Nhật Bản – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Mon, 15 Dec 2025 16:22:46 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 Ý kiến của chuyên gia về nhu cầu có một hiệp ước phòng thủ Mỹ-Nhật-Australia-Philippines để đối phó với TQ https://biendong.net/2025/10/22/y-kien-cua-chuyen-gia-ve-nhu-cau-co-mot-hiep-uoc-phong-thu-my-nhat-australia-philippines-de-doi-pho-voi-tq/ Wed, 22 Oct 2025 03:43:19 +0000 https://biendong.net/?p=159024 Bên lề Đối thoại Shangri-La 2025, ngày 31/5, Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng Australia Richard Marles, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Nakatani Gen, Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Gilberto Teodoro, Jr. và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth đã có cuộc họp 4 bên.

Mở đầu cuộc họp, Bộ trưởng Nakatani cho biết Trung Quốc đang tăng cường hoạt động tại các khu vực Biển Hoa Đông và Biển Đông; bày tỏ hy vọng các bên sẽ thảo luận toàn diện về hợp tác quốc phòng để ứng phó. Sau cuộc họp, 4 bộ trưởng đã ra tuyên bố chung tiếp tục bày tỏ “mối quan ngại nghiêm trọng về các hành động gây mất ổn định của Trung Quốc ở Biển Hoa Đông và Biển Đông, và bất kỳ nỗ lực đơn phương nào nhằm thay đổi hiện trạng bằng vũ lực hoặc cưỡng ép””.

Theo tuyên bố chung, các bộ trưởng quốc phòng cũng nhắc lại mối quan ngại nghiêm trọng của mình về hành vi nguy hiểm của Trung Quốc ở Biển Đông đối với Philippines và các quốc gia khác, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giải quyết tranh chấp một cách hòa bình; kêu gọi hòa bình và ổn định trong khu vực, nhấn mạnh tầm quan trọng của vai trò trung tâm của ASEAN và cấu trúc khu vực do ASEAN dẫn đầu trong việc đảm bảo an ninh và ổn định ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Các nhà lãnh đạo quốc phòng cũng tái khẳng định tầm quan trọng của sự hợp tác và đồng bộ hóa hoạt động của 4 nước ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, bao gồm cả ở biển Hoa Đông và Biển Đông, để đảm bảo răn đe, hòa bình và an ninh tốt hơn; đồng thời nhất trí bàn việc lập kế hoạch cho các hoạt động tình báo, giám sát và trinh sát chung nhằm cải thiện khả năng tương tác và phối hợp về nhận biế tình hình trên biển và trên không hiệu quả ở biển Hoa Đông, Biển Đông và những vùng biển xung quanh.

Tại cuộc họp, Bộ trưởng Quốc phòng các nước Mỹ, Nhật Bản và Australia nhất trí hỗ trợ Philippines tăng cường năng lực quốc phòng như một phần của nỗ lực nhằm thiết lập khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở. Theo đó, các nước nhất trí xuất khẩu trang thiết bị sang Philippines để giúp nước này nâng cao khả năng quân sự. Các bên cũng có kế hoạch tiến hành các hoạt động theo dõi, giám sát, cũng như hợp tác trong thu thập tin tức.

Giới chuyên gia nhận định cuộc họp lần thứ hai giữa Bộ trưởng quốc phòng Mỹ, Nhật Bản, Australia và Philippines đã gửi “thông điệp rất quan trọng tới khu vực và thế giới”, rằng “bốn nền dân chủ cam kết tuân thủ các trật tự toàn cầu dựa trên luật lệ”. Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Gilberto Teodoro cho rằng, việc tăng cường mối quan hệ bốn bên không chỉ nhằm mục đích bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Philippines, mà còn duy trì “các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, trong đó hướng dẫn trật tự toàn cầu theo đúng cách mà các quốc gia nên chung sống với nhau”.

Trước đó, bên lề Đối thoại Shangri-La năm 2023, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, Nhật Bản, Australia và Philippines đã lần đầu tiên tiến hành cuộc họp 4 bên chia sẻ tầm nhìn về Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở, đồng thời nhất trí cùng hợp tác an ninh để đảm bảo tầm nhìn tiếp tục phát triển. Vào tháng 4/2024, bốn nước đã tổ chức cuộc tập trận hải quân chung chính thức đầu tiên ở Biển Đông. Sau đó, ngày 02/5/2024, Bộ trưởng Quốc phòng các nước Mỹ, Nhật Bản, Australia và Philippines đã gặp nhau lần thứ 2 tại Hawaii, cam kết tăng cường hợp tác trong bối cảnh liên tiếp xuất hiện lo ngại về các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông, bao gồm các cuộc tập trận hải quân chung ở Biển Đông, nhằm tăng cường hòa bình và ổn định toàn cầu. Cũng trong ngày này, quân đội Mỹ và Philippines đã bắn hàng chục quả tên lửa về phía Biển Đông trong khuôn khổ cuộc tập trận chung thường niên Balikatan 2024. Các tên lửa được phóng tại một địa điểm gần ngôi làng ven biển Campong Ulay thuộc đảo Palawan nhìn ra Biển Đông. Chúng được phóng đi từ 2 Hệ thống tên lửa pháo binh cơ động cao (HIMARS) M142 có khả năng bắn trúng mục tiêu cách xa tới 80 km.

Trước quan hệ hợp tác ngày càng chặt chẽ này, Cựu trợ lý bộ trưởng quốc phòng Mỹ phụ trách các vấn đề an ninh Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương Ely Ratner đã kêu gọi lập một hiệp ước phòng thủ tập thể Thái Bình Dương chính thức giữa Mỹ, Nhật Bản, Australia và Philippines, xem đó là một động thái kịp thời và cần thiết để ngăn chặn tham vọng quân sự của Trung Quốc. Ông Ratner nhận định Mỹ, Nhật Bản, Úc và Philippines là “4 quốc gia có quan điểm nhất quán nhất về thách thức từ Trung Quốc” và hiện là “4 quốc gia có sự liên kết chặt chẽ nhất để đối phó Trung Quốc, đặc biệt là trong việc tăng cường hợp tác quân sự tập thể để ứng phó”. Tại cuộc họp lần thứ 3 giữa Bộ trưởng quốc phòng bốn nước Mỹ, Nhật Bản, Australia, Philippines hôm 31/5/2025, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth cũng đã nhận định: “Không có nhóm nước nào có sự liên kết chặt chẽ hơn nhóm này, không có nước nào có vị thế chiến lược hơn để thể hiện sự răn đe, mang lại hòa bình cho khu vực”.

Ông Ratner cho rằng Bắc Kinh đang tiến gần đến khả năng định hình lại châu Á bằng vũ lực và đã đến lúc Mỹ phải xây dựng một hiệp ước phòng thủ tập thể ở châu Á: trước mối đe dọa ngày càng gia tăng từ Trung Quốc, “hiệp ước này vừa khả thi, vừa cần thiết cho các bên”. Theo ông Ratner, Bắc Kinh có ý định thực hiện tầm nhìn của Chủ tịch Tập Cận Bình về “công cuộc phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa” – một kế hoạch bao gồm thống nhất với Đài Loan, thống trị Biển Đông và làm suy yếu các liên minh do Mỹ lãnh đạo để định hình lại trật tự khu vực. Ông nhấn mạnh rằng: “Nếu kế hoạch thành công, kết quả sẽ là một trật tự do Trung Quốc lãnh đạo, đẩy Mỹ vào tình cảnh kém thịnh vượng hơn, kém an ninh hơn và không thể tiếp cận hoặc chi phối các thị trường và công nghệ quan trọng của thế giới”.

Theo ông Ratner, hiệp ước mà ông đề xuất sẽ khác với khái niệm “NATO châu Á” do Thủ tướng Nhật Bản Shigeru Ishiba đưa ra hồi năm 2024 – khái niệm này không nhận được nhiều sự ủng hộ từ các nhà lãnh đạo trong khu vực. Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Gilberto Teodoro cũng đã bày tỏ sự hoài nghi về một liên minh phòng thủ khu vực với lập luận rằng “sự phân tách và khác biệt về lợi ích quốc gia” giữa các quốc gia Đông Nam Á khiến việc xây dựng một liên minh quân sự thống nhất trở nên khó khăn. Thay vào đó, ông thúc giục ASEAN thừa nhận rằng Trung Quốc đang “bành trướng ở Biển Đông”.

Ông Ratner đã chỉ ra 3 yếu tố mà ông tin rằng hiện nay có thể tạo nên một hiệp ước phòng thủ tập thể quy mô nhỏ hơn. Theo đó, các yếu tố này là sự đoàn kết hơn bao giờ hết giữa các đồng minh của Mỹ, sự hợp tác chưa từng có giữa các đồng minh này, và nhu cầu ngày càng tăng đối với các đồng minh của Mỹ trong việc đóng góp cho hòa bình và an ninh khu vực. Đồng thời, ông Ratner cũng cho biết đã “cố tình” tránh sử dụng thuật ngữ “NATO châu Á”.

Theo chuyên gia Don McLain Gill, nhà phân tích địa chính trị và giảng viên quan hệ quốc tế tại Đại học De La Salle ở Manila, dù ông Ratner không ám chỉ rằng Australia có kế hoạch nhằm kiềm chế Trung Quốc, nhưng Australia cũng đã thừa nhận rằng một Trung Quốc quyết đoán, bành trướng và hiếu chiến hơn chắc chắn sẽ đe dọa an ninh quốc gia của nước này. Đây đó có thể là lý do khiến 3 nước còn lại truyền đạt ý tưởng hiệp ước phòng thủ này đến Australia.

Tuy nhiên, các chuyên gia an ninh cảnh báo rằng ngay cả phiên bản thực dụng hơn của ông Ratner về một hiệp ước phòng thủ khu vực cũng sẽ phải đối mặt với những thách thức và rào cản lớn. Ông Don McLain Gill -– cho rằng, đề xuất này có vẻ khả thi hơn khái niệm “NATO châu Á”, nhưng nó phải “thực tế hơn” trước những thách thức mà các bên phải đối mặt. Trong đó, có lẽ Australia và Philippines còn phải cân nhắc thêm những khía cạnh khác. Ông Don McLain Gill trích dẫn những bình luận trước đó của Thủ tướng Australia Anthony Albanese, trong đó nhấn mạnh nhu cầu của Canberra trong việc cân bằng giữa các mối quan ngại về an ninh và các mối quan hệ kinh tế với Bắc Kinh. Đồng thời,  ông Don McLain Gill cũng cho rằng bốn quốc gia sẽ cần phải xác định rõ phạm vi của bất kỳ thỏa thuận an ninh nào, đặc biệt là nếu nó liên quan đến Đài Loan.

Một số ý kiến khác cảnh báo rằng bất kỳ động thái nào nhằm chính thức hóa một khối phòng thủ như vậy sẽ phải đối mặt với sự phản đối mạnh mẽ từ Trung Quốc và gây ra sự khó chịu trong số các quốc gia Đông Nam Á khác. Nhà phân tích chính trị Julio Amador ở Manila nhận định rằng đề xuất này sẽ không thành công vì khu vực này không thích các hiệp ước phòng thủ tập thể, coi đây là hành động buộc các quốc gia phải liên kết với một số cường quốc nhất định.

Đồng thời, ông Amador cũng cho rằng dù Philippines có thể hưởng lợi từ việc hợp tác chặt chẽ, sâu rộng hơn với Mỹ, đặc biệt trong việc hiện đại hóa quân đội, song Philippines nên cân nhắc kỹ lưỡng việc dấn sâu hơn vào các vấn đề an ninh khác bên cạnh Biển Đông hay không. Nếu một hiệp ước như vậy được thực hiện, Bắc Kinh có thể sẽ đáp trả và gây mất ổn định khu vực. Philippines cần đánh giá cẩn thận các chi phí và lợi ích của việc một hiệp ước quốc phòng như vậy xuất hiện ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Tóm lại, việc Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, Nhật Bản, Australia và Philippines tiến hành 3 cuộc họp trong 2 năm qua, cũng như việc bốn nước tăng cường hợp tác quân sự, triển khai tuần tra và tập trận chung ở Biển Đông là những yếu tố cần thiết để hình thành một cơ chế hợp tác an ninh giữa bốn nước song là chưa đủ để tiến tới một Hiệp ước phòng thủ chung. Tuy nhiên, qua những phát biểu của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth ở Manila, Tokyo và Singapore thì có thể khẳng định là chính quyền Trump nhiệm kỳ 2 sẽ tiếp tục thúc đẩy hợp tác giữa Washington, Tokyo, Canberra và Manila để duy trì, hòa bình ở Biển Đông, Biển Hoa Đông và trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

]]>
Quan hệ Nhật – Philippines tác động tới Biển Đông kể từ khi Tổng thống Marcos Jr cầm quyền ở Philippines               https://biendong.net/2025/10/15/quan-he-nhat-philippines-tac-dong-toi-bien-dong-ke-tu-khi-tong-thong-marcos-jr-cam-quyen-o-philippines/ Wed, 15 Oct 2025 03:18:00 +0000 https://biendong.net/?p=161792 Sau khi lên nắm quyền Tổng thống ở Philippines vào tháng 6/2022, ông Ferdinand Marcos Jr đã nhanh chóng xây dựng được mối quan hệ nồng ấm với Nhật Bản, đưa quan hệ hai nước lên một tầm cao mới, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, quốc phòng – an ninh.

Sự gắn kết giữa hai nước, vốn cùng là đồng minh của Mỹ đã mang lại nhiều lợi ích cho cả Manila lẫn Tokyo, nhưng có điều, nó không chỉ bó hẹp trong quan hệ song phương mà còn tác động tới khu vực và nhiều quốc gia liên quan khác, nhất là tác động đối với an ninh khu vực Biển Đông cả trên bình diện tích cực cũng như tiêu cực.

Động lực cơ bản thúc đẩy ông Marcos Jr nhanh chóng nâng cấp quan hệ với Nhật Bản

Dưới thời Tổng thống Duterte, chính sách đối ngoại của Philippines chủ yếu đi theo hướng “xa Mỹ, gần Trung”, đồng thời duy trì một lập trường tương đối “độc lập” với các nước đồng minh của Mỹ, trong đó có Nhật Bản. Tuy vậy thời kỳ này, Nhật Bản vẫn là đối tác cung cấp nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA) lớn nhất cho Philippines, nhưng sự hợp tác này ít được thể chế hóa trong một chiến lược an ninh rộng lớn hơn.

Ngay sau khi nhậm chức Tổng thống Philippines, ông Marcos Jr đã nhanh chóng đưa ra một chính sách đối ngoại rộng lớn hơn, nhấn mạnh sự cần thiết của việc củng cố các mối quan hệ chính trị – ngoại giao, quốc phòng – an ninh với các cường quốc trong khu vực, nhất là với Nhật Bản. Tháng 2/2023, ông đã có chuyến thăm cấp nhà nước đầu tiên tới Nhật Bản, đánh dấu sự ưu tiên cao của Manila đối với Tokyo. Sự thay đổi này có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu xuất phát từ hai động lực cơ bản sau.

Trước hết là về kinh tế, Nhật Bản vốn là đối tác thương mại và là nhà đầu tư lớn nhất của Philippines, nên việc nâng cấp quan hệ với Nhật Bản sẽ giúp Philippines tiếp cận tốt hơn nguồn vốn, công nghệ và thị trường của nước này. Mặt khác, Biển Đông có vị trí rất quan trọng đối với an ninh kinh tế và năng lượng của Nhật Bản. Hơn 42% khối lượng hàng hóa thương mại của Nhật Bản được vận chuyển đi qua đây, do đó Tokyo rất cần phối hợp với Philippines để can dự nhiều hơn vào vùng biển này nhằm bảo đảm các lợi ích kinh tế của mình.

Tiếp theo là về quốc phòng – an ninh, cả Philippines và Nhật Bản đều có tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trên biển với Trung Quốc, và cũng đều rất lo ngại về các hành động quân sự ngày càng “hung hăng” của Trung Quốc trong khu vực, nhất là tại Biển Đông. Trước thời điểm ông Marcos Jr nhậm chức, cũng như thời gian sau đó, Trung Quốc liên tục gia tăng các hành động quyết đoán và hung hăng ở Biển Đông bằng “chiến thuật vùng xám”, đặc biệt là đối với các khu vực thuộc vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Philippines. Những hành động này đã làm leo thang căng thẳng giữa hai nước, buộc Philippines phải tăng cường quan hệ quốc phòng với các đối tác đồng minh như Nhật Bản và Mỹ, đồng thời tìm kiếm sự ủng hộ từ cộng đồng quốc tế, nhằm qua đó có thêm sức mạnh để hiện đại hóa quân đội và cơ sở hạ tầng, bảo đảm an ninh cho đất nước.

Những kết quả hợp tác nổi bật giữa Nhật Bản và Philippines khi Tổng thống Ferdinand Marcos Jr lên cầm quyền đến nay

Một là, trên lĩnh vực kinh tế, sau chuyến thăm Nhật Bản của ông Marcos Jr, quan hệ kinh tế Nhật – Philippines đã có nhiều bước phát triển mới, tiêu biểu như:

  • Về nguồn vốn ODA, Nhật Bản tiếp tục duy trì vị thế là nhà cung cấp vốn ODA lớn nhất cho Philippines. Các khoản đầu tư của Nhật Bản vào Philippines chủ yếu tập trung vào các dự án hạ tầng trọng điểm, có tính sống còn đối với nền kinh tế Philippines. Điển hình là dự án tàu điện ngầm đầu tiên ở Manila, được mệnh danh là “công trình của thế kỷ”, trị giá 8,8 tỉ USD, trong đó nguồn tài trợ bằng khoản vay từ Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) là 2,7 tỉ USD. Điều đáng nói, nếu như dưới thời cựu Tổng thống Duterte, Trung Quốc đã đầu tư rất mạnh vào các dự án hạ tầng ở Philippines, nhưng nhiều dự án trong số đó đã không đạt hiệu quả kinh tế hoặc bị đình trệ, thì nay Philippines đã hủy bỏ và tìm đến các nhà đầu tư Nhật Bản. Ví dụ, dự án đường sắt lớn (SCMB) do Trung Quốc tài trợ đã phải “đắp chiếu” hơn 4 năm, nay đã được khởi động lại với sự hậu thuẫn của Mỹ và Nhật Bản.Đáng nói hơn, các khoản đầu tư của Nhật Bản không chỉ mang lại lợi ích kinh tế, mà còn đóng vai trò như một “công cụ địa chính trị”. Bởi vì các khoản đầu tư của Nhật Bản là một “sự thay thế đáng tin cậy” cho các dự án kém hiệu quả của Trung Quốc. Hơn nữa, nguồn vốn này sẽ gắn kết Philippines chặt chẽ hơn vào chuỗi giá trị và cơ sở hạ tầng do Nhật Bản – đối tác “cùng chí hướng” tài trợ. Ai cũng biết, chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, nên khi đã có sự gắn kết về kinh tế thì đương nhiên, mối quan hệ về chính trị giữa hai nước cũng trở nên mật thiết hơn. Hiện nay, ngoài các dự án đã tài trợ, JICA đang triển khai 15 dự án cơ sở hạ tầng trọng điểm khác, trong đó có các dự án đường sắt lớn, với tổng giá trị khoảng 20 tỷ USD. Nhật Bản cũng sẽ tiếp tục tăng cường hỗ trợ vốn ODA trên lĩnh vực an ninh nhằm nâng cao khả năng phòng thủ hàng hải cho Philippines; tiếp tục duy trì chính sách lãi suất ưu đãi để giúp Manila có thêm nguồn vốn phục vụ cho việc phục hồi kinh tế đất nước sau đại dịch COVID-19.

(ii) Sáng kiến “Hành lang kinh tế Luzon”: Đây là dự án hạ tầng trọng điểm, được ký kết tại Hội nghị thượng đỉnh Mỹ – Nhật – Philippines hồi tháng 4/2024, tại Mỹ, nhằm tăng cường kết nối chuỗi cung ứng và nâng cấp hạ tầng chiến lược tại Luzon, hòn đảo lớn nhất và quan trọng nhất của Philippines. Sáng kiến này đánh dấu một bước tiến quan trọng mới, từ hợp tác song phương sang một chiến lược phát triển kinh tế lớn hơn, có sự phối hợp của ba nước. Nó không chỉ là dự án phát triển đơn lẻ, mà còn mang giá trị là một đối trọng chiến lược “nặng ký” đối với sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI) của Trung Quốc. Việc Nhật Bản phối hợp với Mỹ sử dụng sức mạnh kinh tế của mình để xây dựng hành lang kinh tế quan trọng trên cho thấy hai nước đang tạo ra một “chuỗi cung ứng chiến lược” nhằm củng cố, thắt chặt mối quan hệ với Philippines, qua đó giúp Manila giảm sự phụ thuộc vào Trung Quốc về kinh tế. Hoạt động này chứng tỏ, Philippines đã bước lên “cỗ xe” chiến lược địa chính trị của Mỹ và Nhật Bản đối với khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nhằm đối phó với Trung Quốc.

Hai là, trên lĩnh vực quốc phòng – an ninh, quan hệ hai nước có bước phát triển rất mạnh mẽ, từ viện trợ bình thường đã vươn lên thành “liên kết chiến lược” rộng lớn hơn, với những trụ cột cơ bản sau:

(i) Hai bên đã pháp lý hóa hoạt động quốc phòng – an ninh bằng việc ký kết Thỏa thuận tiếp cận đối ứng (RAA) ngày 08/7/2024. Đây là một thỏa thuận quốc phòng mang tính đột phá, cho phép lực lượng quân sự của hai nước dễ dàng triển khai trên lãnh thổ của nhau để thực hiện các hoạt động huấn luyện và tác chiến chung. Thỏa thuận này đánh dấu lần đầu tiên, Nhật Bản ký RAA với một quốc gia Đông Nam Á. Việc này cho thấy mức độ tin cậy và sự liên kết chiến lược giữa hai nước đã đạt đến đỉnh điểm. Trước đây, sự tham gia của Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản vào các hoạt động quân sự tại Philippines bị giới hạn ở các hoạt động cứu trợ nhân đạo và hỗ trợ thảm họa. Nhưng bây giờ, RAA ra đời thì phạm vi hợp tác sẽ được mở rộng hơn sang các cuộc tập trận chung lớn hơn, giúp nâng cao đáng kể khả năng tương tác giữa quân đội hai nước. Sự đồng thuận và nhanh chóng ký kết RAA cho thấy, cả hai bên đều có chung nhận thức về tình hình an ninh khu vực, nhất là các hành vi cưỡng ép ở Biển Đông đã trở thành một mối đe dọa chung, từ đó đòi hỏi hai nước phải có sự phối hợp phản ứng mạnh mẽ hơn. RAA ra đời đã đưa mối quan hệ đối tác “hữu nghị truyền thống” Nhật – Philippines trở thành một “liên kết chiến lược” quốc phòng – an ninh thực sự, được thể chế hóa bằng một khuôn khổ pháp lý vững chắc.

(ii) Nhật Bản đã chọn Philippines là quốc gia đầu tiên nhận nguồn viện trợ quốc phòng theo khuôn khổ của chương trình Hỗ trợ An ninh chính thức (OSA) mới của Nhật Bản. Khác với ODA, OSA tập trung vào việc nâng cao năng lực an ninh cho các quốc gia đối tác. Khoản viện trợ đầu tiên trị giá 1,6 tỉ yên (khoảng 10,65 triệu USD) mà Tokyo giành cho Manila nhằm cung cấp các thiết bị như thuyền cao su, hệ thống radar ven biển và thiết bị hỗ trợ radar giám sát trên không cho Hải quân và Không quân Philippines. Bên cạnh đó, các khoản vay từ Nhật Bản cũng giúp Philippines đóng mới 13 tàu tuần duyên cho Lực lượng Bảo vệ bờ biển. Nhật Bản cũng đã phê duyệt một khoản vay 500 triệu USD để Philippines đóng thêm nhiều tàu tuần tra lớn hơn, đồng thời có khả năng sẽ chuyển giao 6 tàu khu trục cũ và máy bay tuần tra hàng hải cho Hải quân Philippines vào năm 2027. Trong bối cảnh Tokyo bị hạn chế hành động quân sự bởi Hiến pháp hòa bình, nhưng lại có lượng hàng hóa đi qua Biển Đông rất lớn, nên vùng biển này trở thành khu vực có lợi ích thiết thân rất lớn với Nhật Bản. Chính vì vậy, nâng cao năng lực hàng hải cho các đối tác ở tuyến đầu của vùng biển này như Philippines không chỉ giúp Manila bảo vệ chủ quyền, mà còn gián tiếp bảo vệ các tuyến đường biển quan trọng của Nhật Bản, vốn được coi là “huyết mạch chính” trong chuỗi cung ứng của đất nước.

(iii) Phối hợp tăng cường các hoạt động huấn luyện và tuần tra hàng hải chung. Các hoạt động này không chỉ giới hạn ở các cuộc tập trận song phương, mà còn mở rộng thành các cuộc tập trận ba bên với Mỹ, thậm chí bốn bên với Úc (điển hình như cuộc tập trận Balikantan 2025), tập trung vào việc tăng cường khả năng tương tác giữa các lực lượng. Những hoạt động này có ý nghĩa chính trị – ngoại giao rất lớn, là thông điệp răn đe rõ ràng đối với các hành vi cưỡng ép và đơn phương nhằm làm thay đổi nguyên trạng ở Biển Đông.

Ba là, trên lĩnh vực chính trị – ngoại giao, ngoài kinh tế, quốc phòng – an ninh, Philippines còn tham gia vào các cơ chế hợp tác đa phương trong khu vực, nổi bật là:

(i) Tham gia và hình thành cơ chế phối hợp ba bên chính thức với Mỹ và Nhật Bản trên nhiều lĩnh vực, từ quốc phòng – an ninh đến kinh tế, công nghệ, chuỗi cung ứng năng lượng sạch, hợp tác về chống biến đổi khí hậu… Theo ông Marcos Jr, cơ chế này sẽ làm “thay đổi thế cục mà chúng ta thấy trong khu vực”; là thông điệp cảnh báo mạnh mẽ rằng, các hành vi cưỡng ép ở Biển Đông không chỉ phải đối mặt với phản ứng của một quốc gia, mà còn phải đối mặt với một “liên minh tiểu đa phương” đang nổi lên.

(ii) Bên cạnh việc cùng Mỹ tổ chức Hội nghị thượng đỉnh ba bên Mỹ – Nhật – Philippines, Nhật Bản và Philippines còn tham gia vào nhiều khuôn khổ hợp tác khác. Các nhà lãnh đạo của ba nước thường xuyên gặp gỡ nhau bên lề các hội nghị quốc tế, như Hội nghị cấp cao ASEAN ở Indonesia, tháng 5/2023. Ngoài ra, các cuộc tuần tra hàng hải ba bên và bốn bên (với Úc) cũng thường xuyên diễn ra, nhằm tăng cường khả năng tương tác và gửi đi thông điệp chung về cam kết duy trì tự do hàng hải ở Biển Đông. Sự đa dạng của các khuôn khổ hợp tác này cho thấy tính linh hoạt và khả năng mở rộng của mô hình an ninh khu vực mới, cho phép Nhật Bản và Philippines điều chỉnh mức độ cam kết và phạm vi hợp tác tùy theo tình hình cụ thể.

Những tác động của quan hệ Nhật – Philippines đối với an ninh Biển Đông

Rõ ràng, Biển Đông là yếu tố quan trọng thúc đẩy hai nước Nhật – Philippines tăng cường quan hệ, đồng thời đã đưa lại những lợi ích thiết thực cho hai nước. Ngược lại, quan hệ giữa hai nước sẽ có những ảnh hưởng và tác động đối với an ninh khu vực Biển Đông cả về mặt tích cực và tiêu cực.

Ảnh hưởng và tác động tích cực được thể hiện ở mấy khía cạnh cụ thể sau.

Thứ nhất, thông qua việc Nhật Bản giúp Philippines nâng cao năng lực thực thi pháp luật trên biển, qua đó đã gián tiếp giúp ổn định tình hình an ninh khu vực. Bởi vì, bằng việc hỗ trợ Philippines các trang thiết bị như tàu tuần tra, hệ thống radar giám sát và tổ chức huấn luyện trực tiếp, Nhật Bản đã và đang giúp Lực lượng tuần duyên Philippines có thêm phương tiện và kỹ năng cần thiết để nâng cao năng lực hàng hải, giám sát, bảo vệ EEZ của mình hiệu quả hơn. An ninh vùng biển thuộc chủ quyền Philippines ổn định sẽ góp phần vào ổn định an ninh chung của Biển Đông.

Thứ hai, liên minh Nhật – Philippines về tăng cường an ninh biển thúc đẩy trật tự khu vực dựa trên luật lệ. Mặc dù không phải là một bên tranh chấp ở Biển Đông, nhưng Nhật Bản có lợi ích sống còn trong việc đảm bảo tự do hàng hải và hàng không ở vùng biển này. Do đó, sự hợp tác chặt chẽ giữa Nhật – Philippines, đặc biệt là việc ký kết RAA, đã gửi đi một thông điệp mạnh mẽ về việc duy trì một trật tự quốc tế tự do và rộng mở dựa trên luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982).

Thứ ba, sự hợp tác chặt chẽ giữa Nhật – Philippines thúc đẩy hình thành cơ chế hợp tác đa phương mới trong khu vực. Quan hệ Nhật – Philippines là một mắt xích quan trọng trong mạng lưới hợp tác an ninh rộng lớn hơn tại khu vực, bao gồm cả Mỹ và những nước khác. Các cuộc gặp ba bên Mỹ – Nhật – Philippines có thể còn mở ra cho các bên khác tham gia và khả năng Nhật Bản tham gia sâu hơn vào các cuộc tập trận chung như Balikatan sẽ tạo ra một cơ chế phối hợp rộng rãi, linh hoạt, góp phần răn đe các hành vi đơn phương, cưỡng ép trên Biển Đông.

Bên cạnh đó, các ảnh hưởng và tác động tiêu cực có thể xảy ra các tình huống cụ thể sau.

Thứ nhất, sự tăng cường liên minh Nhật – Philippines làm gia tăng căng thẳng và nguy cơ đối đầu tại khu vực. Bởi, việc Nhật Bản và Philippines – hai đồng minh thân cận của Mỹ ở khu vực tăng cường hợp tác quân sự sẽ bị Trung Quốc xem là một nỗ lực nhằm kiềm chế và bao vây họ. Trên thực tế, Bắc Kinh đã không ít lần chỉ trích các động thái này, cho rằng đây là biểu hiện của “tư duy Chiến tranh lạnh”, có thể dẫn đến một cuộc chạy đua vũ trang, làm phức tạp thêm tình hình và gia tăng nguy cơ tính toán sai lầm hoặc va chạm trên biển.

Thứ hai, liên minh Nhật – Philippines làm gây phức tạp hóa quan hệ trong khu vực. Sự xích lại gần nhau của Nhật Bản và Philippines có thể tạo ra những áp lực nhất định trong quan hệ của hai nước này với Trung Quốc, đối tác thương mại lớn của cả hai nước. Ngoài ra, nó cũng có thể gây ra sự chia rẽ nhất định trong nội bộ ASEAN khi các quốc gia thành viên trong khối có những cách tiếp cận khác nhau đối với vấn đề Biển Đông và sự cạnh tranh của các nước lớn.

Thứ ba, Nhật Bản có thể bị lôi kéo sâu hơn vào các tranh chấp. Mặc dù Tokyo không có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, nhưng việc ký kết RAA và tăng cường hiện diện quân sự, dù chỉ để tập trận thôi, cũng có thể khiến Nhật Bản bị lôi kéo trực tiếp hơn vào các sự cố hoặc xung đột tiềm tàng giữa Philippines và Trung Quốc. Điều này có thể tạo ra một thế đối đầu song song, khi Trung Quốc cũng đang gia tăng áp lực lên Nhật Bản trong tranh chấp ở biển Hoa Đông.

Như vậy có thể thấy, quan hệ Nhật – Philippines dưới thời Tổng thống Marcos Jr đã có sự thay đổi mang tính chiến lược, trên cả lĩnh vực kinh tế lẫn quốc phòng – an ninh. Bằng việc ký kết RAA, triển khai chương trình OSA và củng cố cơ chế hợp tác ba bên với Mỹ, hai nước không chỉ củng cố, thúc đẩy quan hệ song phương, mà còn bắt đầu hình thành một cấu trúc an ninh mới ở khu vực. Mối quan hệ trên vừa giúp ổn định an ninh, trật tự dựa trên luật lệ ở Biển Đông, vừa giúp Philippines bảo vệ chủ quyền hiệu quả hơn. Tuy nhiên, nó cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ làm gia tăng cạnh tranh địa chính trị và căng thẳng trong khu vực Biển Đông, đặt ra bài toán ứng xử đối với các nước khác trong khu vực này./.

]]>
Tăng cường hợp tác quốc phòng Indonesia – Nhật Bản và tác động tới Biển Đông https://biendong.net/2025/10/08/tang-cuong-hop-tac-quoc-phong-indonesia-nhat-ban-va-tac-dong-toi-bien-dong/ Wed, 08 Oct 2025 03:16:06 +0000 https://biendong.net/?p=158985 Indonesia là một trong hai nước Đông Nam Á được Thủ tướng Nhật Bản Ishiba Shigeru chọn để thực hiện chuyến công du nước ngoài đầu tiên sau khi nhậm chức tháng 10/2024.

Trong cuộc hội đàm tại Jakarta tháng 1/2025 Thủ tướng Nhật Bản Ishiba Shigeru và Tổng thống Indonesia Prabowo Subianto chia sẻ quan điểm về điều cần thiết phải củng cố trật tự quốc tế tự do và rộng mở dựa trên luật lệ. Bên cạnh nhiều dự án hợp tác được công bố, điểm nhấn quan trọng trong chuyến thăm là thoả thuận về việc tăng cường hợp tác an ninh, quốc phòng giữa hai nước, theo đó hai bên nhất trí khôi phục các cuộc họp giữa Bộ trưởng Quốc phòng và Ngoại giao hai nước (2+2); nhất trí thiết lập các cuộc tham vấn quốc phòng cấp làm việc về an ninh hàng hải, bao gồm cả hợp tác kỹ thuật về trang bị quốc phòng; Nhật Bản cung cấp cho Indonesia tàu tuần tra cao tốc thông qua Hỗ trợ An ninh Chính thức.

Thủ tướng Nhật Bản Ishiba Shigeru (trái) và Tổng thống Indonesia Prabowo Subianto sau cuộc gặp tại dinh tổng thống ở Bogor, Tây Java (Indonesia) ngày 11.1. Ảnh: AFP

Trước đó, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Gen Nakatani đã có chuyến thăm Jakarta vào đầu tháng 1, trao đổi với người đồng cấp Indonesia về việc tăng cường hợp tác an ninh quốc phòng giữa hai nước. Sau những thoả thuận ở cấp cao nhất, các công việc liên quan đang được tích cực triển khai.

Theo Đại sứ Indonesia tại Tokyo – ông Heri Akhmadi, các cuộc đàm phán giữa Tokyo và Jakarta về tiềm năng phát triển và sản xuất chung các khinh hạm tiên tiến cho Hải quân Indonesia vẫn đang được tiến hành ở cấp cao nhất, khi hai nước tìm cách tăng cường hợp tác công nghiệp quốc phòng. Chủ đề này nằm trong chương trình nghị sự khi Tham mưu trưởng Yoshihide Yoshida – người đứng đầu Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản (JSDF) – tới thăm Indonesia vào cuối tháng 4/2025.

Đại sứ Heri Akhmadi cho biết những nỗ lực mua sắm và sản xuất chung một biến thể của tàu khu trục lớp Mogami của Nhật Bản – loại tàu mà Tokyo cũng hy vọng sẽ xuất khẩu sang Australia – vẫn là ưu tiên hàng đầu trong chính quyền của Tổng thống Indonesia Prabowo Subianto. Ông Prabowo Subianto, người dự kiến sẽ thăm Nhật Bản vào cuối năm nay, lần đầu tiên bày tỏ sự quan tâm đến việc hợp tác với Nhật Bản về việc đóng tàu chiến khi ông đến nước này với tư cách là Bộ trưởng Quốc phòng hồi năm 2021 để ký một Biên bản ghi nhớ về hợp tác chuyển giao công nghệ và thiết bị quốc phòng.

Dự án đề xuất của Tokyo, được cho là có giá trị 300 tỷ Yên, sẽ bao gồm việc đóng 4 khinh hạm tại Nhật Bản, và một số lượng tương đương sẽ được đóng tại Indonesia bởi Công ty PT PAL Indonesia để đáp ứng các yêu cầu của hải quân. Tuy nhiên, các cuộc đàm phán đã bị đình trệ do đại dịch COVID-19 và những hạn chế về tài chính liên quan đến dự án đầy tham vọng của Indonesia về việc di dời thủ đô.

Trong khi Tokyo được cho là đã đề nghị cho vay, vấn đề tài trợ vẫn chưa được giải quyết vì quy định của Indonesia yêu cầu Chính phủ phải cung cấp trước 10 – 20% số tiền. Tuy nhiên, Đại sứ Akhmadi chỉ ra động lực ngày càng tăng trong các cuộc đàm phán về dự án đóng tàu khu trục nói trên dưới thời Tổng thống Prabowo, đặc biệt là khi Nhật Bản nới lỏng các biện pháp kiểm soát xuất khẩu quốc phòng nghiêm ngặt trong những năm gần đây.

Đại sứ Akhmadi cho biết một khía cạnh quan trọng khác của các cuộc đàm phán xoay quanh việc chuyển giao công nghệ quốc phòng. Jakarta không chỉ quan tâm đến việc cùng phát triển và sản xuất các tàu, mà còn muốn tiếp cận các công nghệ Nhật Bản được sử dụng trong một số hệ thống trên các tàu lớp Mogami, vốn là một trong những hệ thống tiên tiến nhất của JSDF. Ông Akhmadi nói thêm: “Do mối quan hệ ngày càng chặt chẽ với Nhật Bản, chúng tôi (Indonesia) cũng muốn hợp tác chặt chẽ hơn về các hệ thống như vậy thông qua chuyển giao công nghệ”. Lấy một ví dụ về sự hợp tác như vậy, ông Akhmadi đã trích dẫn thỏa thuận của Ấn Độ với Tokyo vào năm 2024 để cùng phát triển một hệ thống radar cho tàu chiến của Hải quân Ấn Độ. Hệ thống radar tiên tiến này đang được lắp đặt trên một số khinh hạm lớp Mogami.

Theo giới chuyên gia quân sự, hợp tác này sẽ hỗ trợ nỗ lực của Nhật Bản nhằm phát triển ngành công nghiệp quốc phòng trong nước thông qua xuất khẩu toàn cầu. Đồng thời, nó cũng sẽ phù hợp với các chính sách và mục tiêu dài hạn của Indonesia là xây dựng ngành quốc phòng của riêng mình, khi Jakarta tìm cách giảm sự phụ thuộc vào thiết bị quân sự do nước ngoài sản xuất. Tuy nhiên, quyết định của Indonesia cũng sẽ phụ thuộc vào khả năng tương tác và các yếu tố về lực lượng lao động, đặc biệt là khi nước này đã đặt hàng một số tài sản hải quân khác từ các đối tác châu Âu.

Trên thực tế, mối quan hệ an ninh ngày càng phát triển giữa hai nước đã vượt xa phạm vi hợp tác tiềm năng về việc sản xuất chung các khinh hạm. Giới quan sát nhận định rằng việc Thủ tướng Nhật Bản Shigeru Ishiba lựa chọn Malaysia và Indonesia để thực hiện chuyến thăm nước ngoài đầu tiên trên cương vị Thủ tướng và tiếp đó là chuyến thăm tới Việt Nam, Philippines hồi đầu tháng 5/2025 thể hiện rõ sự coi trọng khu vực Đông Nam Á trong chính sách của Thủ tướng Ishiba. Trong khi các quốc gia này từ lâu theo đuổi chính sách đối ngoại dựa trên nguyên tắc không liên kết, các chuyến thăm của Thủ tướng Ishiba báo hiệu cam kết liên tục của Tokyo đối với khu vực có tầm quan trọng chiến lược khi Nhật Bản tìm cách phòng ngừa nguy cơ biến động kinh tế toàn cầu ngày càng gia tăng và tạo ra môi trường an ninh thuận lợi hơn.

Mặc dù Indonesia không phải là một trong những quốc gia có yêu sách trong các tranh chấp lâu dài ở Biển Đông, nhưng nước này đã có những vụ va chạm với các tàu Trung Quốc ở vùng biển giàu tài nguyên xung quanh quần đảo Natuna. Tokyo đã giúp Jakarta cải thiện năng lực tuần tra hàng hải thông qua huấn luyện chung và cung cấp tàu, bao gồm 2 tàu tuần tra cao tốc mới sẽ được chuyển giao cho Hải quân Indonesia theo chương trình Hỗ trợ an ninh nước ngoài (OSA) mới của Nhật Bản.

Hai nước cũng đã tăng cường các cuộc tập trận quân sự chung, với việc Đại sứ Akhmadi lưu ý rằng cuộc tập trận đa quốc gia “Siêu lá chắn Garuda” (Super Garuda Shield) năm nay sẽ chứng kiến Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản (JSDF) có sự đóng góp lớn nhất từ trước đến nay, với hơn 250 quân nhân và một tàu chiến. Tokyo và Jakarta cũng đã nhất trí tổ chức vòng đàm phán “2+2” lần thứ 3 giữa Bộ trưởng Ngoại giao và Quốc phòng vào cuối năm nay. Cùng với đó, tăng cường hợp tác kinh tế với Đông Nam Á vẫn là một trong những ưu tiên hàng đầu của Nhật Bản trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gia tăng với Trung Quốc. Tháng 1/2025, ông Ishiba đã nhấn mạnh vai trò trung tâm của Indonesia trong nỗ lực này.

Đại sứ Akhmadi nhấn mạnh: “An ninh năng lượng và kinh tế đóng vai trò ngày càng quan trọng trong quan hệ hai nước”. Jakarta đã đồng ý tiếp tục cung cấp khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) cho Nhật Bản trong khi Tokyo sẽ tiếp tục hỗ trợ phát triển dự án khí đốt Abadi của Indonesia, dự kiến sẽ bắt đầu sản xuất vào khoảng năm 2029 hoặc 2030 với sự hỗ trợ của Inpex, công ty thăm dò dầu khí lớn nhất Nhật Bản. Jakarta và Tokyo cũng đang trong giai đoạn đàm phán cuối cùng về một thỏa thuận khoáng sản quan trọng, dự kiến sẽ bao gồm việc thăm dò, phát triển, sản xuất, tinh chế và chế biến tại Indonesia các khoáng sản thiết yếu như niken, nhằm mục đích thúc đẩy sản xuất pin và đa dạng hóa chuỗi cung ứng.

Trao đổi với tờ “Japan Times”, Đại sứ Akhmadi cho biết: “Với việc Trung Quốc kiểm soát phần lớn hoạt động chế biến lithium trên toàn thế giới, chúng tôi (Indonesia) muốn thấy nhiều khoản đầu tư hơn từ Nhật Bản vào việc sản xuất các khoáng sản quan trọng tại Indonesia”. Ông nói thêm rằng thỏa thuận này dự kiến sẽ được ký kết “trong tương lai gần” và sẽ toàn diện hơn thỏa thuận được ký kết giữa Nhật Bản và Canada vào năm 2023.

Theo Đại sứ Akhmadi, mối quan hệ ngày càng phát triển giữa Jakarta và Tokyo phản ánh chính sách không liên kết của nước này khi muốn mở rộng quan hệ đối tác và tránh đứng về bên nào trong cuộc cạnh tranh ngày càng leo thang giữa Trung Quốc và Mỹ. Ông lưu ý: “Indonesia đặc biệt muốn hợp tác chặt chẽ hơn với các cường quốc tầm trung như Nhật Bản và Ấn Độ vì hợp tác với các siêu cường có nghĩa là có thể có ít đòn bẩy hơn trong các cuộc đàm phán, nhưng với các cường quốc tầm trung thì sẽ có sự bình đẳng hơn và chúng ta có thể làm nhiều hơn nữa để duy trì sự ổn định trong khu vực và tăng cường sự thịnh vượng của mình”.

Giới phân tích cho rằng việc tăng cường hợp tác giữa Indonesia và Nhật Bản nói chung và việc mở rộng hợp tác an ninh quốc phòng giữa hai nước nói riêng không chỉ có lợi cho 2 nước mà còn có những tác động tích cực tới vấn đề an ninh khu vực, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh địa chiến lược giữa các siêu cường ở Biển Đông và khu vực ngày càng gay gắt, thể hiện trên một số điểm sau:

Thứ nhất, Indonesia và Nhật Bản là những nước tầm trung có vai trò quan trọng đối với Biển Đông và an ninh khu vực. Cả hai nước này đều có môi quan hệ hợp tác chặt chẽ với các nước ven Biển Đông như Việt Nam, Philippines, Malaysia. Việc tăng cường hợp tác giữa Indonesia và Nhật Bản nhất là trong lĩnh vực an ninh hàng hải, công nghệ quốc phòng tạo yếu tố quan trọng để đối trọng với một Trung Quốc ngày càng hung hăng ở Biển Đông.

Giới phân tích nhận định Nhật Bản đang ngày càng mở rộng quan hệ an ninh trong khu vực (bao gồm Biển Đông), với sự khuyến khích từ đồng minh lâu năm là Mỹ. Tokyo chính là “cánh tay nối dài” của Washington ở Biển Đông khi Nhật Bản tăng cường hợp tác an ninh hàng hải và quốc phòng với Indonesia hay các nước ven Biển Đông khác. Thủ tướng Nhật Bản Ishiba nhấn mạnh rằng: “Nhật Bản và Mỹ hợp tác vì hòa bình và ổn định của khu vực này sẽ đóng góp đáng kể vào hòa bình và ổn định của khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và toàn thế giới”.

Thứ hai, mặc dù không liên quan trực tiếp tới các tranh chấp Biển Đông, song Indonesia đã nhiều lần phải đối đầu với hoạt động hung hăng của các tàu Trung Quốc tại vùng đặc quyền kinh tế xung quanh quần đảo Natuna. Trong khi đó, Nhật Bản thường xuyên lên án mạnh mẽ các hành vi cưỡng ép, bắt nạt láng giềng của Trung Quốc ở Biển Đông, đồng thời luôn ý thức rằng an ninh ở Biển Đông gắn liền với an ninh của Nhật Bản ở Biển Hoa Đông, hỗ trợ các nước ven Biển Đông trong cuộc đối đầu với Trung Quốc chính là để ngăn chặn các hành động hung hăng của Trung Quốc ở Biển Hoa Đông. Tháng 12/2024, Ngoại trưởng Nhật Bản Takeshi Iwaya đã bày tỏ “quan ngại nghiêm trọng” với người đồng cấp Trung Quốc về các hoạt động quân sự gia tăng của Bắc Kinh, đồng thời nhấn mạnh mối lo ngại về “tình hình tại Biển Hoa Đông, bao gồm cả khu vực xung quanh quần đảo Senkaku,” chuỗi đảo không có người ở do Nhật Bản kiểm soát nhưng bị Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền. Giới chuyên gia đều nhận định động thái tăng cường hợp tác quốc phòng giữa Jakarta và Tokyo cũng là nhằm chống lại sự bành trướng của Bắc Kinh.

Thứ ba, cả Indonesia và Nhật Bản đều đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật trong các hoạt động trên biển. Jakarta đã nhiều lần lên tiếng công khai phản đối yêu sách “đường chín đoạn” của Bắc Kinh ở Biển Đông, kể cả gửi công hàm lên Liên hợp quốc. Năm 2021, Tokyo cũng đã gửi công hàm lên Liên hợp quốc bác bỏ các yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông; ủng hộ phán quyết năm 2016 của Toà Trọng tài vụ kiện Biển Đông, kêu gọi các bên tuân thủ và thực thi phán quyết. Việc mở rộng hợp tác an ninh, quốc phòng giữa Indonesia và Nhật Bản có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo vệ trật tự dựa trên luật lệ ở Biển Đông. Indonesia là nước có vai trò quan trọng trong ASEAN, Nhật Bản là đối tác chiến lược toàn diện của ASEAN và có quan hệ chặt chẽ với tất cả các nước thành viên ASEAN. Việc tăng cường hợp tác giữa Jakarta và Tokyo sẽ tác động tích cực đối với việc củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong ASEAN trên vấn đề Biển Đông và các vấn đề an ninh khu vực, đồng thời góp phần thúc đẩy tiến trình ngoại giao, pháp lý ở Biển Đông mà các nước ASEAN đã nhất trí.

]]>
Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Nhật Bản tác động tích cực đối với Biển Đông https://biendong.net/2025/10/02/chien-luoc-an-do-duong-thai-binh-duong-cua-nhat-ban-tac-dong-tich-cuc-doi-voi-bien-dong/ Thu, 02 Oct 2025 03:17:00 +0000 https://biendong.net/?p=161758 Cuối tháng 4/2025, Thủ tướng Nhật Bản Shigeru Ishiba đã đến thăm Việt Nam và Philippines 4 ngày trong khuôn khổ “Tuần lễ Vàng” tại Nhật Bản. Tại 2 quốc gia Đông Nam Á này, Thủ tướng Shigeru Ishiba tái khẳng định sự nhất quán trong “Chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở” (FOIP) của đất nước mặt trời mọc, đồng thời cho thấy rõ ý nghĩa của Chiến lược này đối với việc duy trì hoà bình, ổn định ở Biển Đông nói riêng và khu vực nói chung.

Được xây dựng dưới thời chính quyền cố Thủ tướng Shinzo Abe cách đây hai thập kỷ, chiến lược ngoại giao và an ninh này không chỉ tồn tại qua 4 chính quyền, mà còn được tiếp tục phát triển và mở rộng qua mỗi nhiệm kỳ của các nhà lãnh đạo kế nhiệm của Nhật Bản. Trong kỷ nguyên bất ổn chiến lược gia tăng, sự nhất quán trong FOIP của Nhật Bản tiếp tục chứng minh ý nghĩa quan trọng của việc củng cố trật tự quốc tế dựa trên các quy tắc ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Nguồn gốc của FOIP bắt nguồn từ năm 2006 dưới thời chính quyền Shinzo Abe đầu tiên. Trong khi Nhật Bản đã triển khai các chính sách nhằm tang cường các mối quan hệ với khu vực vì mục đích kinh tế từ lâu đời, chính quyền của ông Abe đã nhận thấy sự cần thiết phải tích hợp một cách có chủ đích các công cụ sức mạnh của các quốc gia khác vào các nỗ lực của Tokyo, đặc biệt là trong các lĩnh vực ngoại giao và an ninh.

Quá trình phát triển chiến lược này là một quá trình lặp đi lặp lại. Bắt đầu là khái niệm “sự hợp lưu của hai vùng biển” mà chính quyền Abe nhấn mạnh đến sự kết nối về lợi ích và trách nhiệm giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, đã phát triển thành ý tưởng “Kim cương Thái Bình Dương”, xác định bốn điểm quan trọng trong khu vực: Quần đảo Hawaii (Mỹ), Nhật Bản, Úc và Ấn Độ. Chính quyền Abe hiểu được sự cần thiết phải hợp tác giữa các quốc gia này trong “Bộ tứ – QUAD”. Tuy nhiên, nỗ lực chiến lược đã bị đình trệ trong giai đoạn Nhật Bản đổi Thủ tướng liên tục bắt đầu vào năm 2007 và sau cú sốc chiến lược lớn từ thảm họa động đất – sóng thần – hạt nhân Fukushima vào năm 2011

Khi ông Abe trở lại nắm quyền vào năm 2012, chính quyền của ông đã khôi phục nỗ lực phát triển chiến lược khu vực này. Mặc dù chính phủ Nhật Bản đã bắt đầu triển khai chiến lược này trên thực tế sau khi Abe trở lại nắm quyền, nhưng tới năm 2016 mới chính thức được gọi là FOIP.

Về cơ bản, FOIP nhằm mục đích duy trì sự ổn định trong khu vực, duy trì chủ quyền của từng quốc gia, bảo vệ khỏi sự cưỡng ép, đồng thời đảm bảo duy trì các quy tắc làm nền tảng cho hệ thống quốc tế. Các cách thức để đạt được điều này rất rộng, bao gồm xây dựng năng lực đối tác, tham gia ngoại giao, hỗ trợ cơ sở hạ tầng, đầu tư trực tiếp nước ngoài, hỗ trợ phát triển và hợp tác an ninh, cùng nhiều biện pháp khác. Đây là một chiến lược mà Mỹ và các nước khác đã tiếp thu ít nhất ở một mức độ nào đó, không chỉ áp dụng tên gọi mà còn áp dụng các yếu tố khác của chiến lược.

Khi Abe từ chức Thủ tướng đã có một số câu hỏi đặt ra về việc điều gì sẽ xảy ra với FOIP vì các chính quyền mới thường có xu hướng thay đổi chính sách. Tuy nhiên, thay vì xóa bỏ chiến lược này, các Thủ tướng tiếp theo đã tiếp tục phát triển và hoàn thiện Chiến lược. Các nhà lãnh đạo tiếp theo của Nhật Bản Yoshihide Suga, Fumio Kishida và hiện tại là Ishiba đều tiếp tục ưu tiên chiến lược này. Kết quả là, Nhật Bản đã làm sâu sắc hơn và thể chế hóa mối quan hệ với các đối tác, cũng như kiềm chế tốc độ và tác động của ảnh hưởng tiêu cực trên khắp khu vực, có thể là từ Trung Quốc, Nga hoặc các nước khác.

Chuyến thăm gần đây nhất của Ishiba tới Việt Nam và Philippines là minh chứng cho cho sự phát triển liên tục trong việc triển khai chiến lược này của Nhật Bản ở khu vực. Tại Hà Nội, các nhà lãnh đạo Nhật Bản và Việt Nam đã kêu gọi thành lập cơ chế trao đổi chính sách đối ngoại và quốc phòng cấp thứ trưởng “2+2”. Hai bên đã thảo luận về các biện pháp ổn định thương mại và sản xuất trong khu vực trong bối cảnh bất ổn kinh tế xuất phát từ các quyết sách của Mỹ, cũng như việc chuyển giao thiết bị quốc phòng như một phần của khuôn khổ “Viện trợ An ninh chính thức – OSA” của Nhật Bản.


Chuyến thăm Philippines cũng có hiệu quả tương tự. Trong khi tập trung giải quyết các vấn đề như thương mại và công nghiệp, hai Chính phủ đã đồng thời nhất trí bắt đầu đàm phán về “Thỏa thuận mua lại và dịch vụ chéo ACSA” (một thỏa thuận nhằm cải thiện khả năng tương tác và hỗ trợ hậu cần lẫn nhau), đồng thời thúc đẩy việc ký kết “Thỏa thuận tiếp cận tương hỗ – RAA”. Được mô phỏng theo RAA Nhật Bản – Úc và Nhật Bản – Anh, thỏa thuận này sẽ bao gồm các quyền, nhiệm vụ và nghĩa vụ đối với Lực lượng vũ trang Philippines và Lực lượng phòng vệ Nhật Bản hoạt động trên lãnh thổ của nhau.
Giới chuyên gia nhận định sự nhất quán trong FOIP có ý nghĩa quan trọng bởi 2 lý do cơ bản sau:

Một là, để các chiến lược cấp quốc gia có hiệu quả, phải có sự liên tục trong quá trình thực hiện và cần có thời gian để hiện thực hóa. Chính phủ phải lập kế hoạch ngân sách cho chiến lược, phân công nhiệm vụ cho các cơ quan và nhân sự để thực hiện các sáng kiến và điều chỉnh các chính sách trong quá trình thực hiện dựa trên thành công hay thất bại. Đây là nỗ lực kéo dài nhiều năm và trở nên hiệu quả hơn khi các sáng kiến chiến lược bắt đầu phát huy tác dụng.

Quan điểm đó chắc chắn đúng với Nhật Bản và chiến lược này. Chẳng hạn như, Nhật Bản mất gần một thập kỷ để ký kết RAA đầu tiên với Úc, nhưng Nhật Bản đã sử dụng khuôn mẫu đó trong các cam kết của mình với Vương quốc Anh, Philippines và các nước khác. Hỗ trợ an ninh chính thức chưa phải là một chương trình được thể chế hóa cho đến năm 2022, nhưng hiện là trụ cột cho việc xây dựng năng lực đối tác của Nhật Bản trong khu vực.
Hai là, đây là giai đoạn bất ổn chiến lược ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Khi cạnh tranh giữa các cường quốc leo thang, chắc chắn sẽ có những tác động lan tỏa hơn nữa. Điều này đã diễn ra với sự gián đoạn đối với nền kinh tế toàn cầu thông qua các chính sách thương mại của Mỹ. Các vấn đề liên quan đến mạng lưới liên minh của Mỹ, tham vọng lãnh thổ của Trung Quốc và cuộc chiến tranh xâm lược của Nga với sự hỗ trợ của Triều Tiên càng làm gia tăng cảm giác khó lường.

Sự nhất quán của Nhật Bản trong cách tiếp cận chiến lược của mình lại có tác dụng ngược lại. FOIP góp phần vào sự ổn định, đặc biệt là đối với các quốc gia nhỏ hơn trong khu vực phụ thuộc vào hệ thống quốc tế về thương mại, an ninh và các vấn đề khác. Điều này đúng không chỉ vì Nhật Bản là một nền dân chủ tự do và tuân thủ luật pháp, quy tắc và chuẩn mực quốc tế, mà còn vì Nhật Bản có sức mạnh ngoại giao, an ninh và kinh tế để hỗ trợ. Sức mạnh tương đối và sự sẵn sàng sử dụng sức mạnh này theo những cách có lợi cho sự ổn định của khu vực tạo nên một “đê chắn sóng” chống lại những “con sóng” đã và sẽ tiếp tục dâng cao.

Sau khi nhậm chức tháng 10/2024, Thủ tướng Nhật Bản Shigeru Ishiba đã thực hiện chuyến công du nước ngoài đầu tiên tới 2 nước Đông Nam Á là Malaysia và Indonesia và tháng 01/2025 và đã đạt được nhất trí với lãnh đạo 2 quốc gia này về thúc đẩy an ninh khu vực dựa trên luật lệ, xây dựng chuỗi cung ứng mạnh mẽ; cùng phối hợp về các vấn đề khu vực và quốc tế, bao gồm vấn đề an ninh và hoà bình ở Biển Đông và Biển Hoa Đông. Đáng chú ý, tại Jakarta Thủ tướng Shigeru Ishiba và Tổng thống Indonesia Prabowo Subianto đã đồng ý thiết lập các cuộc tham vấn quốc phòng về an ninh hàng hải, trong đó có cả hợp tác kỹ thuật về thiết bị quốc phòng; Nhật Bản đồng ý cung cấp cho Indonesia 2 tàu tuần tra tốc độ cao thông qua Hỗ trợ an ninh chính thức.

Chuyến thăm Việt Nam và Philippines hồi cuối tháng 4 trùng vào tuần nghỉ lễ của Nhật Bản. Đáng chú ý điểm đến thăm là 2 quốc gia Đông Nam Á đang phải hứng chịu sự chèn ép, bắt nạt nhiều nhất từ chính sách hung hăng, bành trướng của Bắc Kinh. Chuyến đi mang tính biểu tượng về việc tăng cường hợp tác an ninh quốc phòng giữa Nhật Bản và 2 quốc gia này. Các hoạt động và kết quả của chuyến thăm là lời khẳng định rõ ràng rằng Nhật Bản sẽ tiếp tục can dự ngày càng sâu hơn vào Biển Đông và sẽ tiếp tục sát cánh cùng các nước này trong cuộc đối đầu với những thách thức từ Bắc Kinh.Trong 6 tháng kể từ khi nhậm chức, Thủ tướng Nhật Bản Shigeru Ishiba đã tới thăm 4 nước ven Biển Đông, trong đó có 3 nước liên quan trực tiếp tới tranh chấp Biển Đông và Indonesia không phải là một bên yêu sách, song cũng nhiều lần bị tàu chiến, tàu hải cảnh và tàu dân quân biển Trung Quốc xâm phạm quấy nhiễu hoạt động dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế xung quanh quần đảo Natuna. Điều này không chỉ thể hiện tính nhất quán trong chính sách của Tokyo đối với Biển Đông và Đông Nam Á mà còn khẳng định rõ vai trò quan trọng trong việc bảo vệ một Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở, giống như nước này đã làm trong thập kỷ qua.

Giới chuyên gia nhận định Biển Đông và Đông Nam Á luôn là một phần quan trọng hàng đầu trong trong FOIP của Nhật Bản và ngược lại Chiến lược ấy cũng luôn tác động tích cực tới Biển Đông, thể hiện trên một số điểm sau:

Thứ nhất, Nhật Bản đã làm rất nhiều trong suốt vài thập kỷ qua để xây dựng mối quan hệ sâu sắc hơn với các đối tác trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), nhất là các nước ven Biển Đông. Việc Tokyo tiếp tục phát huy vai trò trong thúc đẩy Chiến lược là yếu tố quan trọng để Nhóm Bộ Tứ (gồm Mỹ, Nhật, Úc, Ấn Độ) can dự sâu hơn vào Biển Đông nhằm duy trì trật tự dựa trên luật lệ.

Thứ hai, trong quá trình thúc đẩy Chiến lược, Nhật Bản tiếp tục mở rộng, tăng cường hợp tác an ninh quốc phòng với các nước ven Biển Đông như Philippines, Việt Nam, Indonesia, Malaysia…, giúp các nước này nâng cao năng lực của các lực lượng thực thi pháp luật. Điều này có ý nghĩa khích lệ các nước khác trong Nhóm Bộ Tứ và các nước châu Âu tăng cường hỗ trợ các nước ven Biển Đông trong việc đối phó với sự chèn ép, bắt nạt của Bắc Kinh.

Thứ ba, khi thúc đẩy Chiến lược, Nhật Bản sẽ đề cao tinh thần thượng tôn pháp luật để duy trì trật tự dựa trên luật lệ ở khu vực, trong đó có Biển Đông. Điều này sẽ tạo ra áp lực lớn đối với Bắc Kinh – kẻ luôn phá hoại và bất chấp luật pháp quốc tế. Năm 2021, Nhật Bản cũng đã gửi công hàm lên Liên hợp quốc bày tỏ quan điểm pháp lý trên các vấn đề tranh chấp ở Biển Đông và bác bỏ các yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông. Tính nhất quán trong FOIP của Nhật Bản góp phần thúc đẩy tiến trình pháp lý ở Biển Đông.

]]>
Thỏa thuận tiếp cận đối ứng Nhật – Phi, “sóng lớn” khiến Biển Đông thêm phần “chao đảo” https://biendong.net/2024/11/05/thoa-thuan-tiep-can-doi-ung-nhat-phi-song-lon-khien-bien-dong-them-phan-chao-dao/ Tue, 05 Nov 2024 01:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=140577 Ngày 08/7/2024, Nhật Bản và Philippines đã ký kết với nhau “Thỏa thuận tiếp cận đối ứng” (RAA) về quốc phòng. Sự kiện này liên tục thu hút sự quan tâm rất lớn cũng như đánh giá, bình luận của dư luận khu vực và thế giới.

Trong đó, đa số ý kiến đều thống nhất cho rằng, RAA ra đời không chỉ thể hiện mối quan hệ quốc phòng giữa hai nước đã nâng lên một tầm cao mới “chưa từng có”, mà điều sâu xa hơn, quan trọng hơn là: Cả Nhật Bản và Philippines đều muốn gửi đến Trung Quốc một “thông điệp” mạnh mẽ hơn, “nhắc nhở” và “cảnh báo” Bắc Kinh về những gì họ đã và đang thực hiện.

Đó là:

Thứ nhất, không xâm phạm lợi ích của Philippines và Nhật Bản ở Biển Đông

Với Nhật Bản, là quốc gia nằm ở Đông Bắc Á, có vùng biển riêng của mình là biển Nhật Bản và một phần biển Hoa Đông nhưng vẫn thuộc châu Á – Thái Bình Dương, nên quốc đảo này có lợi ích gắn chặt với Biển Đông về nhiều mặt, vì tuy Biển Đông nằm ở Đông Nam Á, nhưng nó lại kết nối gần như liền mạch với Đông Bắc Á và hình thành nên một khu vực biển Đông Á hoàn chỉnh.

Lẽ đương nhiên, Nhật Bản không có và không thể có tranh chấp gì về chủ quyền ở Biển Đông với các nước Đông Nam Á, nhưng Nhật Bản lại có nhiều lợi ích ở vùng biển này. Trước hết là về kinh tế và thương mại: Đây là tuyến đường biển vận tải hàng hóa quan trọng bậc nhất đối với Nhật Bản. Khoảng 42% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu của Nhật được vận chuyển đi qua vùng biển này, chủ yếu là các nguyên, nhiên liệu, đặc biệt là các loại nhiên liệu hóa thạch rất cần thiết cho việc đảm bảo ổn định nguồn năng lượng phục vụ cho sự phát triển của Nhật Bản. Nếu tuyến hàng hải cực kỳ nhộn nhịp ở Biển Đông bị cản trở hoặc tắc nghẽn, các tàu thuyền của Nhật Bản sẽ phải chuyển lộ trình sang eo biển Lombok và Đông Philippines, khi đó Tokyo phải mất thêm ít nhất là khoảng 700 triệu USD mỗi năm cho chi phí vận tải. Còn nếu như xảy ra xung đột tại Biển Đông, sẽ làm cho tất cả các tuyến hàng hải đi qua đây bị “đóng băng”, Nhật Bản phải bỏ ra thêm 50% chi phí vận tải để đi qua các tuyến đường thay thế khác.

Cùng với lợi ích về kinh tế và thương mại, lợi ích an ninh của Nhật Bản cũng chịu tác động không nhỏ từ khu vực Biển Đông. Tình hình an ninh Biển Đông ổn định thì Nhật Bản có lợi. Ngược lại, nếu xung đột, chiến tranh xảy ra ở đây, sẽ uy hiếp mạnh mẽ đến môi trường an ninh, ổn định và sự phát triển kinh tế của Nhật Bản. Do đó, giới lãnh đạo Nhật Bản đã nhiều lần nhấn mạnh quyết tâm đảm bảo trật tự hòa bình, không để xảy ra xung đột, luôn ủng hộ quan điểm giải quyết các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, dựa trên các quy định của luật pháp quốc tế. Thế nhưng, với tham vọng “làm chủ”, “độc chiếm” Biển Đông và cậy thế nước lớn, Trung Quốc đã bất chấp luật pháp quốc tế, dùng sức mạnh để “cưỡng chế”, hăm dọa, xâm phạm lợi ích không chỉ của các nước trong khu vực, mà còn của cả các nước ngoài khu vực, trong đó có Nhật Bản, nhất là các lợi ích về tự do hàng hải, hàng không. Biển Đông không còn là “chuyện riêng” giữa ASEAN với Trung Quốc nữa, mà đã trở thành vấn đề an ninh của toàn khu vực. Hiện nay, Nhật Bản đang có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc tại quần đảo Senkaku (Trung Quốc gọi là Điếu Ngư) trên biển Hoa Đông, song luôn nhận được sự ủng hộ của đồng minh số 1 là Mỹ. Để bảo vệ Nhật Bản, Mỹ đã nhiều lần cam kết sẽ áp dụng Điều 5 của Hiệp ước đồng minh giữa hai nước, trong đó có vấn đề Senkaku. Ngược lại, bên cạnh việc bảo vệ lợi ích của mình tại Biển Đông, Nhật Bản cũng có nghĩa vụ phối hợp với Mỹ tại vùng biển này để thể hiện mối quan hệ đồng minh gắn bó mật thiết và “đền đáp” lại cam kết trên của Mỹ, khi mà Mỹ đang triển khai ý đồ chiến lược tại Biển Đông. Việc ký kết RAA với Philippines là sự lựa chọn của Nhật Bản, vừa không chỉ thể hiện sự coi trọng quốc gia thân thiện “cùng chí hướng”, mà còn giúp Nhật Bản can dự sâu hơn vào Biển Đông, tạo thêm “động lực” cho Philippines chống lại Trung Quốc, qua đó góp phần bảo vệ các lợi ích của Tokyo cũng như của Mỹ tại vùng biển có giá trị vào loại bậc nhất thế giới này.

Với Phillippines, là quốc gia nằm ở trung tâm địa chiến lược của châu Á – Thái Bình Dương, có vị trí rất quan trọng ở Biển Đông, đã và đang đứng trước nhiều thách thức nghiêm trọng, nhất là về chủ quyền an ninh quốc gia bởi các hành động xâm lấn ngày càng trắng trợn hơn của Trung Quốc.

Từ đầu năm 2023 đến nay, các vụ “chạm trán” giữa Trung Quốc và Philiippines liên tục xảy ra. Nguyên nhân chủ yếu vẫn xoay quanh hoạt động tranh chấp chủ quyền giữa hai nước. Bên nào cũng có lý do và đều cho mình “là đúng” và ra sức bảo vệ cái đúng đó. Đáng chú ý là, được sự “hỗ trợ” từ Mỹ và một số nước đồng minh của Mỹ, Philippines ngày càng “tự tin” hơn và đã có sự điều chỉnh chính sách trong quan hệ với Trung Quốc, từ “hòa hoãn, hợp tác” sang “gia tăng đấu tranh, giảm bớt hợp tác”. Trong khi đó, phía Trung Quốc coi những việc làm của Manila trên Biển Đông, nhất là tại khu vực bãi Cỏ Mây là “phản bội thỏa thuận đã đạt được giữa hai nước” và “mang tính khiêu khích”, đồng thời đáp trả kiên quyết và “cứng rắn” hơn. Các vụ việc theo kiểu “ăn miếng, trả miếng” lẫn nhau, nhất là hoạt động phun vòi rồng với công suất lớn, chiếu tia laser “cấp độ quân sự”, đâm va của tàu Hải cảnh Trung Quốc đối với tàu tiếp tế của Philippines liên tục xảy ra. Điển hình nhất là ngày 17/6/2024, tàu Hải cảnh Trung Quốc và tàu tiếp tế của Philippines đã va chạm ở bãi Cỏ Mây. Vụ va chạm tuy không gây chết người hay làm hư hại nặng phương tiện của hai bên, nhưng theo tố cáo của Tổng Tư lệnh Quân đội Philippines Romeo Brawner thì: “Họ (Trung Quốc) đã nhảy lên tàu của chúng tôi một cách bất hợp pháp, cướp thiết bị của chúng tôi, hành động như cướp biển”. Đứng trước mối uy hiếp từ Trung Quốc, ngoài việc dựa vào đồng minh hiệp ước là Mỹ, Philiipines đã tập hợp thêm lực lượng, bằng cách mở rộng quan hệ với các nước trong và ngoài khu vực dưới các dạng thức khác nhau để tăng thêm “sức mạnh cứng” trong đối phó với Trung Quốc ở Biển Đông. Việc ký RAA, nâng cấp quan hệ quốc phòng với Nhật Bản chính là sự lựa chọn đó.

Ngoài ra, do cả Nhật Bản và Philippines đều là “đồng minh thân cận” của Mỹ ở khu vực. Do đó, việc hai nước nâng cấp hợp tác quân sự không chỉ có yếu tố Mỹ đứng sau thúc đẩy, mà còn cho thấy hai nước có ý đồ cùng nhất trí “bắt tay” chặt hơn với Mỹ để bao vây, kiềm chế Trung Quốc.

Thứ hai, quan hệ quốc phòng Nhật – Phi được tăng cường là nhằm đối phó với Trung Quốc ở Biển Đông

Dựa trên những lợi ích tương đồng, nên từ đầu thế kỷ XXI, Nhật Bản và Philippines đã thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ hợp tác chiến lược trên nhiều mặt, đặc biệt là về quốc phòng để đối phó với Trung Quốc. Cụ thể:

Dưới thời Tổng thống Gloria Macapagal Arroyo ở Philippines, hai nước đã thiết lập quan hệ đối tác hợp tác toàn diện. Sau khi Benigno Aquino III lên cầm quyền, mối quan hệ này phát triển nhanh chóng hơn, trong đó quốc phòng – quân sự trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng, thậm chí là động lực chính. Tháng 9/2011, hai bên tuyên bố nâng cấp quan hệ song phương thành đối tác chiến lược. Theo đó, hai nước tăng cường phối hợp giữa các cơ quan an ninh hàng hải với nhau, ví như Nhật Bản cử tàu tuần tra trên biển tới Philippines, hỗ trợ đào tạo và xây dựng năng lực cho Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines; tăng cường trao đổi giữa các cơ quan quốc phòng, như tổ chức các chuyến thăm lẫn nhau giữa Tham mưu trưởng Lực lượng phòng vệ trên biển Nhật Bản và Tư lệnh Hải quân Philippines, thúc đẩy tàu của Lực lượng phòng vệ trên biển Nhật Bản đến thăm các cảng của Philippines.

Tháng 6/2015, hai nước ký Tuyên bố chung về tăng cường quan hệ đối tác chiến lược, trong đó làm rõ hơn các hoạt động mà Philippines và Nhật Bản có thể cùng thực hiện trong tương lai trên Biển Đông, như tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, đối thoại an ninh, xây dựng năng lực, diễn tập chung, hợp tác an ninh trên biển, chống cướp biển và cướp có vũ trang trên biển…Trong thời gian này, Philippines đã ký hợp đồng mua 10 tàu tuần tra của Nhật Bản cho Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines. Sau khi Rodrigo Duterte nhậm chức Tổng thống Philippines, mặc dù quan hệ quân sự của Phi với Mỹ có thời điểm rơi vào căng thẳng, nhưng Manila vẫn duy trì và tăng cường hợp tác quốc phòng – quân sự với Nhật Bản.

Trước các diễn biến an ninh trên Biển Đông ngày càng phức tạp, hợp tác quốc phòng Nhật – Phi được thúc đẩy mạnh hơn, các cơ chế hợp tác liên quan dần được hoàn thiện. Đối thoại an ninh 2+2 giữa Bộ trưởng Ngoại giao và Quốc phòng, Hội nghị Thứ trưởng Quốc phòng, Đối thoại an ninh hàng hải và Đối thoại quốc phòng thường niên… là các cơ chế quan trọng của hợp tác song phương đã hoạt động. Ngoài ra, Nhật Bản và Philippines còn sử dụng các cơ chế đa phương như Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng và Hội nghị quốc phòng Tokyo để tiến hành trao đổi song phương. Nội dung và hình thức hợp tác quốc phòng cũng dần được đa dạng hóa. Nhật Bản cung cấp cho Philippines các trang thiết bị quân sự như tàu tuần tra, máy bay huấn luyện, máy bay vận tải. Hai bên còn mở rộng không gian hợp tác trong việc chia sẻ thông tin tình báo, huấn luyện chung và tàu thăm viếng lẫn nhau. Bên cạnh đó, hai nước còn triển khai nhiều cuộc tập trận chung. Tháng 5/2015, Nhật – Phi đã tiến hành diễn tập chung về tránh va chạm ngoài ý muốn trên biển. Tháng 6 cùng năm, hai nước lại tổ chức cuộc tập trận quân sự chung, Nhật Bản điều máy bay tuần tra P-3C đến cảng Puerto Princesa thuộc đảo Palawan, phía Tây Philippines. Tháng 4/2016, Nhật Bản lần đầu tiên làm quan sát viên, tham gia cuộc tập trận chung Balikatan giữa Mỹ và Philippines. Những năm gần đây, tần suất các cuộc tập trận song phương và đa phương giữa Nhật Bản và Philippines ngày càng tăng.

Từ đầu năm 2023 đến nay, tình hình an ninh trên Biển Đông diễn ra rất phức tạp. Trung Quốc liên tục gây hấn với Philippines ở bãi Cỏ Mây. Để “răn đe” và “kiềm chế” Trung Quốc, Nhật Bản và Philippines triển khai mạnh hơn các hoạt động quân sự – quốc phòng. Tháng 11/2023, Mỹ và Philippines phối hợp với Nhật Bản và Hàn Quốc tiến hành cuộc tập trận Kamandag-7 (Hợp tác chiến binh trên biển) tại các “cứ điểm chiến lược” của Philippines, như quần đảo Batanes gần Đài Loan và đảo Palawan gần Biển Đông. Tháng 4/2024, Nhật Bản và Philippines phối hợp với Mỹ và Australia tổ chức cuộc diễn tập “hoạt động hợp tác hàng hải” đầu tiên tại vùng đặc quyền kinh tế của Philippines. Tháng 6/2024, các tàu của Mỹ, Nhật Bản, Philippines và Canada thực hiện các hoạt động hợp tác hàng hải ở Biển Đông.

Những hoạt động trên cho thấy, quan hệ quốc phòng giữa hai nước ngày càng thắt chặt và mục tiêu hướng đến là ngăn chặn các hành động phi pháp của Trung Quốc trên Biển Đông. Thế nhưng đây chỉ là những hoạt động ở mức độ thông thường, một số cuộc tập trận quân sự dù đã diễn ra, song chưa đủ độ để có thể “răn đe” và ứng phó kịp thời với sự biến động nhanh chóng, khó lường của môi trường an ninh khu vực.

Ngày 8/7/2024, RAA đã được ký kết, nhưng hai nước không công bố thông tin chi tiết về nội dung. Điều đó cho thấy thỏa thuận này có một số yếu tố nhạy cảm nhất định, đặt trong bối cảnh tình hình Biển Đông và biển Hoa Đông có nhiều diễn biến phức tạp, mà nguyên nhân chủ yếu là do các hoạt động phi pháp của Trung Quốc gây ra. Tuy nhiên, từ một số thông tin mà Bộ Ngoại giao Nhật Bản tiết lộ cho thấy: Mặc dù không phải là hiệp định phòng thủ quân sự chung vì không có các điều khoản ràng buộc quân đội hai nước phải hỗ trợ lẫn nhau hay cùng tham chiến khi xảy ra chiến tranh, nhưng cái mà RAA tạo ra được bước “đột phá”, mang tính nhảy vọt về cả “lượng” và “chất” trong quan hệ quốc phòng hai nước lại thể hiện ở chỗ, RAA sẽ thiết lập các điều kiện “thuận lợi đặc biệt” cho lực lượng quân đội mỗi nước khi đến hoạt động tại địa phận của nhau và thúc đẩy các hoạt động hợp tác, như các hoạt động tập trận quân sự chung; cứu trợ thiên tai chung; tăng tính tương tác giữa quân đội hai nước; tạo điều kiện thuận lợi cho Nhật Bản tham gia cuộc tập trận Balikatan tới đây với tư cách là thành viên chính thức. Trong tương lai, khi RAA có hiệu lực thực thi, thì bằng các hoạt động thực tế, thỏa thuận này sẽ giúp Nhật Bản mở rộng quan hệ với các nước, lan tỏa sức mạnh quân sự của nước này ra toàn khu vực, đưa Nhật Bản từ một “quốc gia bình thường” trở thành “nước lớn thế giới”; góp phần bảo vệ tuyến hàng hải huyết mạch trên Biển Đông; hỗ trợ, tạo thêm “điểm tựa” mới cho Philippines trong đối phó với Trung Quốc; tạo “chỗ đứng” mới cho Nhật Bản trong việc phối hợp với Mỹ về giải quyết vấn đề Eo biển Đài Loan. Còn đối với Philippines, lợi ích mà RAA đưa đến cho nước này là có thêm cơ hội nâng cao sức mạnh quân sự. Bởi Nhật Bản không chỉ gia tăng các hoạt động tập trận quân sự, tuần tra chung, mà còn cung cấp nhiều hơn nữa cho Philippines các loại vũ khí, trang bị như tàu tuần tra, máy bay chiến đấu, hệ thống ra đa giám sát biển… Mặt khác, cả Nhật Bản và Philippines đều là đồng minh của Mỹ, nên sự ra đời của RAA không chỉ là bước “đột phá” trong quan hệ song phương Nhật – Phi, mà còn là bước tiến mới nhanh chóng của liên minh Mỹ – Nhật – Phi vừa hình thành hồi tháng 4/2024 – một “tiểu liên minh” nằm ở vị trí trung tâm trong hệ thống liên minh ở khu vực dưới sự dẫn dắt của Mỹ để bao vây, kiềm chế Trung Quốc một cách kín kẽ hơn.

Một số tác động đối với an ninh khu vực có khả năng sẽ xuất hiện trong tương lai

Về mặt tích cực: Trước hết là khi RAA ra đời, sẽ giúp giảm đi sự mất cân bằng lực lượng tại khu vực, qua đó góp phần duy trì ổn định an ninh Biển Đông. Bởi lẽ, trong cạnh tranh địa chính trị ở Biển Đông hiện nay, có hai đối tượng chính chi phối độ “nóng, lạnh” về an ninh ở đây là Trung Quốc và Mỹ cùng đồng minh của Mỹ. Nhưng do Mỹ và đồng minh Nhật Bản ở cách xa nhau về địa lý nên gặp nhiều hạn chế trong sự bố trí, hiện diện về lực lượng ở Biển Đông. RAA ra đời sẽ tạo cơ sở cho Nhật Bản tăng thêm sự hiện diện của Lực lượng phòng vệ nước này ngay trong khu vực để phối hợp triển khai các hoạt động hợp tác quân sự song phương Nhật – Phi và đa phương cùng Mỹ và các nước khác tại Philippines. Thỏa thuận này cũng có thể mở ra nhiều hoạt động hợp tác, như phát triển hệ thống phòng thủ, hậu cần, huấn luyện, tập trận quân sự… qua đó nâng cao năng lực của Philippines và khả năng phối hợp tác chiến giữa ba nước Mỹ – Nhật – Phi khi có tình huống xấu xảy ra. Hiện nay, Nhật Bản là một trong những đối tác chủ chốt cung cấp trang thiết bị bảo đảm an ninh trên biển cho Philippines. Năm 2020, Nhật Bản đã ký hợp đồng cung cấp 4 hệ thống ra đa phòng không cho Philippines, trong đó hai hệ thống đã bàn giao năm 2023 và 2024. RAA sẽ tạo cơ sở và động lực thúc đẩy sự tương tác, tin cậy lẫn nhau và hợp tác mạnh mẽ hơn giữa Quân đội hai nước, mở ra nhiều cơ hội để tiếp tục hiện đại hoá năng lực quốc phòng của Philippines. Sự lớn mạnh hơn của Quân đội Philippines, cùng với đó là sự có mặt nhiều hơn của Mỹ, Nhật ở khu vực chắc chắn sẽ buộc Trung Quốc phải suy nghĩ và điều chỉnh hoạt động của mình ở Biển Đông, vùng biển này vì thế có thể “lặng sóng” hơn.

Tiếp theo là tăng tính “tiết chế’ và “răn đe” nhiều hơn đối với các hoạt động phi pháp của Trung Quốc ở Biển Đông. Xét về tổng thể, RAA giữa Nhật Bản và Philippines là một mắt lưới nhỏ trong mạng lưới hợp tác quân sự đa phương của Mỹ với các đồng minh và giữa các đồng minh của Mỹ với nhau tại khu vực Biển Đông và Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Tuy nhiên, trước khi Nhật Bản và Philippines ký RAA, Philippines đã ký Hiệp định Lực lượng thăm viếng (VFA) với Mỹ năm 1998, Hiệp định Tình trạng Lực lượng thăm viếng (SOVFA) với Australia vào năm 2017, nâng cấp Thỏa thuận tăng cường hợp tác quốc phòng với Mỹ (EDCA) năm 2023. Còn Nhật Bản đã ký RAA với Australia và Anh vào năm 2022 và 2023. Tất cả những văn kiện có tính pháp lý đó sẽ cho phép các nước nói trên gia tăng phối hợp các hoạt động trên Biển Đông để không chỉ bảo vệ lợi ích của các nước, mà còn có thể “tiết chế” bớt phần nào các hành động phi pháp của Trung Quốc ở Biển Đông.

Về mặt tiêu cực: Một là, RAA giữa Nhật Bản và Philippines ra đời có thể đẩy tình hình an ninh khu vực nói chung, Biển Đông nói riêng diễn biến phức tạp hơn. Bởi vì, việc Nhật Bản gia tăng sự hiện diện ở Philippines nói riêng, Biển Đông nói chung đặt trong bối cảnh Mỹ đã triển khai nhiều hệ thống vũ khí, khí tài ở khu vực, nên sẽ tác động đến các toan tính, chính sách của các chủ thể khác trong khu vực; Philippines sẽ có sự “tự tin” và mạnh dạn hơn khi triển khai các hành động mạo hiểm ở Biển Đông. Trong bối cảnh đó, Trung Quốc nhiều khả năng sẽ coi đây là những nỗ lực mới của Mỹ và đồng minh để bao vây, kiểm soát nước này, do đó Bắc Kinh sẽ phản ứng bằng cách tiếp tục hành xử “cứng rắn” hơn ở Biển Đông đối với lực lượng đồn trú của Philippines tại bãi Cỏ Mây, xung quanh khu vực bãi cạn Scaroborough và bãi cạn Sabin – nơi mà gần đây Trung Quốc có ý định xây dựng đảo nhân tạo. Điều này sẽ làm cho an ninh khu vực vốn đã phức tạp lại càng diễn biến phức tạp, khó lường hơn.

Hai là, có thể đẩy khu vực vào cuộc chạy đua vũ trang mới. Kể từ đầu năm 2024 đến nay, Biển Đông đã chứng kiến nhiều diễn biến mới phức tạp và căng thẳng, chủ yếu giữa một bên là Trung Quốc và một bên là Philippines và các đồng minh của họ. Đứng trước nguy cơ bất ổn địa – chính trị có thể xảy ra, các nước ASEAN buộc phải, hoặc là chọn tham gia các liên minh “mini” ở khu vực, hoặc là xây dựng mối “đoàn kết” với nhau theo “sách lược mới”, hoặc là tìm kiếm sự đảm bảo an ninh cho mình bằng cách nhanh chóng nâng cao năng lực quân sự – quốc phòng. Trong các lựa chọn đó, việc mở rộng, nâng cấp vũ khí, trang thiết bị quân sự để nâng cao năng lực quân sự – quốc phòng cho đất nước có lẽ là sách lược quan trọng nhất sẽ được các quốc gia sử dụng để “tự cứu lấy mình trước khi thiên hạ cứu”. Cuộc chạy đua vũ trang lấy tăng cường sức mạnh quân sự của lực lượng hải quân và không quân làm nội dung chính, cùng với đó là các cuộc tập trận quân sự song phương và đa phương có qui mô ngày càng lớn hơn, sẽ trở thành xu thế lan rộng ở Đông Nam Á trong thời gian tới.

Ba là, củng cố xu hướng quốc tế hóa vấn đề Biển Đông và hình thành các phe phái an ninh đối chọi nhau ở khu vực. Việc Philippines và Nhật Bản đạt được RAA là một phần trong kế hoạch của Philippines nhằm xây dựng mạng lưới quan hệ đối tác với các quốc gia “cùng chung chí hướng”. Ngoài một số hiệp định, thỏa thuận đã ký với Mỹ, Nhật Bản, Australia, Anh…gần đây Philippines đang đẩy nhanh việc mở rộng quan hệ an ninh với nhiều nước hơn để tăng cường sự hỗ trợ của quốc tế về vấn đề Biển Đông. Sau khi ký RAA với Nhật Bản, Tổng thống Philippines Marcos Jr. cho biết: “Việc ký một thỏa thuận như vậy với Nhật Bản là chưa đủ. Chúng ta cần ký những thỏa thuận kiểu này với nhiều quốc gia hơn”. Philippines đang nghiên cứu để đạt được RAA hoặc các thỏa thuận tương tự với Pháp, Canada và New Zealand. Những biện pháp này sẽ khiến cho xu thế quốc tế hóa vấn đề Biển Đông tăng lên, có thể hình thành một “vòng tròn” nhỏ kích động đối đầu phe phái ở khu vực nói chung, Biển Đông nói riêng. Có thể nói, RAA giữa Nhật Bản và Philippines ra đời rất nhanh, từ khi khởi động cho đến khi ký kết, thời gian chỉ diễn ra trong vòng một năm, nhanh hơn nhiều so với các RAA khác mà Nhật Bản ký với các nước khác. Đây là bước “đột phá” nhanh “đáng kinh ngạc” trong hợp tác quốc phòng giữa hai nước. Philippines muốn mở rộng hợp tác an ninh với Nhật Bản để tăng cường năng lực nhằm bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông trước áp lực ngày càng lớn từ phía Trung Quốc. Trong khi đó, Nhật Bản cần mở rộng hợp tác an ninh ra khu vực Biển Đông, rộng hơn là khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương để triển khai các chiến lược an ninh của mình. Do hai nước cùng là đồng minh của Mỹ, nên việc tăng cường hợp tác quân sự giữa họ cũng sẽ phục vụ cho các hoạt động hợp tác an ninh của cả ba nước trong khu vực. Việc RAA Nhật – Phi ra đời có thể tạo ra sự cân bằng lực lượng mới, ở mức độ nào đó góp phần làm “dịu hơn” tình hình an ninh Biển Đông. Tuy nhiên, đây là một thỏa thuận về quân sự, ra đời vào lúc Biển Đông đang “nổi sóng”, đối đầu nhiều hơn đối thoại. Nó cũng là cơ sở pháp lý cho phép nhiều loại vũ khí, trang thiết bị quân sự được “đổ dồn” về Biển Đông. Điều đó cho thấy, Thỏa thuận trên có thể mang đến một số mặt tích cực nào đó cho an ninh khu vực, nhưng mặt tiêu cực thì chắc chắn sẽ nhiều hơn và lớn hơn. Một số chuyên gia Biển Đông của Trung Quốc đã cảnh báo chính phủ nước này rằng, Nhật Bản có thể gây thêm nhiều “rắc rối” hơn ở Biển Đông sau khi ký RAA với Philippines, do đó Trung Quốc phải suy nghĩ, nhận thức rõ ràng về “mối đe dọa” này, đồng thời xem xét lại tổng thể các chính sách ngắn hạn và dài hạn để có biện pháp đối phó mạnh mẽ và hiệu quả hơn. Biển Đông vì thế nhiều khả năng lại “chao đảo” trước nhiều “sóng lớn”.

]]>
Phân tích quan điểm của Nhật Bản với Biển Đông https://biendong.net/2024/10/08/phan-tich-quan-diem-cua-nhat-ban-voi-bien-dong/ Tue, 08 Oct 2024 01:18:00 +0000 https://biendong.net/?p=140160 Quan điểm xuyên suốt của Nhật Bản đối với vấn đề Biển Đông là duy trì hòa bình, ổn định và đảm bảo an ninh tự do hàng hải, hàng không quốc tế; các tranh chấp cần được giải quyết bằng biện pháp hoà bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS); Nhật Bản phản đối hành vi thay đổi nguyên trạng, lên án các hành động hung hăng bắt nạt các nước láng giềng ven Biển Đông của Trung Quốc.

Nhật Bản thể hiện rõ tinh thần thượng tôn pháp luật trên vấn đề Biển Đông. Ngay sau khi Toà Trọng tài Thường trực (PCA) ra phán quyết về Biển Đông tháng 7/2016, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nhật Bản Fumio Kishida khi đó đã ra tuyên bố, khẳng định phán quyết của PCA là cuối cùng và mang tính ràng buộc pháp lý, các bên liên quan phải tuân thủ phán quyết này. Ngoại trưởng Kishida nêu rõ: “Nhật Bản kiên định ủng hộ việc tôn trọng quy định luật pháp và sử dụng các biện pháp hòa bình, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong giải quyết các tranh chấp trên biển”. Trong cuộc hội đàm với Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị bên lề Hội nghị AMM 49 tháng 7/2016, Ngoại trưởng Nhật Bản Fumio Kishida đã hối thúc Bắc Kinh chấp nhận và tuân thủ phán quyết của PCA, tránh những hành động có thể làm leo thang căng thẳng tại vùng biển tranh chấp.

Tinh thần thượng tôn pháp luật còn được thể hiện trong công hàm của Nhật Bản gửi lên Liên hợp quốc tháng 1/2021, trong đó Nhật Bản nêu rõ quan điểm pháp lý của mình trên các vấn đề liên quan ở Biển Đông; bác bỏ yêu sách về “đường chin đoạn” của Trung Quốc ở Biển Đông và một lần nữa khẳng định giá trị pháp lý của phán quyết năm 2016 về Biển Đông, kêu gọi Trung Quốc tôn trọng và thực thi phán quyết. Nhật Bản cũng ủng hộ xây dựng một Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (COC) hiệu lực, hiệu quả và phù hợp với UNCLOS.

Nhật Bản luôn ủng hộ việc thúc đẩy quốc tế hóa vấn đề Biển Đông: Thực tế cho thấy, Nhật Bản đã đưa ra lời kêu gọi các bên thực hiện nghiêm quyền tự do hàng hải, hàng không trên Biển Đông; ủng hộ việc đưa nội dung vấn đề Biển Đông vào các hội nghị của ASEAN và các diễn đàn đa phương khác, kể cả tại Liên hợp quốc. Trong những chuyến thăm đến các nước ASEAN, lãnh đạo Nhật Bản đều chủ động thảo luận các vấn đề tự do hàng hải, hàng không và an ninh Biển Đông. Trong quan hệ ngoại giao với một số nước có liên quan đến tranh chấp chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán trên Biển Đông với Trung Quốc như Philippines, Việt Nam, Malaysia…, Nhật Bản kêu gọi xây dựng mạng lưới quan hệ với mắt xích là vấn đề biển. Nhật Bản luôn chủ động thảo luận với lãnh đạo các nước Mỹ, Úc, Anh, Pháp, Ấn Độ… về vấn đề Biển Đông trong các cuộc gặp song phương, 3 bên hoặc 4 bên (nhóm “Bộ Tứ”).

Nhật Bản tích cực hỗ trợ các nước ven Biển Đông như Việt Nam, Philippines, Malaysia… nâng cao năng lực thực thi pháp luật trên biển thông qua các hình thức như cung cấp tàu tuần tra, trang thiết bị tăng cường khả năng cảnh báo trên biển, giúp các nước này xây dựng lực lượng tiền duyên kiềm chế Trung Quốc. Nhật Bản thông qua các khoản viện trợ ODA để hỗ trợ các nước này nâng cao khả năng phòng thủ trên biển. Năm 2022, Nhật Bản thành lập khuôn khổ hỗ trợ an ninh chính thức (OSA) để hỗ trợ các thiết bị quân sự cho các nước đối tác. Các nước ven Biển Đông như Malaysia, Philippines, Việt Nam đã lần lượt được đưa vào danh sách hỗ trợ trong khuôn khổ OSA năm tài khoá 2023 và 2024 của Nhật Bản. Giới phân tích quân sự nhận định khiến cùng với việc nới lỏng quy định cấm xuất khẩu vũ khí, việc thành lập OSA giúp Nhật Bản có thể chuyển giao trang bị quân sự thuận tiện hơn cho các nước ven Biển Đông.

Nhật Bản chủ động thúc đẩy hợp tác an ninh quốc phòng song phương với Philippines và Việt Nam – 2 nước có tranh chấp lớn nhất với Trung Quốc ở Biển Đông. Với Việt Nam, năm 2021 Tokyo đã ký với Hà Nội thỏa thuận chuyển giao thiết bị và công nghệ quốc phòng. Trong chuyến thăm Việt Nam của Bộ trưởng Kihara tháng 8/2024, Nhật Bản đã quyết định chuyển giao 2 xe vận chuyển vật liệu đa năng cho phía Việt Nam, đây là dự án đầu tiên trong khuôn khổ thỏa thuận chuyển giao thiết bị và công nghệ quốc phòng giữa hai nước.  Tháng 11/2023, Nhật Bản đã nâng cấp quan hệ với Việt Nam lên thành đối tác chiến lược toàn diện, tạo điều kiện cho hai bên làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác quốc phòng, an ninh để đối phó với các thách thức trên biển.

Với Philippines, ngày 08/07/2024, Manila và Tokyo đã ký kết Thỏa thuận tiếp cận đối ứng (RAA)- một thoả thuận quốc phòng quan trọng, cho phép triển khai quân đội mỗi bên tại quốc gia đối tác ký kết, tạo điều kiện cho Nhật Bản có thể cùng Philippines tiến hành diễn tập, tuần tra chung. Giới quan sát nhận định bằng cách tiếp cận này, Tokyo có thể can dự sâu hơn vào Biển Đông.

Nhật Bản phối hợp chặt chẽ với Mỹ trong khuôn khổ đồng minh quân sự để can dự vào Biển Đông, ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc, bảo vệ tự do và an ninh hàng hải, hàng không ở Biển Đông. Nhật Bản còn cùng Mỹ và Philippines tăng cường hợp tác 3 bên, tháng 4/2023 Nhật Bản đã tham gia cuộc họp thượng đỉnh đầu tiên Philippines-Mỹ-Nhật Bản do Mỹ tổ chức để thắt chặt hơn nữa quan hệ quân sự với tư cách 2 đồng minh quan trọng của Mỹ ở khu vực. Khuôn khổ hợp tác 3 bên đối phó với thách thức từ Trung Quốc ở Biển Đông, Nhật Bản chia sẻ trách nhiệm với Mỹ trong việc hỗ trợ cho Philippines nâng cao năng lực phòng thủ và năng lực quản lý trên biển, chẳng hạn như: Mỹ chịu trách nhiệm cung cấp vũ khí, trang bị cho lực lượng vũ trang Philippines, Nhật Bản cung cấp trang bị cho lực lượng chấp pháp bảo vệ bờ biển Philippines.

Tokyo còn tăng cường sự hiện diện ở Biển Đông thông qua việc tàu chiến của Nhật Bản thường xuyên ghé thăm cảng các nước ven Biển Đông, kể cả những nơi mang tính nhạy cảm cao như tàu chiến và tàu ngầm Nhật Bản đã nhiều lần cập cảng tại vịnh Subic của Philippines-nơi trước đây từng là căn cứ quân sự của Mỹ; tàu chiến Nhật Bản cũng nhiều lần ghé thăm cảng Cam Ranh của Việt Nam, một cảng nước sâu đã từng là quân cảng của Mỹ dưới thời chính quyền Việt Nam Cộng hoà và là căn cứ đóng quân của Liên Xô những năm 80 của Thế kỷ trước. Bên cạnh đó, Nhật Bản nhiều lần tiến hành diễn tập chung song phương với Philippines, Malaysia, Singapore, Indonesia…. Thời gian gần đây, Nhật Bản còn tiến hành các cuộc tập trận chung với Mỹ, Úc ở Biển Đông

Giới quan sát có chung nhận định quan điểm của Nhật Bản trên vấn đề Biển Đông là đồng nhất với quan điểm của các nước nhỏ ven Biển Đông; những hỗ trợ của Nhật Bản đối với các nước ven Biển Đông có ý nghĩa quan trọng giúp các nước này nâng cao năng lực quản lý và thực thi pháp lý trên biển để đối phó với sự hung hăng ngày càng gia tăng của Trung Quốc. Nhìn chung, việc Nhật Bản sâu hơn vào Biển Đông là có lợi cho các nước nhỏ ven Biển Đông và trở thành yếu tố quan trọng ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông.

Vậy điều gì khiến Nhật Bản có quan điểm khách quan và tích cực trên vấn đề Biển Đông? Chúng ta có thể chỉ ra 2 một điểm chính sau:

Một là, Nhật Bản cũng là nạn nhân của chủ nghĩa bành trướng, bá quyền Bắc Kinh. Nhật Bản có tranh chấp với Trung Quốc ở Biển Hoa Đông mà cụ thể là quần đảo Senkaku/Điều Ngư đang do Nhật Bản quản lý. Trên thực tế, những gì các nước ven Biển Đông phải gánh chịu từ sự hung hăng của Bắc Kinh thì Nhật Bản cũng phải chịu đựng. Trung Quốc đẩy mạnh chiến thuật “vùng xám” không chỉ ở Biển Đông mà cả ở Biển Hoa Đông và Eo biển Đài Loan. Tàu hải cảnh, tàu dân quân biển của Trung Quốc cũng thường xuyên xâm nhập trái phép vùng biển của Nhật Bản như họ thường xuyên làm với các nước ven Biển Đông. Máy bay quân sự Trung Quốc cũng thường xuyên xâm phạm vùng trời của Nhật Bản như họ vẫn hoành hành ở Biển Đông. Bắc Kinh cũng gây sức ép với Tokyo về chủ trương “cùng khai thác” như họ đang làm với các nước ven Biển Đông. Giới chuyên gia nhận xét rằng từ những điều kể trên có thể thấy Nhật Bản và các nước ven Biển Đông trở thành “đồng minh tự nhiên” trong cuộc đối đầu với sự bành trướng của Bắc Kinh.

Các nhà phân tích chiến lược cho rằng nếu Trung Quốc khống chế, kiểm soát, thống trị được Biển Đông thì họ sẽ rảnh tay để triển khai các hành động hung hăng gây hấn với Nhật Bản ở Biển Hoa Đông. Dù không liên quan trực tiếp tới tranh chấp Biển Đông, song Nhật Bản nhận thức rõ nếu để Biển Đông rơi vào tay Trung Quốc thì sẽ rất bất lợi cho Tokyo đối đầu với Bắc Kinh ở Biển Hoa Đông. Mục tiêu chiến lược của Nhật Bản là hình thành thế phối hợp tác chiến hai cánh Biển Đông và Biển Hoa Đông nhằm hạn chế tối đa những hành động hung hăng của Trung Quốc ở Biển Hoa Đông. Khi phải cùng lúc đối phó trên 2 mặt trận Biển Đông và Biển Hoa Đông, Trung Quốc sẽ phải phân tán lực lượng khiến sức mạnh của Bắc Kinh giảm đi.

Hai là, với tiềm lực kinh tế của mình, Nhật Bản muốn nâng cao hơn nữa vị thế vai trò của mình ở khu vực. Can dự sâu vào Biển Đông giúp Tokyo tăng cường ảnh hưởng trong khu vực, nâng cao vai trò của Nhật Bản trong vấn đề an ninh khu vực. Hỗ trợ các nước ven Biển Đông về kinh tế và an ninh sẽ tạo hình ảnh của nước Nhật Bản yêu chuộng hoà bình đối lập hoàn toàn với một Trung Quốc hung hăng, hiếu chiến, luôn cưỡng ép, bắt nạt láng giềng. Qua đó, Nhật Bản có thể xây dựng được hình ảnh nước lớn ở khu vực.

Mục tiêu của Nhật Bản là phát huy vai trò nước lớn của khu vực trong các vấn đề an ninh của khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do, rộng mở. Để đạt được điều đó trước mắt Nhật Bản phải có vai trò, vị thế lớn hơn ở Đông Nam Á, trong đó có Biển Đông. Tăng cường ảnh hưởng của Nhật Bản ở Đông Nam Á thông qua việc hỗ trợ các nước ven Biển Đông cũng đồng nghĩa với việc hạn chế, ngăn chặn Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng ở khu vực.

Mặt khác, là một đồng minh quan trọng của Mỹ trong khu vực, Nhật Bản có trách nhiệm chia sẻ “gánh nặng” với Mỹ. Can dự sâu hơn vào Biển Đông nghĩa là hỗ trợ Mỹ triển khai chiến lược kiềm chế, ngăn chặn Trung Quốc ở khu vực. Việc Nhật Bản phối hợp với Philippines hay Úc (hai đồng minh của Mỹ ở khu vực) trong các hoạt động tuần tra, diễn tập ở Biển Đông là những hoạt động cụ thể đồng hành cùng Mỹ thúc đẩy chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Trong cuộc cạnh tranh địa chính trị ngày càng gay gắt giữa Mỹ – Trung ở Biển Đông và trong khu vực, Washington cần sự hỗ trợ từ Nhật Bản và các đồng minh khác. Giới chuyên gia nhận định so với Mỹ thì Nhật Bản ít nhạy cảm hơn trong hợp tác an ninh quốc phòng với các nước Đông Nam Á, nhất là với các nước ven Biển Đông. Đây là lý do tại sao hợp tác an ninh trên biển với Nhật Bản dễ được các nước ven Biển Đông đón nhận hơn. Hỗ trợ các nước ven Biển Đông nâng cao khả năng phòng thủ và quản lý biển là đóng góp thiết thực của Nhật Bản vào thực hiện cam kết đồng minh Nhật-Mỹ ở khu vực. Chúng ta tin rằng trước sự hung hãn của Trung Quốc ở Biển Đông thì sắp tới đây sẽ còn nhiều hơn nữa các hoạt động song phương và đa phương giữa Nhật Bản với Mỹ và các đồng minh ở Biển Đông. Đây là điều mà các nước ven Biển Đông đang rất cần để đối phó với sự hung hăng của Bắc Kinh. Hy vọng với việc ông Ishiba Shigeru, cựu Bộ trưởng Quốc phòng – một nhân vật được coi là có quan điểm cứng rắn trong đối đầu với Trung Quốc, trở thành Thủ tướng Nhật Bản, Tokyo sẽ phối hợp chặt chẽ hơn nữa với các nước ven Biển Đông để ngăn cản sự bành trướng của Bắc Kinh ở Biển Đông cũng như Biển Hoa Đông.

]]>
Điều gì thôi thúc Mỹ, Nhật nâng cấp hợp tác an ninh? https://biendong.net/2024/06/24/dieu-gi-thoi-thuc-my-nhat-nang-cap-hop-tac-an-ninh/ Mon, 24 Jun 2024 01:15:00 +0000 https://biendong.net/?p=131236 Thủ tướng Nhật Bản Kishida Fumio đã chính thức công du Mỹ từ ngày 9/4 và nhận được sự tiếp đón long trọng của nước chủ nhà. Tổng thống Mỹ Joe Biden đã mở quốc yến ở Nhà Trắng để chiêu đãi ông Fumio Kishida, đồng thời mời ông phát biểu trước quốc hội. Ông Kishida là thủ tướng thứ hai của Nhật Bản nhận được vinh dự đặc biệt này sau cựu Thủ tướng Shinzo Abe. Một kết quả quan trọng trong chuyến thăm của ông Kishida là việc nâng cấp quan hệ đồng minh Mỹ-Nhật cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.

Sau cuộc hội đàm tại Washington ngày 10/4/2024, Tổng thống Mỹ Joe Biden và Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida đã ra Tuyên bố chung với tên gọi “Chúc mừng thời đại mới của hợp tác chiến lược Mỹ-Nhật”, trong đó nhấn mạnh các giải pháp tăng cường hợp tác quốc phòng an ninh song phương, với những câu từ mang nặng hàm ý đối phó với Trung Quốc. Trong tuyên bố chung, hai bên cho biết các động thái của Nhật Bản nhằm tăng cường cấu trúc và khả năng phòng thủ đã mở ra “một kỷ nguyên mới của hợp tác an ninh Mỹ-Nhật”; đồng thời nhấn mạnh mục tiêu xây dựng mối quan hệ đối tác an ninh toàn cầu Mỹ-Nhật “phù hợp với mục đích” nhằm giải quyết những thách thức phức tạp và có liên kết với nhau; hai bên cho biết kế hoạch nâng cấp các khuôn khổ chỉ huy và kiểm soát quân sự của họ sẽ cho phép khả năng tương tác và lập kế hoạch tốt hơn trong thời bình cũng như trong các cuộc xung đột. Theo tơ Nikkei Asia, trong thời gian chuyến thăm 2 bên ký hơn 70 thỏa thuận hợp tác an ninh, quốc phòng.

US President Joe Biden and First Lady Jill Biden welcome Japan’s Prime Minister Fumio Kishida and his spouse Yuko Kishida at the South Portico of the White House in Washington, DC, on April 9, 2024. (Photo by ANDREW CABALLERO-REYNOLDS / AFP) (Photo by ANDREW CABALLERO-REYNOLDS/AFP via Getty Images)

Tổng thống Biden nhấn mạnh cam kết vững chắc của Mỹ trong việc bảo vệ Nhật Bản bằng cách sử dụng đầy đủ các khả năng bao gồm cả năng lực hạt nhân. Theo đó, Tổng thống Joe Biden tái khẳng định căn cứ theo Điều 5 của Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ-Nhật, Washington sẵn sàng huy động tất cả sức mạnh hiện có, bao gồm cả sức mạnh về hạt nhân, để bảo vệ sự an toàn cho Tokyo. Về phần mình, Fumio Kishida cũng tái khẳng định sự nhất quán của Nhật Bản trong việc tăng cường sức mạnh và khả năng phòng vệ của bản thân, đồng thời căn cứ vào hiệp ước này để phối hợp chặt chẽ với Mỹ.

Ông Joe Biden tái khẳng định rằng Điều 5 của Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ-Nhật được áp dụng đối với cả quần đảo Senkaku (mà Trung Quốc gọi là Điếu Ngư). Hai bên Mỹ-Nhật phản đối mạnh mẽ việc Trung Quốc đơn phương sử dụng phương thức đe dọa vũ lực để thay đổi hiện trạng tại Biển Hoa Đông, bao gồm cả hành động phá hoại sự quản lý hòa bình và ổn định lâu dài của Nhật Bản đối với quần đảo nói trên.

Lãnh đạo hai nước Mỹ-Nhật đã tuyên bố kế hoạch nâng cấp khung kiểm soát và chỉ huy của mỗi bên để tăng cường hợp nhất cả năng lực và hành động, cho phép nâng cao hơn nữa khả năng tương tác giữa quân đội Mỹ và Nhật Bản. Các bên cũng tái khẳng định mục tiêu tăng cường hơn nữa các hoạt động hợp tác tình báo, theo dõi, trinh sát và chia sẻ thông tin, trong đó nội dung cụ thể của kế hoạch hợp tác sẽ thảo luận và đề xuất qua cơ chế đối thoại an ninh 2+2 (quốc phòng và ngoại giao) Mỹ-Nhật. Hai bên cũng tăng cường thế trận liên minh, đi sâu hợp tác để phát triển và sử dụng hiệu quả khả năng phản công của Nhật Bản, bao gồm cả việc cung cấp nguyên vật liệu và sự hỗ trợ từ Washington để tăng cường khả năng tác chiến tại chỗ của Tokyo. Mỹ cam kết khởi động công tác cải tạo và huấn luyện để giúp Nhật Bản làm chủ khả năng điều khiển hệ thống tên lửa Tomahawk; tiếp tục theo đuổi Chương trình đánh chặn giai đoạn lượn (GPI) để đối phó với các mối đe dọa của vũ khí siêu thanh tại khu vực.

Hai bên tuyên bố sẽ tiến hành hợp tác xây dựng mạng lưới phòng không giữa Mỹ, Nhật Bản và Australia; tiếp tục tiến hành các cuộc diễn tập quân sự thường niên Mỹ-Nhật-Hàn; từ năm 2025 trở đi bắt đầu định kỳ tổ chức diễn tập quân sự ba bên Mỹ-Anh-Nhật; tìm kiếm cơ hội hợp tác về máy bay chiến đấu và tự động hóa trên cơ sở triển khai hợp tác máy bay không người lái ba bên Mỹ-Nhật-Australia. Hai bên tái khẳng định tầm quan trọng của viêc tiếp tục mở rộng khả năng răn đe của Mỹ dưới sự hỗ trợ của Nhật Bản, đồng thời tăng cường hơn nữa hợp tác giữa hai bên trong vấn đề này. Theo đó, các Bộ trưởng ngoại giao và Bộ trưởng quốc phòng hai nước sẽ thảo luận sâu hơn về việc phối hợp mở rộng khả năng răn đe của Mỹ tại kỳ Đối thoại an ninh 2+2 tới đây.

Trong chuyến thăm Mỹ, hôm 11/04/2024, Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida, đã có bài phát biểu trước các nghị sĩ Mỹ tại điện Capitol, Washington. Ông  Kishida nhấn mạnh đến tầm quan trọng của Washington đối với các vấn đề trên toàn cầu vào thời điểm căng thẳng gia tăng ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Thủ tướng Kishida cũng nhấn mạnh đến những giá trị của cam kết mà Washington đã đưa ra đối với an ninh toàn cầu và khẳng định Tokyo là một đối tác mạnh mẽ luôn sát cánh cùng Washington. Ông Fumio Kishida đề cao vai trò “anh cả” của Mỹ trên toàn cầu kể từ khi Chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc. Sau khi thả hai quả bom nguyên tử xuống Nhật Bản để chấm dứt chiến tranh, Mỹ đã giúp tái thiết xứ hoa anh đào và hai quốc gia đang từ kẻ thù không đội trời chung trở thành những đồng minh thân thiết. Ông Kishida cho rằng “Mỹ đã có những hy sinh cao cả để thực hiện cam kết vì một thế giới tốt đẹp hơn”.

 Theo giới phân tích, mặc dù không đề cập nhiều đến Trung Quốc, nhưng nội dung tuyên bố chung của lãnh đạo các nước Mỹ-Nhật lại mang nặng hàm ý răn đe Bắc Kinh. Mỹ và Nhật Bản đã trực tiếp công khai chống lại Trung Quốc khi khẳng định sự phản đối mạnh mẽ mọi nỗ lực thay đổi hiện trạng bằng vũ lực hoặc áp bức, bao gồm cả hành động gây bất ổn tại Biển Đông. Vậy điều gì thôi thúc Mỹ, Nhật nâng cấp quan hệ an ninh, quốc phòng vào thời điểm hiện nay được các nhà phân tích mổ sẻ.

Trước hết, giới quan sát nhận định sự hung hăng ngày càng leo thang của Trung Quốc ở Biển Đông, Biển Hoa Đông và Eo biển Đài Loan chính là yếu tố thôi thúc Mỹ, Nhật nâng cấp quan hợp tác an ninh. Trong những năm gần đây, Trung Quốc không ngừng gia tăng các hành vi gây hấn, cho máy bay tàu chiến thường xuyên vượt qua Eo biển Đài Loan để bao vây, đe dọa Đài Loan; các tàu hải cảnh và tàu dân quân biển của Trung Quốc cũng không ngừng quấy nhiễu phu các tàu công vụ đang làm nhiệm vụ tiếp tế của Philippines ở khu vực Bãi Cỏ Mây. Các tàu Trung Quốc nhiều lần phun vòi rồng, đâm va gây thương tích cho thủy thủ trên tàu Philippines. Những hành vi này của Trung Quốc không chỉ tạo ra mối nguy cơ lớn đối với an ninh của Philippines, Đài Loan và các nước ven Biển Đông mà còn đe dọa lợi ích của Mỹ, Nhật và các nước trong và ngoài khu vực. Trong bối cảnh đó, Mỹ và Nhật Bản nhận thây cần phải nâng cấp hợp tác an ninh giữa hai nước để ngăn chặn.

Thứ hai, Nhật Bản không chỉ có nhận thức chung với Mỹ về nguy cơ từ Trung Quốc và trên các vấn đề an ninh khu vực mà còn có cùng lập trường lập trường pháp lý với Mỹ và các nước nhỏ trong khu vực liên quan đến các yêu sách phi lý và hành động ngang ngược của Trung Quốc ở Biển Đông. Theo đó, Nhật Bản ủng hộ việc duy trì nguyên trạng và trật tự dựa trên pháp luật ở Biển Đông, Biển Hoa Đông hay Eo biển Đài Loan. Tiếp theo việc Mỹ gửi công hàm lên Liên hợp quốc và ra Tuyên bố bày tỏ quan điểm pháp lý về các tranh chấp ở Biển Đông (vào giữa năm 2020), Nhật Bản đã gửi công hàm lên Liên hợp quốc vào đầu năm 2021 bác bỏ các yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông và ủng hộ phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài vụ kiện Biển Đông. Giới chuyên gia nhận định tinh thần thượng tôn phát luật, bảo vệ nguyên trạng và thúc đẩy một trật tự dựa trên luật lệ ở khu vực, trong đó có Biển Đông là yếu tố kết dính Tokyo với Washington trong cuộc đối đầu với Trung Quốc ở Biển Đông và trong khu vực.

Ngoài ra, trong tính toán của chính quyền Tổng thống Mỹ Biden, tăng cường hợp tác quân sự và an ninh quốc phòng với chính quyền Thủ tướng Kishida cũng là cách để trấn an phần nào các đồng minh của Mỹ và đối tác trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, bao gồm các nước ASEAN trước khả năng Nhà Trắng đổi chủ sau bầu cử tổng tổng thống vào tháng 11 tới. Một số chuyên gia cho rằng những tuyên bố về nâng cấp hợp tác an ninh Mỹ-Nhật đạt được trong chuyến thăm của Thủ tướng Kishida khó có thể đảo ngược cho dù sau bầu cử ông chủ Nhà Trắng là ai. Việc Washington tổ chức cuộc gặp thượng đỉnh 3 bên Mỹ-Nhật Bản-Philippines lần đầu tiên ngay trong thời gian ông Kishida thăm Mỹ cùng nằm trong tính toán này.

Điều đáng chú ý là trong chuyến thăm, hai nhà lãnh đạo Mỹ và Nhật đã trao đối về khả năng Nhật Bản tham gia vào “Trụ cột 2” (về hợp tác công nghệ cao) của Thỏa thuận an ninh chung 3 bên giữa Australia, Anh và Mỹ (AUKUS), ngay sau đó Hàn Quốc cũng bày tỏ hoan nghênh liên minh an ninh AUKUS và sẵn sàng hợp tác  với AUKUS ở các lĩnh vực chiến lược.

Thứ ba, một ưu điểm của Nhật Bản mà Mỹ muốn khai thác để tạo thế trong cuộc cạnh tranh với Trung Quốc ở Biển Đông và trong khu vực là uy tín của Tokyo đối với các đối tác Đông Nam Á và cả ở châu Đại Dương. Nhật Bản là một nhà tài trợ lớn, là một nguồn đầu tư quý giá giúp nhiều quốc gia Đông Nam Á phát triển. Theo thăm dò gần đây do Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS-Yusof Ishak) có trụ sở tại Singapore thực hiện, Tokyo được xem là một “đối tác đáng tin cậy” và trong 6 năm liên tiếp uy tín của Nhật Bản lớn hơn so với của Mỹ hay Trung Quốc tại khu vực này.

Nhật Bản liên tục mở rộng quan hệ từ ngoại giao đến kinh tế, quân sự với Ấn Độ, Australia, và với nhiều quốc gia Đông Nam Á như Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia…. Trong những năm qua, Nhật Bản đã tích cực giúp các nước ven Biển Đông nâng cao lực lượng chấp pháp trên biển. Do vậy, Nhật Bản là một trong những nơi mà tân Tổng thống Indonesia Prabowo Subianto vừa đến thăm. Dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Kishida, Nhật Bản đã xóa bỏ những hiềm khích từ quá khứ lịch sử với Hàn Quốc vì mục tiêu “an ninh chung trong khu vực”. Trước những lợi thế như vậy của Nhật Bản, việc Mỹ trông cậy nhiều hơn vào đối tác chiến lược này là điều dễ hiểu, nhất là trong trường hợp xảy ra xung đột vũ trang ở Eo biển Đài Loan hay Biển Đông, Nhật Bản trong thế “tiền đồn” với 54.000 lính Mỹ đang trú quân sẽ hỗ trợ Washington triển khai lực lượng quân sự ở khu vực.

Kể từ khi áp dụng chiến lược an ninh quốc gia mở rộng hơn vào năm 2022, chính phủ của Thủ tướng Kishida đã thực hiện những bước đi táo bạo để đẩy nhanh việc xây dựng quân đội của Nhật Bản. Ông hy vọng sẽ chứng tỏ Tokyo có khả năng nâng cao hợp tác an ninh với Mỹ. Ông Kishida đã cam kết tăng gấp đôi chi tiêu quốc phòng và tăng cường răn đe chống lại Trung Quốc; đã mua 400 phi đạn hành trình tầm xa Tomahawk của Mỹ để có được khả năng “phản công” trong bối cảnh đối mặt với mối đe dọa từ Trung Quốc. Bắc Kinh như ngồi trên đống lửa trước những diễn biến mới của mối quan hệ đồng minh quân sự Mỹ-Nhật. Ngày 11/4, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Mao Ninh nói trong cuộc họp báo: “Phớt lờ những lo ngại nghiêm trọng của Trung Quốc, Mỹ và Nhật Bản đã bôi nhọ và tấn công Trung Quốc về vấn đề Đài Loan và hàng hải, can thiệp vào công việc nội bộ của Trung Quốc, vi phạm nghiêm trọng các chuẩn mực cơ bản chi phối quan hệ quốc tế”. Bà Mao Ninh cho hay, Trung Quốc rất không hài lòng và kiên quyết phản đối việc Mỹ – Nhật Bản nâng cấp quan hệ quốc phòng và cho rằng: “Mối quan hệ Mỹ – Nhật Bản không nên nhắm mục tiêu hoặc gây tổn hại đến lợi ích của các nước khác và không nên làm suy yếu hòa bình và ổn định trong khu vực”. Phản ứng của Trung Quốc là dễ hiểu bởi việc nâng cấp quan hệ quân sự giữa Washington và Tokyo với 70 thỏa thuận liên quan chính là nhằm ngăn chặn mối đe dọa từ Bắc Kinh. Thủ tướng Kishida từng phát biểu: “Trung Quốc là mối đe dọa an ninh hàng đầu”. Động thái mới này cho thấy Mỹ và Nhật Bản đang nâng cấp quan hệ đồng minh quân sự để chống lại những gì họ coi là mối đe dọa ngày càng tăng từ Trung Quốc tại các khu vực bao gồm Biển Đông, Biển Hoa Đông và Eo biển Đài Loan.

]]>
Philippines và Nhật Bản gia tăng hợp tác an ninh biển nhằm ứng phó với thách thức từ TQ https://biendong.net/2023/02/07/philippines-va-nhat-ban-gia-tang-hop-tac-an-ninh-bien-nham-ung-pho-voi-thach-thuc-tu-tq/ Tue, 07 Feb 2023 02:40:00 +0000 https://biendong.net/?p=105022 Từ 8-13/2/2023, Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr đã công du Nhật Bản nhằm tìm kiếm sự cân bằng chiến lược sau khi thăm Trung Quốc đầu tháng 1/2023.

Trong 6 năm dưới thời cựu Tổng thống Rodrigo Duterte, người vốn có lập trường thân Bắc Kinh, quan hệ giữa Philippines với Mỹ xảy ra nhiều trục trặc và quan hệ giữa Philippines-Nhật Bản cũng không mấy sáng sủa. Từ khi Tổng thống Marcos Jr. lên cầm quyền, chính sách đối ngoại của chính quyền Manila đã chuyển sang trang mới. Giới quan sát ghi nhận nhiều dấu hiệu cho thấy Tokyo và Manila đang xích lại gần nhau. Những thỏa thuật đạt được giữa Manila và Tokyo trong chuyến thăm vừa qua của ông Marcos là dấu hiệu rõ rệt nhất thể hiện tầm quan trọng của Tokyo đối với Manila trong cả phát triển kinh tế và bảo vệ chủ quyền, an ninh biển đảo quốc gia dưới thời của tân Tổng thống Marcos Jr.

Tại cuộc hội đàm ngày 9/2 giữa Thủ tướng Fumio Kishida và Tổng thống Marcos Jr., lãnh đạo 2 nước đã đạt được một số kết quả cụ thể: Tokyo cam kết viện trợ 600 tỷ Yen (tương đương hơn 4,5 tỷ USD) cho Manila trong 2 năm, tiếp tục đẩy mạnh đối thoại song phương về quốc phòng và ngoại giao, đẩy nhanh tốc độ đàm phán Hiệp định Tiếp cận tương hỗ (RAA), cho phép triển khai quân trên lãnh thổ của nhau trong các chương trình tập luyện… Tổng thống Philippines còn nói thêm việc ký kết một Thỏa thuận Thăm viếng Quân sự (VFA) với Nhật Bản để Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản có thể tham gia các cuộc tập trận chung ở Philippines “đáng được suy nghĩ kỹ lưỡng”.

Thỏa thuận quốc phòng được nhà lãnh đạo Philippines Marcos và Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida ký kết sẽ cho phép quân đội Nhật Bản tham gia các cuộc tập trận ứng phó với thiên tai và hỗ trợ nhân đạo ở Philippines. Đây được coi là một bước tiến tới hợp tác quân sự quy mô hơn và có thể mở đường cho thỏa thuận tương tự giữa Nhật Bản và các quốc gia Đông Nam Á khác. Tokyo có những hiệp ước tương đương với Australia và Anh, đồng thời cũng là nơi tập trung lực lượng lớn nhất của Mỹ ở nước ngoài. Sự hiện diện quân sự của Nhật Bản ở Philippines có thể giúp Manila chống lại ảnh hưởng của Trung Quốc ở Biển Đông, nơi Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền phần lớn, chồng lấn cả các yêu sách lãnh thổ của Manila.

Theo Tuyên bố chung được đưa ra trong chuyến thăm, 2 nhà lãnh đạo đã “quyết tâm” tăng cường năng lực phòng thủ quốc gia và củng cố hợp tác an ninh tổng thể thông qua các chuyến thăm viếng, chuyển giao thêm thiết bị và công nghệ quốc phòng. Tuyên bố cũng nhắc đến kế hoạch Nhật Bản chuyển giao các hệ thống radar giám sát trên không cho Philippines và cung cấp chương trình đào tạo liên quan. Nhật Bản cũng đã đồng ý cung cấp một gói viện trợ quốc phòng mới và các hình thức khác của các chương trình chuyển giao thiết bị quốc phòng như tàu tuần tra dài 97 mét do Nhật Bản sản xuất và các khí tài quân sự để có thể giúp nâng cao khả năng an ninh hàng hải của Philippines trong tương quan với Trung Quốc. Nhật Bản cũng sẽ hỗ trợ phát triển một căn cứ hậu cần của Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines, vốn “có thể đóng vai trò là nơi đặt và lắp đặt hệ thống liên lạc vệ tinh trên các tàu tuần tra”.

Giới phân tích nhận định những kết quả đạt được trong hợp tác quốc phòng và an ninh trên biển giữa Tokyo và Manila lần này là sự tiếp nối những kết quả  cuộc đối thoại an ninh 2+2 đầu tiên giữa các Bộ trưởng Quốc phòng và Ngoại giao hai nước được tổ chức trong năm 2022, theo đó các bộ trưởng nhất trí thúc đẩy quan hệ quốc phòng giữa hai nước. Nhằm làm sâu sắc thêm hợp tác an ninh quốc phòng giữa hai nước, Tổng thống Marcos và Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida đã nhất trí sẽ thường xuyên tổ chức các cuộc đối thoại cấp cao Ngoại giao và Quốc phòng 2+2 và Đối thoại Chiến lược cấp Thứ trưởng và Đối thoại Chính trị-Quân sự giữa Tokyo và Manila.

Mặc dù không nhắc đích danh Trung Quốc, song Tuyên bố chung Nhật Bản-Philippines nhấn mạnh lãnh đạo 2 nước “bày tỏ quan ngại nghiêm trọng về tình hình ở Biển Hoa Đông và Biển Đông, phản đối mạnh mẽ các hành động vũ lực hoặc cưỡng ép có thể làm gia tăng căng thẳng”. Thủ tướng Kishida và Tổng thống Marcos cũng nhất trí tăng cường an ninh mạng và an ninh kinh tế, xác nhận Nhật Bản sẽ tiếp tục hỗ trợ lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines trong việc củng cố năng lực, bao gồm cả kế hoạch cải thiện các cơ sở cảng tại Vịnh Subic, căn cứ hải quân cũ của Mỹ.

Trong cuộc họp báo chung, Thủ tướng Kishida nhấn mạnh Nhật Bản và Philippines là “hai nước láng giềng có biển bao quanh, là hai đối tác chiến lược cùng chia sẻ một số giá trị”, ngụ ý cả hai cùng là những nền dân chủ và cùng là đồng minh thân thiết của Mỹ. Về phía Philippines, Tổng thống Marcos Jr. ghi nhận quan hệ đối tác song phương “mạnh mẽ hơn bao giờ hết khi mà đôi bên cùng hội cùng thuyền”. Tránh nêu đích danh Trung Quốc, nhưng trong thông cáo chung, lãnh đạo hai nước cùng bày tỏ “quan ngại sâu sắc về tình hình tại Biển Đông và biển Hoa Đông”, Tokyo và Manila mạnh mẽ chống lại “mọi hành vi sử dụng sức mạnh hay mang tính hù dọa làm dấy lên căng thẳng” tại Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Vậy điều gì đã gắn kết quan hệ giữa Philippines với Nhật Bản? Giới phân tích đều cho rằng những điểm tương đồng, nhất là những lợi ích chung nhằm đối phó với đối tượng chung trở thành chất keo gắn kết quan hệ giữa hai nước, thậm chí có ý kiến còn cho rằng Nhật Bản và Philippines là các đồng minh tự nhiên trong bối cảnh căng thẳng ở khu vực ngày càng gia tăng.

Một là, cả Nhật Bản và Philippines là hai quốc gia duyên hải, được bao bọc tứ phía bởi đại dương do vậy vấn đề phòng thủ trên biển chiếm một vai trò quan trọng trong chính sách an ninh của hai nước. Philippines hồi tháng 1 vừa qua đã đề nghị Tokyo hỗ trợ để trang bị thêm 5 tàu tuần tra loại lớn, bổ sung cho đội tàu 12 chiếc hiện nay, tăng cường khả năng phòng thủ cho các lượng lực tuần duyên Philippines ở Biển Đông.

Hai là, mỗi bên là đối tượng tranh chấp về lãnh thổ, vùng biển của Trung Quốc: Đối với Nhật Bản là quần đảo Senkaku/Điếu Ngư trong vùng biển Hoa Đông nơi Trung Quốc thường xuyên cho tàu hải cảnh, tàu dân quân biển xâm nhập trái phép vùng biển xung quanh quần đảo Senkaku đang do Nhật Bản quản lý. Còn về phía Philippines, Trung Quốc duy trì hàng ngày tàu hải cảnh, tàu dân binh, tàu cá tại vùng biển xung quanh các cấu trúc mà Philippines quản lý. Bên cạnh đó, Phippines luôn bị Trung Quốc o ép, cản trở các hoạt động bình thường trên biển. Cả Nhật Bản và Philippines đều đang cùng phải đối phó với những thách thức từ chiến lược “vùng xám” của Trung Quốc.

Ba là Nhật Bản nằm sát ngay phía Bắc Đài Loan qua eo biển Miyako; Philippines nằm kề bên Đài Loan ở phía Nam qua eo biển Ba Sĩ cả 2 đều nằm án ngữ con đường hàng hải từ eo biển Đài Loan tiến ra Thái Bình Dương. Đây là 2 cửa ngõ chiến lược tàu chiến của Trung Quốc vươn ra Tây Thái Bình Dương. Đài Loan, nằm giữa Nhật Bản và Philippines, thời gian gần đây đã trở thành tâm điểm của các hoạt động quân sự ngày càng gia tăng của Trung Quốc. Cả Manila lẫn Tokyo cùng rất quan ngại về tình hình ngày càng nóng lên ở eo biển Đài Loan bởi nếu Bắc Kinh tấn công quân sự Đài Loan, chiến tranh nổ ra sẽ tác động trực tiếp tới an ninh của Nhật Bản và Philippines.

Bốn là, cả Nhật Bản và Philippines đều là đồng minh quân sự quan trọng của Mỹ ở khu vực, cùng là những mắt xích quan trọng trong chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Washington. Điều này khiến Tokyo và Manila dễ dàng đối thoại và xích lại gần nhau. Mặt khác, cả Philippines và Nhật Bản đều cố gắng tránh đối đầu trực diện với Trung Quốc. Tuy trông cậy nhiều vào Mỹ về mặt an ninh, nhưng về ngoại giao, cả Nhật Bản lẫn Philippines cùng khéo léo tìm một thế cân bằng giữa Washington và Bắc Kinh. Đơn giản bởi vì Trung Quốc là một đối tác kinh tế và thương mại quá lớn của cả Tokyo lẫn Manila.

Năm là, chính mục tiêu tìm thế đứng cân bằng trong quan hệ với Bắc Kinh và Washington là động lực thôi thúc Manila và Tolyo xích lại gần nhau hơn. Sau những diễn biến trong quan hệ giữa Philippines với Mỹ và Trung Quốc kể từ khi ông Marcos lên cầm quyền, giới chuyên gia nhận định Tổng thống Marcos có xu hướng “ngả” về phía Mỹ nhưng không quá đáng như cố Tổng thống Benigno Aquino. Đương kim Tổng thống Philippines cũng không quá thân thiện với Trung Quốc như người tiền nhiệm Rodrigo Duterte. Lập trường này cho thấy Manila “có cùng một tần sóng” với Tokyo.

Những điểm tương đồng kể trên chính là chất keo kết dính khiến mối quan giữa Manila và Tokyo ngày càng trở nên bền vững bởi trên nguyên tắc cả hai bên đều cần đến nhau trong một môi trường khu vực hết sức phức tạp hiện nay. Sự hiện diện quân sự của Nhật Bản ở Philippines là yếu tố quan trọng có thể giúp Marcos chống lại ảnh hưởng của Trung Quốc ở Biển Đông. Trong bối cảnh Bắc Kinh ngày càng hung hăng trong các hành động bắt nạt, cưỡng chế, xâm lấn nhằm thúc đẩy các yêu sách chủ quyền phi lý của họ ở Biển Đông, tạo ra những thách thức lớn chưa từng có đối với chính quyền Manila. Do vậy, việc Tổng thống Marcos tìm cách gia tăng hợp tác quân sự và an ninh trên biển với Nhật Bản là bước đi đúng đắn và là sự lựa chọn phù hợp nhằm thực hiện điều mà chính ông Marcos đã từng tuyên bố “sẽ không để mất một tấc lãnh thổ nào” và “sẽ tiếp tục duy trì chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mình theo hiến pháp và luật pháp quốc tế”.

Việc tăng cường hợp tác quốc phòng và an ninh trên biển giữa Philippines và Nhật Bản không chỉ có lợi cho riêng Manila và Tokyo mà còn tác động tích cực đến cục diện Biển Đông nói chung bởi Nhật Bản có quan hệ tốt với các nước ven Biển Đông khác và cả khối ASEAN. Quan điểm của Nhật Bản về các vấn đề liên quan ở Biển Đông là rõ ràng, năm 2021, Nhật Bản đã gửi công hàm lên Liên hợp quốc bác bỏ các yêu sách phi lý của Trung Quốc ở Biển Đông và bày tỏ lập trường chính thức của Nhật Bản về các vấn đề liên quan đến tranh chấp Biển Đông.

Tokyo luôn nhận thức rõ ràng rằng việc ngăn chặn Trung Quốc bành trướng, thôn tính Biển Đông cũng là một biện pháp quan trọng gián tiếp ngăn chặn sự hung hăng của Trung Quốc ở biển Hoa Đông. Chính quyền Tokyo và giới chuyên gia Nhật Bản cùng chia sẻ chung một quan điểm là cần thắt chặt quan hệ an ninh với các quốc gia “có cùng mối bận tâm Trung Quốc”. Điều này chính là động lực thôi thúc Nhật Bản tăng cường quan hệ với các nước ven Biển Đông, trong đó có Philippines. Việc Nhật Bản thắt chặt quan hệ quốc phòng và an ninh biển với Philippines có thể trở thành nền tảng để Tokyo đẩy mạnh quan hệ hợp tác biển với các nước ven Biển Đông khác và cả khối ASEAN. Đây là điều tốt đối với cục diện Biển Đông nói chung và với các nước ven Biển Đông nói riêng trước những thách thức ngày càng lớn từ sự bành trướng của Bắc Kinh ở Biển Đông. Trong bối cảnh cạnh tranh Mỹ – Trung trên Biển Đông và trong khu vực ngày càng gay gắt, việc Nhật Bản can dự ngày càng nhiều vào Biển Đông là điều quan trọng đối với an ninh khu vực.

]]>
Mối quan hệ “bán liên minh” Australia – Nhật và hệ lụy đối với Biển Đông https://biendong.net/2022/11/07/moi-quan-he-ban-lien-minh-australia-nhat-va-he-luy-doi-voi-bien-dong/ Mon, 07 Nov 2022 04:13:19 +0000 https://biendong.net/?p=95957 Ngày 22/10/2022, Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida đã có chuyến thăm thành phố Perth trên bờ biển phía Tây của Australia gặp người đồng cấp Anthony Albanese. Đây là cuộc gặp trực tiếp lần thứ tư của hai nhà lãnh đạo trong chưa đầy 5 tháng kể từ khi ông Anthony Albanese nhậm chức Thủ tướng Australia hôm 23/5/2022.

Hai nội dung chính được thảo luận là: (i) vấn đề Australia cung cấp năng lượng cho Nhật Bản sau những tác động tiêu cực của cuộc chiến ở Ukraine đối với nguồn cung năng lượng của thế giới; (ii) thúc đẩy hợp tác an ninh song phương trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng hung hăng đe dọa an ninh khu vực.

Sau cuộc gặp, hai bên đã ký một thỏa thuận an ninh song phương mới liên quan tới hợp tác trong các lĩnh vực quân sự, tình báo và an ninh mạng nhằm đối phó với các thách thức an ninh đặt ra từ sự quyết đoán ngày càng tăng của Trung Quốc. Tuyên bố hợp tác an ninh đầu tiên được ký cách đây 15 năm (năm 2007) vào thời điểm sự trỗi dậy của Trung Quốc ít được quan tâm hơn. Do vậy, Tuyên bố 2007 tập trung nhiều hơn vào các vấn đề an ninh phi truyền thống như khủng bố, phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, các mối quan tâm về an ninh con người như cứu trợ thảm họa và đại dịch….

Sau 15 năm, môi trường an ninh ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đã thay đổi đáng kể. Dựa trên những quan ngại chung, Tuyên bố mới nhằm ứng phó với những thách thức địa chính trị do Trung Quốc đặt ra và tăng cường hợp tác quân sự dựa trên Thỏa thuận tiếp cận đối ứng (RAA) mà Thủ tướng Kishida đã ký với nhà lãnh đạo Australia lúc đó là Scott Morrison hồi tháng 1/2022, nhằm loại bỏ những trở ngại đối với việc tổ chức các cuộc tập trận chung ở cả hai quốc gia.

Đây là thỏa thuận đầu tiên thuộc dạng này mà Nhật Bản ký với một quốc gia khác ngoài Mỹ. Thỏa thuận đã nâng hợp tác quân sự 2 nước lên một cấp độ mới, có ý nghĩa chiến lược đối với không chỉ mối quan hệ song phương Canberra-Tokyo, mà còn là động lực an ninh rộng lớn hơn ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Phát biểu sau lễ ký, Thủ tướng Albanese cho biết “đây là một tuyên bố mang tính bước ngoặt, gửi một tín hiệu mạnh mẽ đến khu vực về liên kết chiến lược của hai nước”. Về phần mình, Thủ tướng Kishida nói rằng quan hệ đối tác đã “nâng lên một tầm cao mới” đáp ứng “môi trường chiến lược ngày càng nhiều thách thức” và  “sẽ vạch ra phương hướng hợp tác an ninh và quốc phòng (giữa hai nước) trong 10 năm tới”. 

Sau khi Thủ tướng Albanese và Thủ tướng Kishida ký thỏa thuận hợp tác mới, các học giả đã gắn cho quan hệ giữa Australia – Nhật một tên gọi mới là quan hệ “bán liên minh” khi nhấn mạnh Tuyên bố mới lần này – dựa trên truyền thống hợp tác an ninh của hai nước – sẽ tạo nền tảng cao hơn cho cái gọi là “bán liên minh” giữa Australia và Nhật Bản, cũng như các chương trình hợp tác ba bên và bốn bên. Điều 7 của thỏa thuận thiết lập cách tiếp cận đối với mối nguy hiểm chung trong liên minh ba bên và quan hệ Nhật Bản-Australia trong liên minh với Mỹ: “Quan hệ đối tác song phương của chúng ta cũng giúp củng cố các liên minh của mỗi bên với Mỹ, đóng vai trò là trụ cột quan trọng cho an ninh của chúng ta, cũng như hòa bình và ổn định ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Tăng cường hợp tác ba bên với Mỹ là rất quan trọng để tăng cường liên kết chiến lược, điều phối chính sách, khả năng tương tác và khả năng chung của các bên”.

Trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng quyết đoán và hung hăng hơn, mối quan hệ “bán liên minh” giữa Australia – Nhật tạo hệ lụy gì đối với khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương nói chung và Biển Đông nói riêng đang được các nhà nghiên cứu quan tâm. Đa phần các ý kiến cho rằng việc tăng cường hợp tác an ninh giữa giữa Australia và Nhật Bản đem lại những hệ lụy tích cực cho khu vực và Biển Đông.

Thứ nhất, cả Australia và Nhật Bản cùng đối mặt với các thách thức lớn từ sự hung hăng của Trung Quốc và đều đang là “nạn nhân” trong chính sách cường quyền của Bắc Kinh (tàu các loại của Trung Quốc thường xuyên xâm nhập trái phép vùng biển của Nhật Bản, bao gồm vùng biển xung quanh quần đảo Senkaku hiện Nhật Bản đang quản lý; Australia đang bị Trung Quốc lấn sân ở khu vực Nam Thái Bình Dương và đang phải chịu sức ép từ những “đòn trừng phạt kinh tế” của Bắc Kinh. Việc Australia – Nhật thắt chặt quan hệ an ninh quốc phòng, ký thỏa thuận hợp tác an ninh mới sẽ là yếu tố quan trọng để ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông và trong khu vực.

Tuyên bố chung về hợp tác an ninh mới Australia-Nhật không đề cập trực diện Trung Quốc, song mục tiêu chính của việc nâng cấp mối quan hệ an ninh, quân sự giữa Australia và Nhật Bản là nhằm vào Trung Quốc. Một số chuyên gia cho rằng thay vì phải “đối mặt với các hệ lụy của việc công bố một hiệp ước hoặc liên minh quân sự chính thức”, Australia và Nhật Bản đã có cách tiếp cận một cách uyển chuyển hơn khi ký Tuyên bố chung về hợp tác an ninh được xem như “bán liên minh” để giảm đi tính chính thức của vấn đề và Bắc Kinh không có cớ để phản đối.

Thỏa thuận hợp tác an ninh mới giữa Australia và Nhật Bản chắc chắn không chỉ là vấn đề song phương. Trong bối cảnh, cả Canberra và Tokyo đều ủng hộ mạnh mẽ chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở thì hai nước cần thể hiện rõ vai trò của mình đối với an ninh khu vực. Để đối phó với các mối đe dọa trong khu vực, tự bản thân khu vực phải có năng lực đủ tin cậy. Với việc ký thỏa thuận hợp tác an ninh mới, Australia-Nhật đã khẳng định vai trò quan trọng trong việc đàm bảo an ninh khu vực.

Việc Bắc Kinh không chỉ hung hăng bắt nạt các nước láng giềng ven Biển Đông, đe dọa sử dụng vũ lực với Đài Loan mà còn đang mở rộng ảnh hưởng tới tận các quốc đảo và vùng biển ở Nam Thái Bình Dương chính là nguyên nhân thôi thúc Australia và Nhật Bản thắt chặt mối quan hệ hợp tác an ninh, quân sự trên Thải Bình Dương.

Thứ hai, trên vấn đề Biển Đông, thời gian qua cả Australia và Nhật Bản đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hòa bình ổn định, đảm bảo tự do an ninh hàng hải và hàng không trên Biển Đông khi hai nước thường xuyên đưa tàu chiến đến hoạt động ở Biển Đông, thậm chí cùng với hải quân Mỹ tiến hành diễn tập quân sự ở Biển Đông. Về mặt pháp lý, cả Australia và Nhật Bản đều đã gửi công hàm lên Liên hợp quốc bày tỏ quan điểm pháp lý trên các vấn đề liên quan ở Biển Đông. Theo đó, cả Canberra và Tokyo cùng bác bỏ các yêu sách của Bắc Kinh ở Biển Đông; ủng hộ Phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài vụ kiện Biển Đông do Philippines khởi xướng; kêu gọi các bên tuân thủ Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982. Do vậy, giới phân tích nhận định việc Canberra và Tokyo thắt chặt hợp tác an ninh thông qua việc ký thỏa thuận an ninh mới sẽ có tác động tích cực tới cục diện Biển Đông, tạo động lực mới để cả Australia và Nhật Bản tiếp tục đóng góp nhiều hơn vào an ninh trên Biển Đông.

Cả Australia và Nhật Bản đều có quan hệ tốt với các nước ven Biển Đông và cùng khẳng định coi trọng quan hệ đối tác chiến lược với ASEAN. Australia và Nhật Bản đã hỗ trợ các nước ven Biển Đông nâng cao năng lực quản lý các vùng biển của mình. Việc thắt chặt hợp tác an ninh giữa Canberra và Tokyo có thể mở ra khả năng hợp tác 3 bên giữa Australia và Nhật Bản với từng nước ven Biển Đông hoặc giữa 2 nước này với cả khối ASEAN trên vấn đề an ninh hàng hải ở Biển Đông. Đây rõ ràng là những hệ quả tích cực từ thỏa thuận an ninh mới Australia-Nhật đối với cục diện Biển Đông.

Đáng chú ý Tuyên bố chung về hợp tác an ninh Australia – Nhật Bản đề cập đến hai nội dung quan trọng được các nước ASEAN, nhất là các nước ven Biển Đông quan tâm: một là, hợp tác an ninh Australia – Nhật là nhằm chống lại các “hành vi… phá hoại các quy tắc và chuẩn mực quốc tế”. Đây chính là yếu tố quan trọng để duy trì trật tự dựa trên luật lệ ở Biển Đông và trong khu vực; hai là, Tuyên bố hợp tác an ninh mới Australia – Nhật cũng đề cập đến hợp tác trong việc “chống lại sự áp bức kinh tế và tin giả” – những mối đe dọa mà Trung Quốc thường xuyên bị cáo buộc là kẻ giật dây.

Australia và Nhật Bản đã hợp tác chặt chẽ với nhau ở Thái Bình Dương và Đông Nam Á để hỗ trợ chủ quyền và khả năng chống chịu của các nước trong khu vực, đảm bảo các nước có quyền lựa chọn đối tác trong hợp tác thương mại, đầu tư, hỗ trợ phát triển và an ninh. Giới học giả cho rằng việc thỏa thuận hợp tác an ninh mới Australia – Nhật nhấn mạnh nội dung chống “áp bức kinh tế” có thể là tín hiệu tích cực về việc Australia – Nhật sẽ tăng cường hợp tác kinh tế với các nước Đông Nam Á để giúp các nước này giảm bớt sự lệ thuộc về kinh tế vào Trung Quốc và ngày càng mạnh mẽ hơn, kiên quyết hơn trong đấu tranh chống lại sự bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông.

Thỏa thuận hợp tác an ninh mới Australia – Nhật còn có ý nghĩa thúc đẩy những cải cách trong nước của Nhật Bản trong lĩnh vực quốc phòng, thúc đẩy cuộc thảo luận về chiến lược an ninh quốc gia và các văn kiện quốc phòng quan trọng khác đang được lên kế hoạch của Nhật Bản, giúp cải thiện căn bản khả năng quốc phòng của Nhật Bản để Tokyo có thể đóng góp nhiều hơn vào các vấn đề an ninh khu vực, bao gồm an ninh hàng hải ở Biển Đông. Mặt khác, việc tăng cường hợp tác an ninh Australia – Nhật có thể trở thành động lực thúc đẩy các cơ chế hợp tác khác trong khu vực như Nhóm “Bộ Tứ” (gồm Mỹ, Australia, Nhật, Ấn), liên minh 3 bên AUKUS (giữa Mỹ, Anh, Úc) hay Hiệp ước An ninh quân sự ANZUS (giữa Australia-New Zealand-Mỹ)… Đây được coi là các cơ chế có vai trò quan trọng ngăn chặn, kiềm chế Trung Quốc ở khu vực, trong đó có Biển Đông. Tòm lại, thỏa thuận hợp tác an ninh mới Australia – Nhật về tổng thể có lợi cho cục diện Biển Đông và các nước nhỏ ven Biển Đông.

]]>
Mỹ-Nhật liên thủ chống Tàu https://biendong.net/2022/10/22/my-nhat-lien-thu-chong-tau/ Sat, 22 Oct 2022 02:20:00 +0000 https://biendong.net/?p=90154 Trong bối cảnh đối đầu Mỹ-Trung đang leo thang, Nhật Bản giữ một vị trí độc tôn và được coi là đồng minh cốt lõi của Washington trong tất cả các khía cạnh. Liên minh Mỹ-Nhật kể từ đó cũng bắt tay chống lại ĐCSTQ và duy trì một trật tự quốc tế dựa trên luật lệ ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

(Từ trái qua phải) Thủ tướng Úc Anthony Albanese, Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden, Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida, và Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi chụp ảnh tại sảnh vào của Văn phòng Thủ tướng Nhật Bản ở Tokyo hôm 24/05/2022. (Ảnh: Zhang Xiaoyu/Pool/Getty Images)

Theo phân tích của Giáo sư Zack Cooper, nhà nghiên cứu của Viện Doanh nghiệp Hoa Kỳ (AEI), hầu hết các chuyên gia Mỹ đều cho rằng Tokyo đã đánh giá chính xác những mối nguy hiểm của ĐCSTQ và đưa ra chính sách thận trọng để đối phó với thực thể này.

Nhận thức tương đồng của Mỹ và Nhật Bản về Trung Quốc giúp thúc đẩy Tokyo và Washington tiến tới hợp tác sâu rộng hơn, và có xu hướng thúc đẩy một liên minh Mỹ-Nhật đầy tham vọng trong tương lai gần.

Trên thực tế, để tăng cường hiểu biết lẫn nhau và phối hợp tốt hơn giữa Mỹ và Nhật Bản trong việc hoạch định chính sách đối phó với ĐCSTQ, kể từ tháng 4/2017, Diễn đàn Nhật Bản về Quan hệ Quốc tế (JFIR) và Quỹ Carnegie vì hòa bình quốc tế (CEIP) đã tập hợp một nhóm các học giả từ Nhật Bản và Mỹ (cùng với một số học giả châu Âu) để thực hiện một dự án nghiên cứu có tên “Rủi ro và Cơ hội của Trung Quốc trong Kỷ nguyên Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương Tự do và Cởi mở”.

Vào tháng 7/2021, dự án đã phát hành báo cáo “Khuyến nghị khẩn cấp: Đề xuất các nguyên tắc cơ bản của chiến lược Mỹ-Nhật đối với Trung Quốc” (Urgent Recommend: Proposed Basic Principles of a US-Japan Strategy for China). Báo cáo cập nhật và bổ sung với trọng tâm mới là Nga.

Báo cáo tập trung vào bốn lĩnh vực:

  1. Duy trì trật tự quốc tế tự do và cởi mở dựa trên luật lệ;
  2. An ninh kinh tế;
  3. Đài Loan;
  4. Thúc đẩy dân chủ và nhân quyền.

Báo cáo đưa ra một loạt các nguyên tắc cơ bản đối với cả hai nước nhằm đối phó với Trung Quốc và đảm bảo một Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và cởi mở.

Bảo vệ trật tự quốc tế và kiên quyết chống lại ĐCSTQ

Theo báo cáo, trật tự quốc tế dựa trên luật lệ đang bị thách thức bởi liên minh Trung-Nga.

Báo cáo cho biết, nếu Trung Quốc thách thức các nguyên tắc cốt lõi của trật tự quốc tế dựa trên luật lệ như tự do và pháp quyền, thì Mỹ và Nhật Bản sẽ hành động không do dự, đồng thời không thờ ơ trước các hành vi vi phạm nhân quyền của các nhà lãnh đạo độc tài.

Mỹ và Nhật Bản sẽ tiếp tục duy trì quan hệ đối thoại với Trung Quốc về các giải pháp đối với đại dịch COVID-19 hoặc giảm thiểu sự nóng lên toàn cầu, nhưng từ chối hợp tác về những vấn đề này nếu nó làm tổn hại đến các giá trị tự do hoặc trật tự quốc tế, báo cáo cho biết.

Ngăn chặn sử dụng vũ lực nhằm đơn phương thay đổi hiện trạng Eo biển Đài Loan

Đài Loan là vấn đề an ninh nhạy cảm và nguy hiểm nhất, có ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa liên minh Mỹ-Nhật và ĐCSTQ, cũng như sự toàn vẹn lãnh thổ của hòn đảo.

Báo cáo cho biết, liên minh Mỹ-Nhật nên chung tay với các quốc gia khác bị Trung Quốc và Nga chèn ép, đồng thời yêu cầu hai nước này ngừng hành vi đơn phương thay đổi hiện trạng, chẳng hạn như tuyên bố chủ quyền lãnh thổ bất hợp pháp và cải tạo các đảo ở Biển Đông.

Báo cáo cho biết, Mỹ và Nhật Bản nên chống lại những nỗ lực của Trung Quốc nhằm đơn phương thay đổi hiện trạng khu vực bằng vũ lực. Bên cạnh đó, Tokyo và Washington cần thúc đẩy các quốc gia bị chèn ép phát triển các biện pháp để ngăn chặn và chống lại những nỗ lực này.

Trong những năm tới, ĐCSTQ có khả năng sẽ tuyên bố mạnh mẽ rằng Mỹ, Nhật Bản và các nền dân chủ tự do tiên tiến khác trên thực tế là các quốc gia “theo chủ nghĩa xét lại”, báo cáo cho biết. Do đó, Mỹ-Nhật và các đồng minh cùng chí hướng nên đoàn kết để chống lại bất kỳ tuyên bố nào như vậy.

Không thể hy sinh an ninh quốc gia chỉ vì hợp tác kinh tế

Đối với các nền dân chủ tự do trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Liên Xô là kẻ thù chứ không phải là đối tác. Nhưng ĐCSTQ thì khác. Bắc Kinh đặt ra các thách thức an ninh nghiêm trọng nhưng vẫn kèm theo các cơ hội hợp tác kinh tế.

Báo cáo cho biết, Mỹ và Nhật Bản phải chú trọng đến các thương vụ làm ăn với Trung Quốc để tránh nguy cơ bị phụ thuộc quá mức, đặc biệt là đối với các thực thể có liên hệ mật thiết với các cơ sở quân sự hoặc an ninh của Trung Quốc.

Báo cáo cũng nhấn mạnh rằng khi phát triển quan hệ kinh tế với Trung Quốc, Mỹ và Nhật Bản nên “tinh ý” hơn để sớm nhận ra các ý định của ĐCSTQ trong việc biến những thương vụ làm ăn thành một công cụ chính trị. Bởi vì ĐCSTQ được biết đến luôn sẵn sàng đặt an ninh quốc gia lên trên lợi ích kinh tế.

Báo cáo cho biết: “Mỹ và Nhật Bản không nên thỏa hiệp các nguyên tắc của mình, bao gồm tự do, nhân quyền và dân chủ, khi hợp tác với Trung Quốc chỉ vì những lợi ích kinh tế ngắn hạn. Hợp tác với Trung Quốc có tác động lâu dài đến trật tự quốc tế dựa trên luật lệ”.

“Mỹ và Nhật Bản nên nhấn mạnh rằng các hợp tác kinh tế của Trung Quốc phải phù hợp với pháp quyền và trật tự quốc tế dựa trên luật lệ”, báo cáo cho biết.

Mở rộng vòng tròn đồng minh để tìm giải pháp thay thế

Báo cáo đề cập rằng Mỹ và Nhật Bản phải có khả năng cung cấp cho cộng đồng quốc tế nhiều cơ hội hơn ĐCSTQ, trong đó hai nước phải tạo ra một môi trường để các nước đang phát triển có sự lựa chọn về công nghệ và tài chính theo hướng có lợi cho các xã hội dân chủ và tự do.

Ngay cả khi đại dịch COVID-19 gây ra những hạn chế về ngân sách đối với Mỹ và Nhật Bản, cả hai quốc gia cũng nên dành đủ nguồn nhân lực và tài chính để bảo vệ trật tự quốc tế dựa trên luật lệ, đồng thời xây dựng một “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và cởi mở”.

Tăng cường thắt chặt mối bang giao giữa Mỹ và Nhật Bản

Báo cáo nhấn mạnh ba vấn đề đòi hỏi sự liên lạc đặc biệt chặt chẽ trong ngắn hạn giữa các quốc gia cùng chí hướng:

  1. Cách tối đa hóa an ninh kinh tế quốc gia trong bối cảnh tiếp tục hợp tác kinh tế với Trung Quốc;
  2. Cách thức duy trì “hòa bình và ổn định trên Eo biển Đài Loan”;
  3. Luận điệu, chính sách và cam kết nhân quyền trong bối cảnh hiện nay.

Báo cáo cho biết Mỹ và Nhật Bản nên tăng cường thúc đẩy hợp tác liên minh với các nền dân chủ tự do khác như Đài Loan hay Ấn Độ. Để đạt được điều đó, các quốc gia cần thiết lập nhiều cấp độ liên lạc giữa các nhà lãnh đạo, bộ trưởng và cơ quan lập pháp giữa các chính phủ, cũng như giữa các lĩnh vực dân sự và quân sự.

]]>