái, rét cóng trong mùa đông. Một ngày thiếu tới 800 triệu m3 khí đốt, bằng 1/3 nhu cầu kia mà, không run rẩy sao được?

 Thực tế khắc nghiệt đã và đang nếm trải; những cuộc biểu tình hàng chục nghìn người phản đối giá năng lượng leo thang và quy trách nhiệm cho chính phủ, giờ lại thêm lời đe nẹt của ông Alexey Miller…, rất có thể các nhà lãnh đạo nhiều quốc gia châu Âu, tới lúc này, không thể chần chừ được nữa trước việc trả lời câu hỏi có nên tiếp tục theo Mỹ làm căng thẳng thêm với Nga trong vấn đề năng lượng hay không?

TV

]]>
Moscow nêu điều kiện tổ chức cuộc gặp Tổng thống Nga – Ukraine https://biendong.net/2022/03/28/moscow-neu-dieu-kien-to-chuc-cuoc-gap-tong-thong-nga-ukraine%ef%bf%bc/ Mon, 28 Mar 2022 12:39:55 +0000 https://biendong.net/?p=77180 Ngoại trưởng Nga đã nêu điều kiện để tổ chức cuộc gặp giữa Tổng thống Vladimir Putin và người đồng cấp Ukraine Volodymyr Zelensky.

Trong cuộc phỏng vấn với các hãng tin Serbia hôm nay 28/3, Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov cho biết cuộc gặp giữa Tổng thống Nga Vladimir Putin và Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky chỉ diễn ra khi hai bên tiến gần hơn đến việc thống nhất về các vấn đề quan trọng.

“Chúng tôi đã lưu ý các vấn đề này từ nhiều năm nay, nhưng phương Tây không lắng nghe chúng tôi. Bây giờ họ đã chịu lắng nghe”, ông Lavrov nói.

Ngoại trưởng Lavrov nói thêm rằng bất kỳ cuộc gặp nào giữa ông Putin và ông Zelensky để trao đổi quan điểm về cuộc xung đột ở thời điểm hiện tại sẽ là phản tác dụng.

Theo nhà ngoại giao Nga, trong các cuộc đàm phán hiện tại với Ukraine, Moscow có nghĩa vụ đảm bảo rằng “người dân ở Donbass không bao giờ phải chịu sự cưỡng ép của chính quyền Kiev” và “Ukraine không còn là một quốc gia thường xuyên được quân sự hóa” trong nỗ lực nhằm đe dọa Nga.

Nga và Ukraine đã tổ chức nhiều vòng đàm phán, song cả 2 bên đều chưa đạt được những bước tiến nào đáng kể cho nỗ lực hạ nhiệt căng thẳng. Vòng đàm phán tiếp theo của hai nước dự kiến được tổ chức trong tuần này.

Nga đã nhiều lần đề cập đến các điều kiện nhằm chấm dứt chiến dịch tại Ukraine, trong đó đều nhấn mạnh đến yêu cầu Kiev phải phi quân sự hóa, phi phát xít hóa và đảm bảo trạng thái trung lập, không gia nhập NATO – liên minh quân sự do Mỹ dẫn dắt. Ngoài ra, Nga được cho là cũng yêu cầu Ukraine công nhận độc lập của 2 vùng lãnh thổ ly khai Donetsk và Lugansk ở Donbass, Đông Ukraine và công nhận Crimea thuộc Nga.

Trong cuộc phỏng vấn hôm nay, Ngoại trưởng Lavrov nói rằng Nga hy vọng các cuộc đàm phán với Ukraine sẽ diễn ra thành công.

“Chúng tôi quan tâm đến việc các cuộc đàm phán này sẽ kết thúc với một kết quả mà đạt được các mục tiêu cơ bản của chúng tôi. Trước hết là chấm dứt việc giết chóc dân thường ở vùng Donbass, vốn kéo dài suốt 8 năm qua”, ông Lavrov nói.

Tổng thống Zelensky ngày 27/3 cho biết, nước này sẵn sàng trung lập và thỏa thuận về tình trạng của vùng ly khai Donbass. Tuy nhiên, ông nhấn mạnh, bất cứ thỏa thuận nào cũng phải được đảm bảo bởi các bên thứ 3 và được trưng cầu dân ý. Ông khẳng định Nga và Ukraine không thể đạt được thỏa thuận hòa bình nếu không ngừng bắn và Nga phải lập tức rút quân.

Ngoại trưởng Lavrov hôm nay cũng đề cập tới các lệnh trừng phạt của phương Tây nhằm vào Nga liên quan tới chiến dịch quân sự tại Ukraine.

Khi được hỏi về việc Nga bị “cô lập” do các lệnh trừng phạt, ông Lavrov phủ nhận thông tin này, đồng thời khẳng định Nga có nhiều đối tác ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, châu Phi và châu Mỹ Latinh.

Theo Ngoại trưởng Lavrov, Nga có “quan hệ tốt với đa số tổ chức do các nước đang phát triển thành lập, trong đó có Liên minh châu Phi, cộng đồng các nước Mỹ Latinh và Caribe, cũng như ASEAN và nhiều quốc gia khác”.

Kể từ khi Nga mở chiến dịch quân sự tại Ukraine hôm 24/2, Mỹ, Anh và các đồng minh đã tăng cường các biện pháp trừng phạt nhằm vào Nga. Điện Kremlin thừa nhận Nga đang trải qua một “cú sốc” kinh tế do các lệnh trừng phạt “chưa từng có” của phương Tây.

]]>
Nga-Ukraina căng thẳng, TQ sợ điều gì? https://biendong.net/2022/03/28/nga-ukraina-cang-thang-tq-so-dieu-gi/ Mon, 28 Mar 2022 10:02:58 +0000 https://biendong.net/?p=77167 Trung Quốc lo sợ nếu xung đột quân sự Nga – Ukraine còn leo thang, an ninh lương thực của quốc gia sẽ đối mặt với càng nhiều thách thức.

Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đã lên tiếng cảnh báo về nguy cơ gia tăng mất an ninh lương thực toàn cầu do cuộc chiến giữa Nga và Ukraine, đồng thời hối thúc ngành nông nghiệp quốc gia tăng cường năng lực tự cung tự cấp thóc gạo và phân bón.

Trong tuyên bố, ông Lý nhấn mạnh tốc độ phát triển của quốc gia cùng năng suất nông nghiệp của Trung Quốc đang đối mặt với ‘những thách thức mới’, do môi trường quốc tế phức tạp đẩy giá bán tăng mạnh và dẫn tới sự bất ổn trên thị trường toàn cầu đối với nguồn cung nông sản.

Tình hình an ninh lương thực là nỗi lo lớn nhất của Trung Quốc

Theo Bưu điện Hoa Nam buổi sáng (SCMP), nhận định của ông Lý được cho ám chỉ tới cuộc xung đột quân sự giữa Nga và Ukraine.

Trong chuyến công tác hiếm hoi tới Bộ Nông nghiệp Trung Quốc vào ngày 23/3, ông Lý yêu cầu giới chức Bộ Nông nghiệp cần đảm hoạt động sản xuất thực phẩm trong nước diễn ra ổn định để đối phó trước những bất ổn bên ngoài.

‘Điều quan trọng là ổn định giá cả, nền kinh tế và tình hình toàn xã hội’, Tân Hoa Xã dẫn lời ông Lý.

Trước ông Lý, nhiều quan chức Trung Quốc cũng đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo an ninh lương thực cho 1,4 tỷ dân khi mà những căng thẳng địa chính trị ngày càng gia tăng giữa phương Tây và chính quyền Bắc Kinh.

Ngay cả Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cũng đã cảnh báo Trung Quốc không thể dựa vào thị trường quốc tế để đảm bảo an ninh lương thực. Bộ trưởng Nông nghiệp Trung Quốc Tang Renjian bày tỏ quan ngại sản lượng lúa mì vụ đông có thể ở mức ‘thấp nhất trong lịch sử’, do tình trạng mưa lớn và ngập lụt kéo dài nhiều ngày trong năm ngoái.

Không riêng Trung Quốc, nhiều nước trên thế giới bao gồm Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc cũng đã cảnh báo về nguy cơ xảy ra cuộc khủng hoảng lương thực trên toàn cầu do chiến sự ở Ukraine đang đe dọa nguồn cung của nhiều loại thực phẩm chủ chốt. Bởi trên thực tế, Nga và Ukraine chiếm hơn 1/2 nguồn cung dầu hướng dương, và 30% lúa mỳ cho thế giới.

Ngoài ra, cả Nga và Ukraine còn giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong chuỗi cung ứng phân bón trên toàn thế giới.

‘Chúng ta đang bước vào một cuộc khủng hoảng lương thực chưa từng có’, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron nói hôm 24/3.

Theo nhà nghiên cứu Li Guoxiang tại Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, những nhận định được Thủ tướng Lý đưa ra cho thấy chính phủ Trung Quốc đang thi hành các biện pháp nhằm giảm sản lượng nhập khẩu, nhưng tăng cường hoạt động sản xuất trong nước để ngăn chặn tình trạng lạm phát do giá nhập khẩu tăng cao.

‘Với vị thế là một nhà nhập khẩu nông sản quy mô lớn, Trung Quốc chịu tác động lớn từ giá dầu và ngũ cốc của thế giới, cũng như đảm nhận trọng trách của một nước lớn. Trung Quốc nên dựa vào năng lực tự sản xuất’, ông Li cho biết.

Nhà phân tích cấp cao Ma Wenfeng tại hãng tư vấn Beijing Orient Agribusiness Consultant cho rằng, những bất ổn ở nước ngoài khiến Trung Quốc chú trọng hơn tới vấn đề nông nghiệp và nông thôn trong nước.

‘Xung đột giữa Nga – Ukraine cho chúng ta thấy nếu không thể tự quản lý hoạt động kinh doanh tốt và giải quyết chuyện các nước hạn chế xuất khẩu cho chúng ta, chúng ta sẽ ngay lập tức gặp rắc rối’, ông Ma cho hay.

Bài báo đăng trên chuyên trang tin tức về ngũ cốc cngrain.com hôm 24/3 cũng nhấn mạnh nếu xung đột Nga – Ukraine tiếp tục leo thang, giá ngũ cốc có thể tăng lên mức cao chưa từng có, và chắc chắn sẽ khiến sản lượng nhập khẩu của Trung Quốc bị sụt giảm.

Như trong năm 2021, Trung Quốc đã mua số lượng ngũ cốc đạt kỷ lục 28,36 triệu tấn, lớn hơn 10 lần so với sản lượng thu hoạch trong nước.

Trong hai tháng đầu năm nay, Ukraine là nguồn cung ngũ cấp lớn nhất cho Trung Quốc khi tăng 12% so với năm ngoái, và chiếm hơn 56% tổng sản lượng nguc cốc Trung Quốc nhập khẩu, theo dữ liệu của Tổng Cục Hải quan Trung Quốc.

Trong khi đó, Nga chiếm hơn 30,5% tổng số lượng phân bón kali được Trung Quốc nhập khẩu trong 2 tháng đầu năm nay.

Theo ông Lý, điều quan trọng là hỗ trợ cho các công ty Trung Quốc sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu, dầu diesel điều chỉnh giá bán đối với các mặt hàng phục vụ ngành nông nghiệp.

Còn theo ông Ma, dù tác động của chiến sự Ukraine dường như chỉ có giới hạn, nhưng vấn đề an ninh lương thực của Trung Quốc còn xuất phát từ vấn đề trong nước. Cụ thể, nền kinh tế ở các vùng nông thôn bị bỏ xa so với những trung tâm thành phố lớn. Điều này khiến nông dân không còn thiết tha với đồng áng do thu nhập từ nông nghiệp quá thấp.

Các nhà phân tích ở ngân hàng China International Capital Corporation nhận định, chuỗi cung ứng của nông nghiệp Trung Quốc là ‘lớn nhưng không mạnh’.

‘Một số nông sản có sản lượng thấp, nhưng chi phí trồng trọt lại cao. Còn tồn tại tình trạng thiếu năng lực khoa học, cũng như công nghệ trong chuỗi cung ứng nông sản’, giới phân tích của China International Capital Corporation kết luận.

]]>
Belarus sẽ “quay lưng” với Nga https://biendong.net/2022/03/28/belarus-se-quay-lung-voi-nga/ Mon, 28 Mar 2022 07:19:55 +0000 https://biendong.net/?p=77157 Các nhân vật đối lập Belarus chiến đấu trong hàng ngũ quân đội Ukraine tìm mọi cách ngăn cản đất nước họ tham chiến. Họ coi chiến thắng của Ukraine là chìa khóa để giải phóng Belarus. Nhân viên đường sắt Belarus hiện nay cũng ủng hộ tích cực các hoạt động du kích chống lại quân đội nước này.

Từ nhiều ngày nay, cơ quan mật vụ phương Tây và Ukraine đã cảnh báo Belarus sắp xâm lược nước láng giềng bằng chính quân đội của mình để cứu cuộc chiến tranh của Vladimir Putin khỏi thất bại. Tiếp sau đó có thể xảy ra một cuộc chiến giữa người Belarus với nhau khi phong trào đối lập chống lại nhà độc tài Alexander Lukashenko đứng về phía Ukraine.

Tổng thống Belarus Lukashenko và Tổng thống Nga Putin

Lãnh đạo phe đối lập Svetlana Tikhanovskaya nói: “Số phận của Belarus và Ukraine gắn bó với nhau. “Những người Belarus ủng hộ Ukraine hiểu rằng làm như vậy, họ cũng đang bảo vệ chủ quyền của Belarus và cho tương lai của chính mình.”

Sau cuộc bầu cử tổng thống Belarus năm 2020 đầy gian lận và sự đàn áp thô bạo do Moscow hậu thuẫn đối với phong trào biểu tình, bà Tikhanovskaya đã phải sống lưu vong cùng với hàng chục nghìn đồng bào của mình. Một số người lánh nạn ở Ukraine, một số tham gia chiến đấu cùng với người Ukraine.

Họ tin rằng chỉ khi Ukraine thắng trong cuộc chiến chống lại Nga thì mới có hy vọng giải phóng đất nước họ khỏi nanh vuốt của Moscow và nhà độc tài được Moscow hậu thuẫn. Cố vấn Franak Viacorka của bà Tichanovskaya viết trên Twitter: “Điều kiện duy nhất để Belarus trở thành dân chủ là Ukraine chiến thắng.”

Vài trăm người Belarus đã gia nhập quân đội Ukraine. Họ có thể được tích hợp vào các đơn vị Ukraine hoặc thành lập các đơn vị chiến đấu riêng, chẳng hạn như Tiểu đoàn tình nguyện Kastus Kalinouski mà Viacorka nói là nhằm hỗ trợ quân đội Ukraine bảo vệ Mariupol. Phong trào đối lập cũng từ bỏ nguyên tắc bất bạo động ngay sau khi nổ ra chiến tranh và từ đó công khai kêu gọi tiến hành các hoạt động phá hoại ở Belarus để cản trở nỗ lực chiến tranh của Nga và Belarus.

Tuyên ngôn chống chiến tranh của phe đối lập Belarus thể hiện rõ: “Để đạt được các mục tiêu của phong trào phản chiến, bất kỳ hành động nào không nhằm cố ý gây nguy hiểm đến tính mạng và sức khỏe của công dân đều được hoan nghênh. Quyền tự vệ được pháp luật bảo đảm.” Điều đó có nghĩa ủng hộ hành động bạo lực chính đáng vì sự nghiệp của mình.

Trên thực tế, Belarus ngay từ đầu đã là một bên tham chiến vì nước này đã trao cho Nga lãnh thổ và cơ sở hạ tầng hậu cần phục vụ các cuộc tấn công chống lại Ukraine. Việc bao vậy gọng kìm và tiến nhanh về phía Kiev hoặc cuộc bao vây Kharkiv sẽ không thể thực hiện được nếu không có mặt trận phía bắc Belarus. Nhưng nếu Belarus xâm lược Ukraine bằng chính quân đội của mình thì điều này đồng nghĩa với một bước leo thang mới.

Trên thực tế, theo các báo cáo, thì cả dân chúng lẫn quân đội dường như đều phản đối Belarus tham gia toàn diện vào cuộc chiến. Lukashenko dường như cũng không muốn dấn thân vào cuộc phiêu lưu này của Putin.

“Quan điểm của Minsk về cuộc chiến Nga-Ukraine đã phát triển nhanh chóng, từ việc ủng hộ hết mình cho các hành động của Moscow đến việc tránh xa các hành động của Nga ở Ukraine”, trích lời chuyên gia về Belarus Brian Whitmore trong một bài báo gửi tới Hội đồng Đại Tây Dương. Nhưng Lukashenko đã tự buộc mình phụ thuộc vào Putin để đảm bảo cho sự tồn tại của chế độ ông ta. Và Moscow đang triển khai bài toán này.

Do cuộc chiến của Nga không diễn ra suôn sẻ nên nước này cần mọi sự giúp đỡ từ bất cứ đâu, dù là các đơn vị của Syria hay của Belarus, và cho dù các đơn vị này có thiếu kinh nghiệm chiến đấu. “Quân đội Belarus chưa bao giờ tham chiến ở bất cứ đâu, quân đội không chuẩn bị cho các cuộc xung đột ở bên ngoài”, Valery Zakashchik, một trung tá quân đội đã nghỉ hưu và là cựu chỉ huy Lữ đoàn Dù 38, có trụ sở tại thành phố Brest gần biên giới với Ukraine, cho biết.

Xe lửa bị phá hoại

Sự kháng cự mạnh mẽ của lực lượng vũ trang Ukraine rõ ràng cũng khiến quân đội Belarus gia tăng nghi ngờ về việc liệu họ có bị xóa sổ giống như quân đội Nga hay không. Theo phe đối lập, đã có rất nhiều quân nhân từ chức và từ chối tham chiến. Tikhanovskaya đã nhiều lần kêu gọi binh sĩ Belarus từ chối hoặc đào ngũ, tẩy chay xâm lược Ukraine và tham gia vào cuộc chiến cùng Ukraine chống lại Nga.

Trong thực tế, phe đối lập Belarus đang hết sức tích cực phá hoại mọi nỗ lực chiến tranh của Nga và Belarus. Ví dụ, tập thể hackers “Cyberpartisanen” đã làm gián đoạn hệ thống tàu hỏa của Belarus bằng cách tấn công mạng hồi tháng Giêng làm đình trệ hoạt động di chuyển quân đội Nga tới biên giới Ukraine. Họ đang khai thác một điểm yếu về hậu cần của cả quân đội Nga và Belarus là không có phương tiện vận tải thích hợp để vận chuyển thiết bị quân sự hạng nặng bằng đường bộ

Phát ngôn viên của nhóm “Cyberpartisanen”, Juliana Shemetovets, nói với tạp chí Fast Company rằng để di chuyển bất cứ thứ gì, từ bệ phóng tên lửa hay các thiết bị hạng nặng khác, quân đội phụ thuộc rất nhiều vào đường sắt. “Mọi người đã quen làm việc với máy tính và các hệ thống khác, bây giờ phải làm mọi thứ theo kiều thủ công, trên giấy, như tập hợp các chuyến tàu và lịch trình vận hành, v.v…. Thậm chí nhiều người không biết phải làm như thế nào.”

Kể từ khi bắt đầu chiến tranh, các hành động phá hoại hệ thống tàu hỏa của Belarus đã gia tăng đáng kể, rõ ràng không chỉ là các cuộc tấn công mạng, mà cả các cuộc tấn công phá hoại thông thường có lẽ cũng được thực hiện bởi nhân viên ngành đường sắt Belarus.

Người đứng đầu ngành đường sắt quốc gia Ukraine Oleksandr Kamyjshin hôm chủ nhật đã xác nhận nhiều chuyến tàu giữa Ukraine và Belarus đã bị gián đoạn và tỏ ý hoan nghênh nhân viên ngành đường sắt Belarus trong một cuộc phỏng vấn với đài “Châu Âu Tự do”. Ông Kamyjshin nói: “Tôi tin rằng vẫn còn những người trung thực trong số những người Belarus và đặc biệt là những người trong ngành đường sắt. Tôi không muốn làm họ bị lộ. Nhưng tôi xin tri ân họ về những gì mà họ đã làm ngày hôm nay.”

Việc kết nối với tàu hỏa từ Belarus bị gián đoạn gây nhiều khó khăn đáng kể trong hoạt động cung cấp hậu cần cho các đơn vị quân đội Nga ở bên ngoài Kiev. Trong những ngày này, các đơn bị ở Tây Bắc thủ đô chịu áp lực rất lớn và có nguy cơ bị quân đội Ukraine bao vây.

Viacorka, cố vấn cho thủ lĩnh đối lập Tichanovskaya hôm thứ hai đã tự hào tweet một bản đồ (hình trên) cho thấy các hoạt động phá hoại diễn ra trên khắp Belarus kể từ đầu cuộc chiến. Liệu các hành động phá hoại này và tinh thần thiếu thiện chí của quân đội Belarus có phải là nguyên nhân làm cho Lukashenko không ra lệnh tấn công Ukraine hay không lại là một vấn đề khác.

]]>
TS Lê Hồng Hiệp: “Bản năng gốc” của các quốc gia luôn là mưu cầu quyền lực https://biendong.net/2022/03/28/ts-le-hong-hiep-ban-nang-goc-cua-cac-quoc-gia-luon-la-muu-cau-quyen-luc/ Mon, 28 Mar 2022 07:15:58 +0000 https://biendong.net/?p=77154 Định mệnh chiến tranh, nếu có thể nói như vậy, đã từng ám ảnh nhân loại suốt thời trung cổ, và đã tạo cho nhân loại những hậu quả thảm khốc trong nửa đầu thế kỷ 20.

Đã có lúc người ta tin rằng khi loài người đã thực sự “ngấm đòn”, và khi thế kỷ 21 được kiến tạo với khát vọng hoà bình, trong xu thế toàn cầu hoá và công nghiệp hoá thì chiến tranh sẽ lùi dần vào dĩ vãng. Điều này càng có cơ hội diễn ra ở châu Âu, nơi mà các định chế ngăn ngừa chiến tranh luôn được thiết kế tối ưu, cũng là nơi mà những giá trị văn minh luôn được coi trọng như một yếu tố kiên quyết để sống còn. Vậy mà một cuộc chiến lớn đã diễn ra ngay trong lòng châu Âu, làm chính người châu Âu cũng phải bất ngờ. Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp, nghiên cứu viên cao cấp tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS-Yusof Ishak Institute, Singapore) chia sẻ với ANTG GT-CT góc nhìn của anh về hiện tượng này.

SẼ LUÔN THIẾU VẮNG MỘT CHÍNH PHỦ TOÀN CẦU

Nhà báo Phan Đăng: Thưa tiến sĩ Lê Hồng Hiệp, cho đến trước ngày 24-2, bất chấp việc Nga huy động một lực lượng đông đảo binh sĩ ở gần biên giới Ukraine, bất chấp việc các cơ quan tình báo phương Tây dự đoán là Nga sẽ tấn công Ukraine, thì rất nhiều nhà nghiên cứu vẫn tin rằng khả năng Nga tấn công là rất thấp. Lúc đó người ta nghĩ rằng hàng loạt hành động của Nga chỉ để gây áp lực lên Ukraine và nắn gân phương Tây. Ngay cả khi Tổng thống Nga Putin ký sắc lệnh công nhận 2 vùng ly khai của Ukraine là 2 nhà nước độc lập thì nhiều nhà nghiên cứu vẫn cho rằng áp lực mà Nga tạo ra cũng chỉ dừng lại ở đó. Thực tế lúc đó không nhiều nhà nghiên cứu công khai dự đoán về một tình thế “thanh gươm đã rút khỏi vỏ”, và chiến tranh sẽ xảy ra. Nhưng rốt cuộc nó đã xảy ra. Là một nhà nghiên cứu chuyên sâu về quan hệ quốc tế, một cách khách quan nhất, suy nghĩ lớn nhất của anh lúc đó là gì?

-Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp: Nhiều người đã bất ngờ trước việc Nga tấn công quân sự Ukraine vì trong suốt gần 80 năm qua, kể từ sau khi Thế chiến II kết thúc, chỉ trừ một vài sự cố vũ lực tương đối nhỏ và hạn chế như chiến dịch không kích Nam Tư của NATO (1999), hay đụng độ quân sự gần đây giữa Armenia và Azerbaijan, thì châu Âu nhìn chung đã được hưởng một nền “hòa bình lâu dài” giữa các quốc gia, giúp mang lại ổn định và thịnh vượng cho khu vực này. Ngay cả trong các thời kỳ căng thẳng của Chiến tranh Lạnh, như phong tỏa Berlin (6/1948-5/1949), hay Liên Xô can thiệp vào Hungary (1956) và Tiệp Khắc (1968), cũng đã không diễn ra xung đột vũ trang giữa các quốc gia. Nói cách khác, chiến tranh quy mô lớn giữa hai quốc gia châu Âu hiện nay là điều khó có thể hình dung trong suy nghĩ của đa số mọi người.

Khi quan sát các sự kiện quốc tế, tôi thường ít khi khẳng định hoặc bác bỏ một kịch bản nào. Thay vào đó, tôi thường xác định xác suất một kịch bản sẽ xảy ra tại một thời điểm là bao nhiêu, rồi dựa vào diễn biến tình hình để điều chỉnh xác suất, qua đó đưa ra các “dự báo động”, bám sát tình hình hơn. Tại thời điểm nửa đầu tháng 2 khi Nga tập trung quân và tăng cường các hoạt động quân sự dọc biên giới với Ukraine, tôi xác định xác suất xảy ra chiến tranh giữa hai nước là khoảng 30%. Còn khi Tổng thống Putin công nhận độc lập cho hai nước “cộng hòa nhân dân” tự xưng Donetsk và Luhansk, tôi xác định xác suất xảy ra chiến tranh tăng lên trên 50%. Lúc này khả năng chiến tranh cao hơn nhưng tôi vẫn tin là nếu xảy ra, xung đột chỉ diễn ra ở quy mô hạn chế. Ví dụ, Nga có thể đưa quân vào khu vực Donbass để bảo vệ hai nước cộng hòa tự xưng, giúp họ giành được những vùng lãnh thổ mà họ yêu sách chủ quyền. Hoặc nếu chiến sự vượt ra ngoài khu vực Donbass, tôi vẫn thiên về kịch bản Nga sẽ sử dụng các cuộc không kích như NATO đã làm ở Nam Tư năm 1999, thay vì đưa quân đổ bộ vào Ukraine.

Vì vậy việc Nga tiến hành chiến tranh tổng lực, sử dụng bộ binh để đánh vào Ukraine khắp cả ba hướng, khiến tôi cũng có phần bất ngờ. Hành động của Nga cho thấy mấy điều cơ bản: Thứ nhất, Nga rất quyết tâm theo đuổi các mục tiêu của mình ở Ukraine. Thứ hai, Nga tự tin vào năng lực quân sự của mình và tin rằng họ có thể giành chiến thắng quân sự trong thời gian ngắn nhất với chi phí thấp nhất. Thứ ba, Nga đánh giá thấp năng lực kháng cự của quân đội, chính quyền và người dân Ukraine. Thứ tư, chính quyền Nga hoặc bất chấp dư luận quốc tế, hoặc tin rằng họ có thể vượt qua được các áp lực đó, đặc biệt là trong quan hệ với Mỹ và châu Âu, do Mỹ đang muốn tập trung vào đối thủ Trung Quốc, giữa châu Âu và Mỹ lẫn nội bộ hai bên đang chia rẽ trong nhiều vấn đề, đồng thời châu Âu phụ thuộc lớn vào Nga về mặt năng lượng. Tuy nhiên, diễn biến của tình hình chiến sự cho tới lúc này cũng như phản ứng của cộng đồng quốc tế cho thấy những tính toán đó của Nga dường như đã không chính xác.

– Người ta vẫn nói thế kỷ 20 là thế kỷ chiến tranh với hai cuộc chiến tranh thế giới và bóng ma của cuộc chiến tranh lạnh do hai siêu cường Mỹ – Liên Xô dẫn đầu. Nhưng người ta tin rằng thế kỷ 21 với câu chuyện quốc tế hoá, toàn cầu hoá, công nghiệp hoá thì những cuộc chiến tranh vũ lực thuần tuý sẽ lùi dần vào quá vãng. Nhà báo Thomas Friedman tin rằng những mối quan hệ kinh tế chằng chéo của một thế giới bị làm phẳng khiến nguy cơ chiến tranh vũ lực là rất thấp. Sử gia Harari thì tin rằng một cuộc chiến tranh thương mại/ công nghệ hay tri thức có xác suất lớn hơn nhiều những cuộc chiến tranh vũ lực. Nhưng với cuộc chiến Nga – Ukraine, có vẻ như tất cả những luận điểm này đều đã bị lật tung, và hoá ra thế kỷ 21 vẫn tiềm ẩn những nguy cơ chiến tranh nóng giống hệt như thế kỷ 20, và trước đó. Anh nghĩ gì về điều này?

– Dù thời gian có thay đổi nhiều thứ thì một đặc điểm trong chính trị quốc tế vẫn tồn tại một cách vĩnh cữu, bất biến. Đó chính là tình trạng vô chính phủ của hệ thống quốc tế, hay nói cách khác là việc thiếu vắng một chính phủ toàn cầu để điều chỉnh hành vi, quan hệ giữa các quốc gia với nhau. Trong bối cảnh đó, nỗi lo lớn nhất của các quốc gia vẫn là bảo vệ sự tồn tại, an ninh, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ của mình trước các mối đe dọa bên ngoài, rồi mới đến phát triển và ảnh hưởng.

Từ sau Thế chiến II cho tới nay, đặc biệt là sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, đã có một số xu hướng phát triển trong đời sống giữa các quốc gia, đặc biệt là xu hướng toàn cầu hóa, tăng cường phụ thuộc kinh tế lẫn nhau, hay vai trò ngày càng được đề cao của luật pháp quốc tế và các thể chế toàn cầu. Những xu hướng này giúp thúc đẩy khía cạnh hòa bình, hợp tác giữa các quốc gia, kiềm chế sự đối đầu, cạnh tranh giữa họ với nhau.

Tuy nhiên, do đặc điểm vô chính phủ của hệ thống quốc tế nên “bản năng gốc” của các quốc gia vẫn là sự nỗ lực không ngừng để mưu cầu quyền lực, tìm kiếm an ninh, để tự cứu mình trong một môi trường đầy rủi ro. Chính vì vậy, trong một số trường hợp, mà tiêu biểu là cuộc chiến giữa Nga và Ukraine hiện nay, logic về chính trị quyền lực đã lấn át xu hướng hòa bình, hợp tác, từ đó thúc đẩy chiến tranh bùng phát như chúng ta đã thấy.

BÀI TOÁN THẬT SỰ CỦA ÔNG PUTIN

– Đã có rất nhiều học thuyết chiến tranh từng xuất hiện. Là một nhà nghiên cứu, anh có thể chọn một học thuyết nào đó để lý giải và dự đoán cho cuộc chiến Nga – Ukraine hay không? Hay là tất cả những học thuyết cũ đều không trùng khít với đặc thù của cuộc chiến này?

– Những gì tôi vừa đề cập ở trên là cốt lõi của chủ nghĩa hiện thực trong quan hệ quốc tế, và nó cơ bản phù hợp với việc lý giải nguồn gốc của cuộc chiến này.

Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, thế giới nói chung và châu Âu nói riêng được chia ra làm hai cực do Mỹ và Liên Xô dẫn dắt. Trong một hệ thống lưỡng cực như vậy, đặc biệt là với sự hiện diện của vũ khí hạt nhân, cân bằng quyền lực giữa hai khối nhìn chung được duy trì, qua đó kiềm chế hành vi của cả hai bên, giúp giữ vững sự ổn định và hòa bình trong hệ thống.

Tuy nhiên, sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, nước Nga suy yếu, dù Trung Quốc trỗi dậy thay thế, thế giới chuyển sang cục diện “nhất siêu đa cường”, nhưng về bản chất vẫn là cấu trúc đơn cực với Mỹ đứng ở đỉnh của hệ thống quyền lực toàn cầu. Ở châu Âu, Mỹ và các nước đồng minh vẫn duy trì NATO, không những thế còn liên tục mở rộng thành viên về phía Đông. Điều này tạo ra một sự mất cân bằng quyền lực ở châu Âu, trong đó Nga trở thành một bên yếu thế, cảm giác bị đe dọa, nhất là khi các quốc gia như Ukraine được coi là vùng đệm an ninh và ảnh hưởng của Nga cũng muốn gia nhập khối quân sự này. Điều này được coi là một trong những lý do thúc đẩy Nga tìm kiếm an ninh bằng cách tấn công Ukraine để vô hiệu hóa mối đe dọa đối với mình.

Tất nhiên, nhận thức của Nga về mối đe dọa an ninh đến từ NATO chỉ là một phần nguyên do lý giải cho nguồn gốc cuộc chiến. Bởi nếu đây là nguyên nhân chính thì có lẽ Nga đã tấn công các nước khác như ba nước cộng hòa Baltic láng giềng (Estonia, Litva và Latvia) trước khi ba nước này gia nhập NATO năm 2004, bởi ba nước này thậm chí còn nằm gần thủ đô Moscow hơn so với Ukraine. Chính vì vậy, theo tôi sâu xa hơn còn có lý do nhận thức của Nga, và đặc biệt là của bản thân Tổng thống Putin, về quan hệ lịch sử giữa Nga với Ukraine, cũng như vai trò của Ukraine đối với bản sắc và an ninh quốc gia của Nga.

Có nhiều bằng chứng cho thấy Tổng thống Putin, người từng làm trong ngành an ninh Liên Xô và có tư tưởng dân tộc chủ nghĩa mạnh mẽ, đã có tham vọng khôi phục lại vị thế lịch sử của nước Nga, đồng thời lấy lại những vùng lãnh thổ mà ông cho rằng nếu không thuộc về chủ quyền của nước Nga thì cũng nằm trong vùng ảnh hưởng của Moscow. Và rõ ràng, trong tâm tưởng của ông, Ukraine là một vùng đất như vậy. Điều này lý giải cho việc trong những bước đi vừa qua, Nga không chỉ mong muốn trung lập hóa, phi quân sự hóa Ukraine để hóa giải mối đe dọa an ninh đối với mình, mà còn muốn “thu hồi” ít nhất một phần lãnh thổ Ukraine mà ông cho rằng lẽ ra phải thuộc về Nga. Năm 2014 là bán đảo Crimea, vừa qua là Donetsk và Luhansk. Hiện có thông tin cho rằng, Nga và các lực lượng thân Nga tại Ukraine có thể thành lập thêm các nước “cộng hòa nhân dân” khác để từ từ tuyên bố độc lập, qua đó vừa chia cắt, làm suy yếu Ukraine, vừa mở rộng ảnh hưởng của Nga và “sáp nhập trên thực tế” các khu vực này vào Nga.

Tất cả những hành động trên của Nga và ông Putin đều nhằm hướng tới việc theo đuổi quyền lực cho nước Nga, nói rộng ra là an ninh và ảnh hưởng của Nga trong một môi trường quốc tế vô chính phủ, phù hợp với miêu tả và dự đoán về chính trị quốc tế của chủ nghĩa hiện thực. Tất nhiên, trong thế giới ngày nay, liệu những hành động như vậy có hợp pháp hay không, có khôn ngoan và hiệu quả hay không, lại là một vấn đề khác.

CHIẾN TRANH SẼ KÉO DÀI TỚI KHI MỘT BÊN THẤY MÌNH KHÔNG THỂ TIẾP TỤC

– Gươm đã rút khỏi vỏ, súng đã bắn khỏi nòng. Nhưng kiểu gì thì cuộc chiến cũng phải kết thúc, hoặc ít nhất là hai bên cũng phải đình chiến giống như câu chuyện của hai miền Triều Tiên. Nhưng theo anh nó hoặc sẽ kết thúc, hoặc sẽ đình chiến theo những kịch bản khả dĩ nào?

– Hiện Nga và Ukraine đã ngồi vào bàn đàm phán, nhưng theo tôi để đạt được một giải pháp mà hai bên có thể chấp nhận được và qua đó kết thúc chiến tranh thì vẫn còn cần nhiều thời gian. Hiện yêu cầu của Nga về việc Ukraine trung lập hóa là điều có thể dễ dàng đạt được, bởi Ukraine lẫn NATO đều đã nhận ra việc để Ukraine gia nhập tổ chức này là không khả thi. Tuy nhiên các yêu cầu khác của Nga như Ukraine công nhận độc lập cho Donetsk và Luhansk, cũng như công nhận bán đảo Crimea thuộc chủ quyền Nga, là những điều kiện khó có thể chấp nhận đối với Ukraine. Đó là chưa kể ý định của các tác nhân bên ngoài có thể can thiệp vào quá trình đàm phán để phục vụ các ý đồ của họ.

Giải pháp tốt nhất để chấm dứt cuộc chiến có lẽ là Nga rút quân về phạm vi lãnh thổ trước ngày 24-2, đi kèm với đó là việc Ukraine chấp nhận trung lập, cắt giảm bớt sức mạnh quân sự, để đảm bảo an ninh cho Nga. Vấn đề Crimea tạm thời bỏ ngỏ, còn khu vực Donbass tiếp tục giải quyết theo Tiến trình Minsk. Giải pháp này có thể được Ukraine chấp nhận, nhất là nếu đi kèm các đảm bảo an ninh từ Nga đối với Ukraine. Nhưng đối với Nga có lẽ từng đó là không đủ nếu xét những tổn thất về mọi mặt mà Nga đã phải gánh chịu cho đến lúc này.

Vì vậy, theo tôi nhiều khả năng chiến sự sẽ còn kéo dài, tới chừng nào một bên trên chiến trường cảm thấy không đủ khả năng để tiếp tục cuộc chiến thì giải pháp thương lượng mới chín muồi. Hiện khó có thể nói bên nào sẽ giành ưu thế trên chiến trường về lâu dài, nhưng những diễn biến vừa qua cho thấy nếu chiến sự kéo dài thì dù cả hai bên đều chịu nhiều “thương tích”, nhưng khả năng Nga sẽ là bên “chảy máu” nhiều hơn. Điều này là do trong khi Ukraine được phương Tây tiếp sức về mọi mặt, có được sự ủng hộ rộng rãi của công luận, cộng với quyết tâm bảo vệ tổ quốc, thì Nga bị cô lập và gặp nhiều khó khăn về kinh tế vì lệnh cấm vận và trừng phạt của phương Tây, chịu sức ép về công luận trong nước lẫn quốc tế, trong khi năng lực quân sự của Nga cũng không quá mạnh như nhiều người nghĩ, khiến họ càng tham chiến lâu sẽ càng suy yếu, bộc lộ hạn chế.

– Bây giờ chúng ta hãy thử nhìn nhận cuộc chiến bằng một cặp tính từ là “lợi và hại”. Theo anh, khi chiến tranh xảy ra giữa Nga và Ukraine thì nhìn từ góc độ của 3 nước lớn là Mỹ- Nga – Trung Quốc, một cách khái quát nhất, sự lợi – hại của mỗi nước là như thế nào? Mỗi nước trong tam giác quyền lực này sẽ được gì/mất gì?

– Trong cuộc chiến này cả Nga và Ukraine đều chịu nhiều thiệt hại. Bên thắng cũng chưa chắc được lợi về lâu dài. Nga bị cô lập, cấm vận, trừng phạt, khiến nước này sẽ ngày càng tụt hậu, suy yếu về kinh tế. Uy tín, vị thế của nước Nga cũng bị ảnh hưởng nặng nề. Trong khi đó, Ukraine bên cạnh thiệt hại về nhân mạng thì nền kinh tế bị ngưng trệ, cơ sở hạ tầng bị tàn phá, sẽ phải mất nhiều năm sau chiến tranh để phục hồi. Còn trên bình diện cá nhân thì nhân dân cả hai nước Ukraine và Nga đều sẽ gặp nhiều khó khăn, mất mát, đau khổ. Họ là những nạn nhân đáng thương nhất, mất mát nhiều nhất, đặc biệt là người dân Ukraine.

Còn ở phạm vi hệ thống quốc tế, tôi cho rằng cuộc chiến này sẽ đẩy Nga gần hơn về phía Trung Quốc. Tuy nhiên, thế cuộc này không đủ để định hình một trật tự thế giới mới. Nga và Trung Quốc vẫn “đồng sàng dị mộng”, hai bên chỉ tham gia một liên kết tạm thời thay vì một liên minh chiến lược. Nga suy yếu khó có thể là một đối tác ngang hàng với Trung Quốc, còn bản thân Trung Quốc sau những ngày đầu có vẻ ủng hộ Nga thì nay cũng muốn giãn ra vì lo sợ sẽ bị dính thêm đòn trừng phạt của phương Tây trong bối cảnh nước này đã chịu nhiều khó khăn từ sự cạnh tranh, o ép của Mỹ và phương Tây suốt 5 năm qua. Trong bối cảnh đó, nếu chiến sự ở Ukraine kéo dài, khả năng Mỹ và phương Tây sẽ là bên được lợi nhất, do có thể vừa làm Nga “chảy máu tới chết”, vừa răn đe được Trung Quốc, vừa có mục tiêu chung để củng cố khối liên minh xuyên Đại Tây Dương.

Sau sự kiện này Đức và Nhật có thể gia tăng sức mạnh quân sự, gia tăng ảnh hưởng chiến lược của mình. Có ý kiến nói đây có thể là những nhân tố thách thức tiềm tàng đối với vị thế, vai trò của Mỹ. Tuy nhiên, với các ràng buộc thể chế hiện nay, cụ thể Đức là thành viên NATO và Nhật là đồng minh hiệp ước của Mỹ, theo tôi sự trỗi dậy về mặt quân sự của Đức và Nhật không những không thách thức, làm suy yếu Mỹ, mà còn hỗ trợ tốt hơn cho Mỹ trong việc giảm gánh nặng chi phí quân sự và giúp Mỹ dễ dàng hơn trong việc đạt được các mục tiêu chiến lược là kiềm chế Nga và Trung Quốc.

BA BÀI HỌC CHO CÁC NƯỚC NHỎ

– Tác động mà cuộc chiến này có thể gây ra cho Việt Nam và ASEAN là gì?

– Hiện tác động của cuộc chiến đến các nước ASEAN và Việt Nam chưa thực sự rõ rệt, nhưng càng ngày sẽ càng được cảm nhận rõ. Trong ngắn hạn, tác động chủ yếu là về mặt kinh tế khi giá cả các hàng hóa cơ bản sẽ tăng do thiếu hụt nguồn cung, đứt gãy chuỗi cung ứng, tác động tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế của các nước này. Các hoạt động hợp tác kinh tế, như giữa Việt Nam với Nga về dầu khí, có thể bị ảnh hưởng. Giao thương với Nga cũng sẽ bị suy giảm do các lệnh trừng phạt, đặc biệt là việc một số ngân hàng Nga bị loại khỏi hệ thống thanh toán quốc tế (SWIFT).

Về dài hạn, nếu việc Nga bị trừng phạt, cấm vận kéo dài, các hoạt động hợp tác khác với Nga, như mua sắm vũ khí, trang thiết bị quốc phòng của Nga cũng sẽ gặp nhiều khó khăn, có thể không thực hiện được. Ngoài vấn đề Nga bị cấm vận, loại khỏi hệ thống thanh toán, thì các trang thiết bị quốc phòng, vũ khí của Nga cũng có thể khó được sản xuất, hoặc khó đảm bảo chất lượng, do bị gián đoạn nguồn cung một số cấu phần, linh kiện. Ngoài ra, việc giao dịch với một quốc gia đang bị trừng phạt, cấm vận cũng đặt ra nhiều rủi ro về mặt uy tín quốc tế của nước đối tác, thậm chí có thể dẫn tới việc nước đối tác bị trừng phạt lây.

Trong bối cảnh đó, các nước ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng có thể phải đánh giá lại một số khía cạnh trong quan hệ của mình với Nga.

– Liệu Việt Nam và ASEAN có thể rút ra những bài học gì cho bản thân mình từ biến cố giữa Nga và Ukraine không, thưa anh?

– Thứ nhất, khi sống cạnh một nước lớn, chúng ta cần phải tỉnh táo, khéo léo, có tư duy chiến lược phù hợp để vừa giữ được độc lập tự chủ, vừa giữ được hòa bình, ổn định. Muốn vậy, một chính sách ngoại giao cân bằng trong quan hệ với các nước lớn là cần thiết, tuyệt đối không tham gia vào các liên minh quân sự có thể gây ra sự mất cân bằng trong cán cân quyền lực khu vực, qua đó kích động đối phương sử dụng vũ lực.

Thứ hai, phải tăng cường sức mạnh nội tại, kết hợp với mở rộng mạng lưới quan hệ với các nước bạn bè, đồng thời tăng cường quan hệ với các nước lớn, miễn là không tham gia các liên minh quân sự, để qua đó vừa có thể răn đe các mối đe dọa tiềm tàng, vừa có thể tập hợp được sự ủng hộ, trợ giúp từ quốc tế khi có biến cố xảy ra với mình.

Thứ ba, trong bối cảnh hệ thống quốc tế luôn tồn tại tình trạng vô chính phủ, ngoài việc tăng cường nội lực, theo đuổi an ninh, thì các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia vừa và nhỏ, phải hết sức đề cao vai trò của luật pháp quốc tế, của Hiến chương Liên Hiệp Quốc, đặc biệt là các nguyên tắc tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia, không sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Các nguyên tắc này dù không phải hiệu quả trong mọi tình huống nhưng nếu được nhiều nước nhấn mạnh, đề cao thì sẽ tạo thành một vành đai pháp lý giúp bảo vệ tốt hơn các nước vừa và nhỏ trước mối đe dọa xâm lược của nước lớn. Đề cao vai trò luật pháp quốc tế cũng giúp tạo nền tảng pháp lý và đạo đức để cô lập, làm suy yếu những kẻ vi phạm, qua đó hạn chế tình trạng “kẻ mạnh làm những gì họ có thể, còn kẻ yếu phải hứng chịu những gì họ phải hứng chịu” trong quan hệ quốc tế.

-Xin cảm ơn anh!

Phan Đăng (thực hiện)

]]>