Phán quyết Tòa trọng tài – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Thu, 13 Jul 2023 08:40:25 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 7 năm Phán quyết Tòa trọng tài – một dấu ấn lịch sử đối với tranh chấp ở khu vực Biển Đông (Phần 3 – hết) https://biendong.net/2023/07/13/7-nam-phan-quyet-toa-trong-tai-mot-dau-an-lich-su-doi-voi-tranh-chap-o-khu-vuc-bien-dong-phan-3-het/ Thu, 13 Jul 2023 08:40:23 +0000 https://biendong.net/?p=108335 Sức sống và phát triển của Phán quyết trong vòng 7 năm qua

Thời điểm Tòa trọng tài đưa ra Phán quyết cũng là lúc chuyển giao quyền lực tại Phi-líp-pin. Theo Hiến pháp của Phi-líp-pin, nhiệm kỳ của Tổng thống là 6 năm và không được tái cử. Do đó, mặc dù Tổng thống Benigno Aquino III là người đưa ra quyết định và đem lại thắng lợi vang dội cho Phi-líp-pin trong vụ kiện Biển Đông, song ông không thể tái cứ và Tổng thống Rodrigo Duterte đã là người kế nhiệm của ông sau cuộc bầu cử Tổng thống năm 2016.

Nhằm tranh thủ quan hệ kinh tế, thương mại, du lịch và cải thiện quan hệ với Trung Quốc, ngay từ khi mới nhậm chức, Tổng thống Rodrigo Duterte đã chủ trương thực hiện chính sách “tạm gác lại” Phán quyết. Cuối năm 2016, ông Rodrigo Duterte đã có chuyến thăm Trung Quốc lần đầu tiên và trong cả nhiệm kỳ của mình (2016-2022), ông Rodrigo Duterte đã thăm Trung Quốc 5 lần (bao gồm cả Hồng Công). Phía Trung Quốc cũng tỏ ra “hào phóng” đối với ông Rodrigo Duterte, ngay trong chuyến thăm đầu tiên, phía Trung Quốc đã hứa viện trợ và cho Phi-líp-pin vay 24 tỷ USD để phục vụ chính sách “xây dựng, xây dựng và xây dựng” của Phi-líp-pin. Có lẽ tin tưởng vào các cam kết của Trung Quốc, nên trong năm Chủ tịch ASEAN 2017, Phi-líp-pin đã khá hạn chế việc thảo luận công khai chiến thắng pháp lý vang dội của nước này trong vụ kiện và coi đây là vấn đề song phương giữa Phi-líp-pin và Trung Quốc cho dù ý nghĩa của Phán quyết vượt ngoài khuôn khổ song phương. Là một phần trong chính sách này, Tổng thống Duertte cũng giới hạn hoạt động của các lực lượng như Cảnh sát biển, Hải quân, Không quân của nước này ở khu vực Biển Đông, mở ra các hướng mới cho việc hợp tác biển với Trung Quốc như việc thiết lập cơ chế trao đổi song phương về biển; ký Thỏa thuận hợp tác năng lượng (2018), bật đèn xanh cho việc thảo luận hợp tác dầu khí giữa công ty dầu khí quốc gia Phi-líp-pin và các đối tác Trung Quốc…Cùng với đó, Phi-líp-pin tiết giảm mạnh các hoạt động hợp tác, kể cả hợp tác quân sự với Mỹ, đe dọa chấm dứt ngay lập tức Thỏa thuận Các lực lượng Thăm viếng (VFA); yêu cầu Mỹ trả tiền cho Phi-líp-pin nếu muốn duy trì VFA. Tất là những yếu tố này đã khiến cộng đồng quốc tế lo lắng về ý nghĩa và giá trị của Phán quyết.

Tuy nhiên, các lo lắng này đã được giải tỏa khi phát biểu trước Khóa họp 75 của Đại hội đồng Liên hợp quốc (9/2020), Tổng thống Duertte khẳng định “cam kết trong các vấn để Biển Đông phù hợp với Công ước Luật Biển và Phán quyết trọng tài năm 2016”. Đồng thời ông Rodrigo Duterte làm nổi bật giá trị của Phán quyết, nhấn mạnh “ Phán quyết đó giờ đã là một phần của luật quốc tế, vượt lên khỏi những thỏa hiệp và tầm với của những chính phủ muốn pha loãng, giảm bớt hoặc bỏ rơi. Chúng tôi kiên quyết bác bỏ những nỗ lực nhằm suy yếu nó”. Phát biểu tại Hội nghị thượng định ASEAN lần thứ 24 (10/2020), Ông Duterte tiếp tục khẳng định quan điểm trên, nhấn mạnh “Phán quyết Tòa trọng tài năm 2016 là một đóng góp có ý nghĩa trong lĩnh vực luật quốc tế, đặc biệt là với Công ước Luật Biển 1982. Phán quyết này không loại trừ bất cứ ai” do “Phán quyết đã ủng hộ và làm lợi cho cộng đồng các quốc gia tuân thủ pháp luật thông qua việc làm rõ đối với tất cả.  Việc làm rõ rang này- vốn nằm ngoài mọi sự thỏa hiệp- chính là đóng góp khiêm tốn của Phi-líp-pin đối với trật tự pháp lý quốc tế”.

Kế thừa cách tiếp cận này của chính quyền Duertte, chính quyền của Tổng thống Marcos, đã khẳng định “Phán quyết về Biển Đông năm 2016 và Công ước Luật Biển là hai mỏ neo trong chính sách và hành động của Philippines tại khu vực Biển Đông”. Không chỉ dừng lại ở tuyên bố, phát biểu chính trị, nội dung Phán quyết đã được Phi-líp-pin đề cập trực tiếp trong công hàm ngày 06/3/2020 mà nước này lưu hành tại Liên hợp quốc phản bác yêu sách Tứ Sa của Trung Quốc. Nội dung về Phán quyết cũng đã được đưa vào các Tuyên bố song phương của Phi-líp-pin với Mỹ, Úc, Nhật Bản, EU và gần đây nhất là Ấn Độ.

Đối với cộng đồng quốc tế, Phán quyết có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đã làm rõ được nhiều nội dung then chốt liên quan đến vấn đề tranh chấp ở khu vực Biển Đông như giá trị của yêu sách “đường chín đoạn” của Trung Quốc, quy chế pháp lý của các cấu trúc ở quần đảo Trường Sa nói riêng và cả quần đảo Trường Sa nói chung. Do đó, không có gì ngạc nhiên khi trong các Tuyên bố cấp Ngoại trưởng hoặc Cấp cao của Nhóm các nước công nghiệp phát triển G7 từ 2016 đến nay đều có nội dung nhắc đến Phán quyết và yêu cầu các bên liên quan (ở đây là Trung Quốc) phải tuân thủ và thực thi Phán quyết. Đồng thời, Phán quyết cũng đã được nhiều nước coi là căn cứ pháp lý quan trọng khi đưa ra các tuyên bố chính sách của mình liên quan đến Biển Đông như Tuyên bố của Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Mike Pompeo về Biển Đông ngày 13/7/2020; Giới hạn về các vùng biển số 150 (2021)…Không thể không nhắc đến cuộc chiến công hàm đầu năm 2020, khi đã có hàng chục nước  de

Ngày 12/7/2023 là tròn 7 năm Phán quyết vụ kiện Biển Đông giữa Phi-líp-pin và Trung Quốc được thông qua. 7 năm là một quãng thời gian không dài đối với một Phán quyết của cơ quan tài phán quốc tế, song 7 năm cũng đủ để chứng minh sức sống và giá trị của một Phán quyết mang tính lịch sử, được áp dụng cho một khu vực mà đang còn nhiều diễn biến phức tạp do các hành động đơn phương nhằm củng cố các yêu sách trái pháp luật của Trung Quốc. Cho dù bất cứ hoàn cảnh nào xảy ra thì Phán quyết đã trở thành một bộ phận quan trọng của Luật pháp quốc tế, mở ra một bối cảnh pháp lý mới cho khu vực Biển Đông, nơi mà ở đó như Tuyên bố của G7 mới đây khẳng định “không có cơ sở cho các yêu sách biển quá đáng của Trung Quốc ở khu vực Biển Đông…Chúng tôi nhắc lại việc Phán quyết của Tòa trọng tài ngày 12/7/2016 là một dấu mốc có ý nghĩa, mang tính rang buộc đối với các bên tham gia tiến trình này và là một cơ sở hữu dụng cho việc giải quyết hòa bình các tranh chấp giữa các bên”. Là một nước lớn, thành viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, việc tuân thủ Phán quyết chính là những tiền đề đầu tiên mà Trung Quốc cần phải tuân thủ và thực hiện để khẳng định vị thế, vai trò và trách nhiệm ngày càng lớn của mình trong quan hệ quốc tế.

]]>
7 năm Phán quyết Tòa trọng tài – một dấu ấn lịch sử đối với tranh chấp ở khu vực Biển Đông (Phần 2) https://biendong.net/2023/07/12/7-nam-phan-quyet-toa-trong-tai-mot-dau-an-lich-su-doi-voi-tranh-chap-o-khu-vuc-bien-dong-phan-2/ Wed, 12 Jul 2023 08:36:58 +0000 https://biendong.net/?p=108061

Phản ứng của Trung Quốc

          Chỉ hơn 1 tiếng đồng hồ sau khi Tòa Trọng tài ra phán quyết, lúc 17h12 ngày 12/7/2016, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã ra “Tuyên bố của Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về Phán quyết ngày 12/7/2016 của Tòa trọng tài trong vụ trọng tài ở Biển Đông được thành lập theo đề nghị của Cộng hòa Phi-líp-pin”. Đồng thời, với đó, Chính phủ Trung Quốc cũng đã ra Sách trắng “Trung Quốc tuân thủ lập trường giải quyết thông qua đàm phán các tranh chấp có liên giữa Trung Quốc và Phi-líp-pin ở Biển Đông”, Tuyên bố của Chính phủ Trung Quốc về chủ quyền lãnh thổ, các quyền và lợi ích biển của Trung Quốc ở khu vực Biển Đông; Ủy ban Đối ngoại Trung Quốc cũng ra Tuyên bố. Bên cạnh các tuyên bố kể trên, trong ngày 12 và 13/7/2016, nhiều nhà lãnh đạo Trung Quốc cũng lên tiếng về Phán quyết. Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cho rằng Trung Quốc sẽ không chấp nhận bất cứ quan điểm hoặc hành động nào dựa trên Phán quyết của Tòa và chủ quyền lãnh thổ, quyền lợi biển của Trung Quốc ở Biển Đông, trong mọi hoàn cảnh “không bị ảnh hưởng bởi Phán quyết”. Trong khi đó, Ủy viên Quốc vụ Dương Khiết Trì trong trả lời trên Đài truyền hình Trung ương Trung Quốc nhấn mạnh “Phán quyết là phi pháp và không có giá trị”. Đồng thời, ông Dương Khiết Trì cũng cho rằng vụ trọng tài Biển Đông là “trò hề chính trị” được dàn dựng dưới chiêu bài luật pháp và phục vụ các ý đồ riêng. Ông Dương Khiết Trì cũng đổ lỗi rằng “có một số quốc quá ngoài khu vực đang nỗ lực phủ nhận quyền chủ quyền và lợi ích của Trung Quốc ở khu vực Biển Đông thông qua trọng tài”. Mặc dù Tòa trọng tài mới đưa ra Phán quyết, song ông Dương khẳng định có trên 70 quốc gia, các tổ chức quốc tế và khu vực đã có tuyên bố thể hiện sự quan tâm và ủng hộ quan điểm của Trung Quốc.??? Điều đáng chú ý là ngay trước thời điểm Tòa trọng tài ra Phán quyết, ngày 05/7/2016, phát biểu tại Đối thoại Mỹ- Trung về Biển Đông do Viện Carnegie Endowment for International Peace[1] tổ chức tại Thủ đô Washington,  ông Đới Bỉnh Quốc, nguyên Ủy viên Quốc vụ, Bộ trưởng Ngoại giao đã không giấu diếm quan điểm của Bắc Kinh, cho rằng “Phán quyết cuối cùng được đưa ra trong vài ngày tới, chẳng có giá trị gì hơn một mẩu giấy” và Trung Quốc “sẽ không bao giờ chấp nhận bất cứ một giải pháp nào do bên thứ ba áp đặt”. Dư luận trước đó đã dấy lên nhiều đồn đoán về việc Trung Quốc đã tìm cách xâm nhập trái phép vào mạng máy tính của Tòa trọng tài Thường trực để lấy các thông tin về vụ kiện. Phát biểu của ông Đới Bỉnh Quốc, ngoài việc thể hiện quan điểm của Trung Quốc ngay trước thời điểm Tòa ra Phán quyết, còn cho thấy sự đồn đoán của dư luận là hoàn toàn có cơ sở. Từ chỗ duy trì quan điểm hai không đối với vụ kiện (không thừa nhận,


[1] U.S.-China Dialogue on the South China Sea – Carnegie Endowment for International Peace

không tham gia), Trung Quốc đã bổ sung thêm hai không nữa, đó là không chấp nhận Phán quyết và không thực thi Phán quyết này.

Bất chấp các lập luận pháp lý đã được nêu một cách rõ ràng, khách quan, đầy đủ, có căn cứ và khoa học, thực tiễn trong Phán quyết, Trung Quốc tiếp tục duy trì quan điểm pháp lý mang tính cố chấp của mình. Lập luận chủ yếu của Trung Quốc là Tòa trọng tài không có thẩm quyền để xét xử vụ việc; việc chỉ định các trọng tài viên là không khách quan và bản chất vụ kiện là liên quan đến chủ quyền và phân định biển. Tuy nhiên, như trình bày ở trên, tất cả các vấn đề Phi-líp-pin khởi kiện đều liên quan đến việc giải thích và áp dụng các điều khoản của Công ước Luật Biển 1982. Do đó, đều nằm trong phạm vi của cơ chế giải quyết của Công ước và Tòa trọng tài đã được thành lập một cách hợp pháp, theo đúng các quy định của Công ước. Toàn bộ tiến trình tố tụng của Tòa đều được tiến hành theo đúng thủ tục, có tham vấn và tôn trọng và dành cho Trung Quốc quyền mà nước này được hưởng. Chính Trung Quốc một mặt từ bỏ các quyền của mình, mặt khác lại thông qua các Tuyên bố, văn bản của Chính phủ, Bộ Ngoại giao thể hiện quan điểm pháp lý, để chứng minh cho các yêu sách của mình.

Các phương tiện truyền thông, mạng xã hội của Trung Quốc cũng đã hòa chung “giọng” với Chính phủ, nêu đậm việc chỉ trích Tòa trọng tài và Phán quyết, coi Tòa trọng tài là “trò hề chính trị”, phán quyết là hoang đường, chà đạp công lý quốc tế, là kịch bản tồi tệ nhất, cực đoan nhất trong các kịch bản; “vô sỉ hơn cả dự đoán xấu nhất”.

Tuy nhiên, cũng chính Trung Quốc năm 2018 đã cho ấn hành một công trình nghiên cứu trên 540 trang với sự tham gia của hàng trăm luật gia nổi tiếng của Trung Quốc trong lĩnh vực luật quốc tế với tiêu đề “Phán quyết trọng tài Biển Đông: Một nghiên cứu có tính phê phán” chỉ để nhằm phản bác lại “mẩu giấy” mà ông Đới Bỉnh Quốc đã nêu trước đó.

Phản ứng của Phi-lip-pin và cộng đồng quốc tế

Là quốc gia tiến hành khởi xướng vụ kiện, tuy nhiên, khi Tòa trọng tài ra Phán quyết, phản ứng bước đầu của Phi-líp-pin là tương đối thận trọng và phù hợp. Trong tuyên bố của mình, Bộ Ngoại giao khẳng định “Phi-líp-pin hoan nghênh việc ngày hôm nay Tòa trọng tài được thành lập theo phụ lục VII của Công ước Luật Biển 1982 trong vụ kiện trọng tài Biển Đông do Phi-líp-pin khởi xướng ra Phán quyết. Phán quyết là chung thẩm, ràng buộc và không thể kháng cáo. Đây là một kết quả mang tính lịch sử thê hiện sự tuân thủ luật pháp quốc tế, sự tuân thủ Công ước Luật Biển với tính chất là bản hiến pháp về biển và đại dương của hành tinh chúng ta”.

Sau khi Tòa Trọng tài ra phán quyết, ngày 12/7/2016, Bộ Ngoại giao Mỹ đã ra tuyên bố khẳng định Phán quyết là “đóng góp quan trọng đối với mục đích chung của giải pháp hòa bình” cho các vấn đề tranh chấp trên Biển Đông. Trong tuyên bố, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ John Kirby bày tỏ “hy vọng và mong muốn” các bên sẽ tuân thủ những nghĩa vụ đối với phán quyết có tính ràng buộc pháp lý về Biển Đông nói trên. Phía Mỹ cũng hối thúc “tất cả các bên có tuyên bố chủ quyền tránh những tuyên bố hoặc hành động khiêu khích”. Cùng ngày, Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Fumio Kishida ra tuyên bố cho rằng Phán quyết mang tính chung thẩm và mang tính ràng buộc pháp lý, các bên liên quan phải tuân thủ phán quyết này. Ngoại trưởng Kishida nêu rõ Nhật Bản kiên định ủng hộ việc tôn trọng quy định luật pháp và sử dụng các biện pháp hòa bình, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong giải quyết các tranh chấp trên biển. Trong khi đó, phát biểu tại Hội thảo Biển Đông diễn ra tại Tokyo ngày 12/7/2016, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Nakatani Gen đã nhấn mạnh rằng Phán quyết sẽ mở ra một thời đại mới, thời đại của những vấn đề quốc tế sẽ được giải quyết bằng pháp luật quốc tế. Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản cho biết thêm, vấn đề Biển Đông sẽ được phán quyết dựa trên thực tế, tính ràng buộc của những qui định quốc tế. Và dĩ nhiên các bên liên quan phải tuân thủ những qui định mang tính quốc tế, góp phần vào hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới. Trong Tuyên bố chung của Liên minh Châu Âu, khối này khẳng định “Liên minh Châu Âu cam kết duy trì trật tự pháp lý về biển và đại dương” sau khi Tòa trọng tài ra Phán quyết.

Đối với các nước Đông Nam Á, ngay sau khi Tòa Trọng tài ra Phán quyết, Bộ Ngoại giao Xinh- ga-po ra tuyên bố kêu gọi tất cả các bên tôn trọng đầy đủ các quy trình pháp lý và ngoại giao, kiềm chế và tránh tiến hành bất kỳ hoạt động có thể gây căng thẳng trong khu vực. Đồng thời, nhấn mạnh nước này ủng hộ giải quyết hòa bình các tranh chấp phù hợp với những nguyên tắc được thừa nhận của luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Luật Biển, mà không cần đến sự đe dọa hoặc sử dụng vũ lực. Là một nhà nước nhỏ, Singapore ủng hộ việc duy trì một trật tự dựa trên luật lệ, duy trì và bảo vệ các quyền và đặc quyền của tất cả các nước. Trong tuyên bố được đưa ra vài giờ trước khi Phán quyết được công bố, Bộ Ngoại giao Thái Lan nhấn mạnh tầm quan trọng của việc gìn giữ hòa bình và ổn định ở Đông Nam Á và các khu vực xung quanh, cũng như việc khôi phục lòng tin giữa các quốc gia trong khu vực nhằm xây dựng một môi trường có lợi cho thịnh vượng và sự phát triển bền vững, thông qua hợp tác trên tinh thần xây dựng. Thái Lan khẳng định vấn đề Biển Đông nên được giải quyết thông qua các nỗ lực phối hợp và bằng mọi phương cách, trên cơ sở sự tin cậy lẫn nhau cũng như lợi ích công bằng, phản ánh bản chất quan hệ lâu dài giữa ASEAN và Trung Quốc. Trong khi đó, Bộ Ngoại giao Ma-lai-xia ra Tuyên bố nhấn mạnh các tranh chấp ở khu vực Biển Đông cần được giải quyết một cách hòa bình thông qua việc tôn trọng đầy đủ “tiến trình ngoại giao và pháp lý”.

Ngày 12-7, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước việc Tòa trọng tài ra phán quyết cuối cùng, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình nêu rõ: “Việt Nam hoan nghênh việc Tòa trọng tài đã đưa ra phán quyết cuối cùng ngày 12-7-2016. Việt Nam sẽ có tuyên bố về nội dung phán quyết. Việt Nam một lần nữa khẳng định lập trường nhất quán của mình về vụ kiện này như đã được thể hiện đầy đủ trong Tuyên bố ngày 5-12-2014 của Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi Tòa trọng tài. Trên tinh thần đó, Việt Nam ủng hộ mạnh mẽ việc giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông bằng các biện pháp hòa bình, bao gồm các tiến trình ngoại giao và pháp lý, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực theo quy định của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông, tôn trọng nguyên tắc thượng tôn pháp luật trên các vùng biển và đại dương. Nhân dịp này, Việt Nam tiếp tục khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chủ quyền đối với nội thủy và lãnh hải, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam được xác định phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, cũng như tất cả các quyền và lợi ích pháp lý của Việt Nam liên quan đến các cấu trúc địa lý thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”./.

]]>
7 năm Phán quyết Tòa trọng tài – một dấu ấn lịch sử đối với tranh chấp ở khu vực Biển Đông (Phần 1) https://biendong.net/2023/07/12/7-nam-phan-quyet-toa-trong-tai-mot-dau-an-lich-su-doi-voi-tranh-chap-o-khu-vuc-bien-dong-phan-1/ Wed, 12 Jul 2023 08:36:36 +0000 https://biendong.net/?p=108058 16h00 ngày 12/7/2016 (giờ Hà Nội, tức là 11h00 giờ Hà Lan), cả thế giới nín thở, hồi hộp chờ đợi Tòa trọng tài vụ kiện Biển Đông giữa Phi-lip-pin và Trung Quốc được thành lập theo Phụ lục VII của Công ước Luật Biển 1982 (Tòa Trọng tài) công bố phán Phán quyết sau hơn 3 năm thụ lý và phân xử.

Trước đó, thông tin về thời điểm công bố Phán quyết đã được công bố và do đó, vào thời điểm 16h00 ngày 12/7/2016, hàng triệu người trên thế giới đã cùng truy cập vào website của Tòa trọng tài thường trực (PCA) khiến cho mạng của PCA bị nghẽn và hầu như không thể truy cập. Điều này càng tạo ra sự tò mò và phấn khích cho những người quan tâm đến vụ kiện và Phán quyết.

Trong vòng khoảng 1 tiếng sau khi Phán quyết và Bản tóm tắt Phán quyết được công bố chính thức, hàng triệu người đã chia sẻ, truyền tay nhau nội dung hai văn bản này và hàng triệu người cũng đã vỡ òa cảm xúc khi 14/15 đệ trình của Phi-líp-pin được Tòa trọng tài ủng hộ trong kết luận của mình. Cũng chỉ trong một vài tiếng sau đó, Bộ Ngoại giao Phi-líp-pin và hàng loạt nước trong và ngoài khu vực đã lên tiếng về Phán quyết và phía Trung Quốc cũng đã có phản ứng ngay lập tức.

Những ngày sau đó, 479 trang Phán quyết đã được nhiều học giả, chuyên gia luật pháp quốc tế nhận xét, bình luận dưới nhiều góc độ khác nhau, tuy nhiên, đa phần đều đi đến một nhận định chung là Phán quyết đã là một dấu ấn đi vào lịch sử , tạo ra một khuôn khổ pháp lý mới cho tranh chấp ở khu vực Biển Đông.  Phán quyết cũng được cho là sẽ mở ra cơ hội lớn hơn cho việc xử lý các tranh chấp ở khu vực Biển Đông.

7 năm qua cho thấy những nhận định nêu trên về Phán quyết là hoàn toàn chính xác cho dù chính giới, học giả Trung Quốc tìm mọi cách có thể để hạ thấp vai trò của Phán quyết. Phán quyết đã chứng minh sức sống mãnh liệt của mình, ngày càng phát huy vai trò trên thực tế, ngày càng trở thành một phần quan trọng của luật pháp quốc tế nói chung, Luật Biển quốc tế nói riêng.

Nhân dịp này, chúng ta cùng nhìn lại nội dung Phán quyết và những đóng góp của Phán quyết đối với khu vực Biển Đông cũng như đối với cộng đồng quốc tế.

Các mốc chính và nội dung vụ kiện và Phán quyết

Ngày 22/01/2013, cộng đồng quốc tế đã khá bất ngờ trước việc Phi-líp-pin đã vận dụng các quy định tại Phụ lục VII của Công ước 1982, khởi động tiến trình trọng tài để kiện Trung Quốc liên quan đến vấn đề quyền lịch sử, cơ sở xác định quyền có vùng biển, quy chế pháp lý của một số thực thể thuộc quần đảo Trường Sa, các hành động của Trung Quốc mà Phi-líp-pin cho là bất hợp pháp. Các nội dung kiện của phía Phi-líp-pin được cụ thể hóa trong 15 yêu cầu cụ thể của nước này[1]. Ngay sau khi Phi-líp-pin khởi động vụ kiện, ngày 19/2/2003, Chính phủ Trung Quốc đã từ chối và trả lại công hàm của Phi-líp-pin cùng với đơn khởi kiện Trung Quốc, chính thức chính sách “không chấp nhận cũng như không tham gia vào tiến trình trọng tài do Phi-líp-pin khởi xướng”.

Tuy nhiên, theo các quy định có liên quan của Công ước Luật Biển 1982 (Phần XV và Phụ lục VII), việc “vắng mặt của một bên hoặc việc một bên không thực hiện việc biện hộ không tạo nên bất kỳ rào cản nào cho tiến trình tố tụng” miễn là “Tòa trọng tài phải chắc chắn rằng Tòa có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp cũng như nội dung vụ kiện phải được chứng minh đầy đủ cả về mặt pháp lý và thực tế”. Theo quy định, Tòa trọng tài vụ kiện Biển Đông giữa Phi-líp-pin và Trung Quốc gồm có 5 trọng tài viên, hình thành bằng cách Phi-líp-pin và Trung Quốc mỗi nước bổ nhiệm 01 trọng tài đại diện cho mình trong vòng 30 ngày tính từ ngày Phi-líp-pin khởi kiện. Tuy nhiên, do Trung Quốc không tham gia vụ kiện, nên việc


[1] 1) Phạm vi các vùng biển mà Trung Quốc có quyền được hưởng trên Biển Đông, cũng giống như Phi-líp-pin, không thể vượt ngoài những gì được Công ước Luật Biển 1982 cho phép; 2) Các yêu sách của Trung Quốc về các quyền chủ quyền và quyền tài phán và đối với “các quyền lịch sử” đối với các vùng biển trên Biển Đông nằm bên trong cái gọi là “đường chin đoạn” là trái với Công ước Luật Biển 1982 và không có hiệu lực pháp lý trong chừng mực mà chúng vượt quá các giới hạn địa lý và thực chất của các vùng biển mà Trung Quốc có quyền được hưởng theo Công ước Luật Biển 1982; 3) Bãi Scarborough không được hưởng vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa riêng; 4) Bãi Vành Khăn, bãi Cỏ Mây và đá Xu- bi đều là các bãi cạn nửa nổi, nửa chìm và chúng không thể có lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa, đồng thời không phải là các thực thể có thể được thụ đắc thông qua chiếm đóng hay cách khác; 5) Bãi Vành Khăn, và bãi Cỏ Mây là một phần vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Phi-líp-pin; 6) Đá Ga-ven và đá Ken-nan (bao gồm cả đá Huy-gơ) là các bãi cạn nửa nổi, nửa chìm và chúng không thể có lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa, nhưng ngấn nước thấp nhất của chúng có thể được dùng để lần lượt xác định đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải của đảo Nam Yết và Sinh Tồn; 7) Bãi Gạc Ma, đá Châu Viên và đá Chữ Thập không thể được hưởng vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa; 8) Trung Quốc đã can thiệp một cách bất hợp tới việc Phi-líp-pin hưởng và thực thi các quyền chủ quyền của mình liên quan đến các nguồn tài nguyên sinh vật và phi sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế của Phi-líp-pin; 9) Trung Quốc đã hành động một cách bất hợp pháp khi không ngăn cả công dân và tàu thuyền của mình khai thác các nguồn tài nguyên sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế của Phi-líp-pin; 10) Trung Quốc đã ngăn cản một cách bất hợp pháp việc ngư dân Phi-líp-pin theo đuổi kế sinh nhai bằng việc can thiệp vào các hoạt đồng đánh bắt cá truyền thống tại bãi Scarborough; 11) Trung Quốc đã vi phạm nghĩa vụ theo Công ước Luật Biển 1982 trong việc bảo vệ và bảo tồn môi trường biển ở bãi Scarborough và bãi Cỏ Mây; 12) Việc Trung Quốc chiếm đóng và tiến hành các hoạt động xây dựng tại bãi Vành Khăn: (a) vi phạm các điều khoản của Công ước liên quan đến các đảo nhân tạo, thiết bị và công trình; (b) vi phạm nghĩa vụ của Trung Quốc trong việc bảo vệ và bảo tồn môi trường biển theo Công ước; và (c) cấu thành các hành vi bất hợp pháp trong việc cố tình chiếm đoạt theo cách vi phạm Công ước; 13) Trung Quốc đã vi phạm các nghĩa vụ theo Công ước trong việc sử dụng các tàu chấp pháp một cách nguy hiểm, gây ra nguy cơ nghiêm trọng về va chạm với tàu của Phi-líp-pin hoạt động xung quanh bãi Scarborough; 14) Từ khi vụ kiện trọng tài được bắt đầu từ tháng 01/2013, Trung Quốc đã làm trầm trọng thêm và mở rộng tranh chấp thông qua: (a) can thiệp vào các quyền hàng hải của Phi-líp-pin trong vùng nước tại và tiếp giáp bãi Cỏ Mây; (b) ngăn cản việc luân chuyển và tiếp tế cho lực lượng Phi-líp-pin đồn trú tại bãi Cỏ Mây; và (c) đe dọa đến sức khỏe và đời sống của lực lượng Phi-líp-pin đồn trú tại Cỏ Mây; 15) Trung Quốc phải chấm dứt có thêm các yêu sách và hành động phi pháp.

chỉ định trọng tài đại diện cho Trung Quốc thuộc về thẩm quyền của Chánh án Tòa án quốc tế về Luật Biển. Ngày 25/3/2013, một thẩm phán Tòa án quốc tế về Luật Biển, thẩm phán Stanislav Polack, quốc tịch Ba Lan đã được lựa chọn làm trọng tài đại diện cho Trung Quốc. Đồng thời, 3 trọng tài viên còn lại là ông Jean- Pierre Cot (Thẩm phán Tòa án quốc tế về Luật Biển, quốc tịch Pháp),  Alfred Soon (Thẩm phán Tòa án quốc tế về Luật Biển, quốc tịch Hà Lan) và Thomas Mensah (cựu Chánh án Tòa án quốc tế về Luật Biển, quốc tịch Gha-na)[1] và ông Thomas Mensah được cử làm Chủ tịch Tòa trọng tài. Trọng tài đại diện cho Phi-líp-pin là ông Rudiger Wolfrum, quốc tịch Đức và cũng là cựu thẩm phán Tòa án quốc tế về Luật Biển. Nhìn vào danh sách các trọng tài viên chúng ta thấy đây đều là những người có chuyên môn sâu về Luật Biển quốc tế và đều là thẩm phán của Tòa án quốc tế về Luật Biển. Hay nói một cách khác, đây cũng chính là vụ xét xử của “Tòa án quốc tế về Luật Biển”.

Ngày 30/3/2014, Phi-líp-pin đã đệ trình lên Tòa trọng tài Bản bị vong lục lần thứ nhất của mình gồm khoảng 4000 trang bao gồm các lập luận, văn bản và sơ đồ, bản đồ. Tiếp đó, 15/3/2015, Phi-líp-pin đệ trình thêm trên 3000 trang tài liệu cho Tòa. Trong toàn bộ tiến trình này, Trung Quốc tiếp tục quan điểm không chấp nhận vụ kiện và không đệ trình bất cứ văn bản nào.

Do việc Trung Quốc không tham gia vụ kiện nên, Tòa trọng tài đã tiến hành một cách khá cẩn trọng hoạt động xét xử của mình và quá trình này Tòa đã ra 02 phán quyết, thứ nhất Phán quyết về thẩm quyền và khả năng thụ lý vụ việc (29/10/2015) và Phán quyết về nội dung vụ kiện (12/7/2016).

Phán quyết về nội dung vụ kiện đã làm rõ ý kiến của Tòa trọng tài đối với 15 đề nghị xét xử của Phi-líp-pin theo đó, Tòa trọng tài đã quyết định: Về ‘đường chín đoạn’ và yêu sách “quyền lịch sử” của Trung Quốc trên các vùng biển thuộc Biển Đông: Tòa Trọng tài đã xem xét lịch sử của Công ước và những điều khoản của nó liên quan đến các vùng biển và kết luận rằng mục đích của Công ước là quy định một cách toàn diện các quyền của các quốc gia đối với các vùng biển. Tòa cũng nhận thấy rằng yêu sách về quyền lịch sử của Trung Quốc đối với các tài nguyên là không phù hợp với quy định chi tiết về quyền và vùng biển của Công ước và kết luận rằng, nếu Trung Quốc có quyền lịch sử đối với tài nguyên ở các vùng biển ở Biển Đông, những quyền đó đã bị xóa bỏ bởi việc Công ước có hiệu lực ở chừng mực mà chúng không phù hợp với hệ thống các vùng biển


[1] Ông Chris Pinto, quốc tịch Srilanca được Chủ tịch Tòa án Luật biển chỉ định làm Trọng tài viên. Tuy nhiên, do ông Chris Pinto có vợ là người Phi-líp-pin nên ông Chris Pinto đã chủ động xin không tham gia và ông Thomas Mensah được chỉ định thay thế.

của Công ước. Do đó, Tòa kết luận rằng, giữa Philippines và Trung Quốc, không có căn cứ pháp lý nào để Trung Quốc yêu sách các quyền lịch sử đối với tài nguyên, bên ngoài những quyền quy định trong Công ước, tại các vùng biển nằm bên trong ‘đường chín đoạn’.

Về Quy chế của các thực thể tại Biển Đông: Theo Tòa Trọng tài, Điều 13 và 121 của Công ước quy định rõ, các thực thể nổi trên mặt nước vào lúc thủy triều lên cao sẽ ít nhất được hưởng lãnh hải 12 hải lý, trong khi những cấu trúc bị chìm khi thủy triều lên sẽ không có quyền có các vùng biển. Tòa Trọng tài cũng đã giải thích rõ Điều 121, đặc biệt là khoản 3 của Điều này, theo đó Tòa kết luận rằng các quyền có vùng biển của một cấu trúc phụ thuộc vào (a) năng lực khách quan của cấu trúc; (b) trong điều kiện tự nhiên, nó có thể duy trì hoặc (c) một cộng đồng dân cư ổn định hoặc (d) hoạt động kinh tế mà không phụ thuộc vào tài nguyên bên ngoài và cũng không thuần túy mang tính chất khai thác.

Trên cơ sở các phân tích của mình, Tòa Trọng tài nhất trí với Philippines rằng bãi Scarborough, Gạc Ma, Châu Viên và Chữ Thập là các cấu trúc nổi và Xu Bi, Huy-gơ, Vành Khăn và Cỏ Mây là cấu trúc chìm trong điều kiện tự nhiên. Tuy nhiên, Tòa Trọng tài không nhất trí với Philippines về quy chế của Ga Ven (phía Bắc) và Ken Nan và kết luận rằng cả hai đều là cấu trúc nổi. Tòa Trọng tài cũng kết luận rằng tất các cấu trúc nổi tại Trường Sa (bao gồm, ví dụ, Ba Bình, Thị Tứ, Bến Lạc, Trường Sa, Song Tử Đông, Song Tử Tây) đều là “đảo đá” về mặt pháp lý và không tạo ra vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa và Công ước không quy định việc một nhóm các đảo như quần đảo Trường Sa sẽ có các vùng biển với tư cách là một thực thể thống nhất.

Về các hành vi của Trung Quốc tại Biển Đông: Sau khi kết luận Vành Khăn, Bãi Cỏ Mây và Bãi Cỏ Rong là cấu trúc chìm, tạo thành một phần của vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Phi-líp-pin và không chồng lấn với bất kỳ vùng biển nào Trung Quốc có thể có, Tòa Trọng tài khẳng định Công ước đã rõ ràng trong việc trao quyền chủ quyền cho Philippines đối với các khu vực biển trong vùng đặc quyền kinh tế của nước này. Tòa Trọng tài xác định, trên thực tế, Trung Quốc đã (a) can thiệp vào việc thăm dò dầu khí của Phi-líp-pin tại Bãi Cỏ Rong; (b) chủ ý cấm các tàu Philippines đánh bắt cá trong vùng đặc quyền kinh tế của Phi-líp-pin và (c) bảo vệ cho và không ngăn ngừa các ngư dân Trung Quốc đánh bắt cá trong vùng đặc quyền kinh tế của Phi-líp-pin tại Vành Khăn và Bãi Cỏ Mây, và (d) xây dựng các công trình và đảo nhân tạo tại Vành Khăn mà không được sự đồng ý của Phi-líp-pin. Do vậy Tòa Trọng tài kết luận rằng Trung Quốc đã vi phạm quyền chủ quyền của Phi-líp-pin đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước này.

 Tòa cũng xác định rằng Trung Quốc đã vi phạm nghĩa vụ tôn trọng quyền đánh cá truyền thống của ngư dân Phi-líp-pin khi ngăn chặn tiếp cận bãi cạn Scarborough sau tháng 5 năm 2012; khẳng định quyền đánh cá truyền thống tại bãi Scarborough đã tồn tại từ lâu đối với ngư dân các nước trong khu vực.

Tòa Trọng tài cũng xem xét tác động của các hành vi của Trung Quốc đối với môi trường biển. Tòa Trọng tài xác định rằng việc Trung Quốc cải tạo đất quy mô lớn và xây dựng đảo nhân tạo gần đây tại bảy cấu trúc tại Trường Sa đã gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đối với môi trường rặng san hô và Trung Quốc đã vi phạm nghĩa vụ của mình theo Điều 192 và 194 của Công ước trong việc bảo tồn và bảo vệ môi trường biển đối với các hệ sinh thái dễ bị tổn thương và môi trường sinh sống của các loài động vật bị đe dọa, sắp cạn kiệt. Đồng thời Tòa Trọng tài cũng xác định rằng ngư dân Trung Quốc đã thực hiện việc khai thác động vật bị đe dọa như rùa biển, san hô và trai khổng lồ ở quy mô lớn tại Biển Đông, sử dụng các biện pháp gây hủy hoại nghiêm trọng đối với môi trường rặng san hộ. Tòa Trọng tài xác định rằng chính quyền Trung Quốc đã nhận thức được các hành vi này và không thực hiện nghĩa vụ cẩn trọng theo Công ước để ngăn chặn.

Tòa Trọng tài xác định rằng các tàu chấp pháp của Trung Quốc đã liên tiếp tiếp cận tàu Phi-líp-pin với tốc độ cao và cố gắng cắt đầu các tàu này ở khoảng cách gần, tạo ra nguy cơ đâm va cao và nguy hiểm cho tàu và người của Phi-líp-pin. Tòa Trọng tài kết luận rằng Trung Quốc đã vi phạm nghĩa vụ theo Công ước về Quy định Quốc tế để Ngăn ngừa Va chạm trên Biển 1972 và Điều 94 của Công ước liên quan đến an toàn hàng hải.

Về việc làm trầm trọng thêm tranh chấp giữa các Bên: Trong Tòa Trọng tài thấy rằng Trung Quốc đã (a) xây dựng một đảo nhân tạo lớn tại Vành Khăn, một cấu trúc lúc chìm lúc nổi nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines; (b) gây ra hủy hoại lâu dài, không thể phục hồi đối với hệ sinh thái rặng san hộ và (c) phá hủy lâu dài các chứng cứ về điều kiện tự nhiên của các cấu trúc này. Tòa Trọng tài kết luận rằng Trung Quốc đã vi phạm các nghĩa vụ về kiềm chế làm trầm trọng thêm và kéo dài tranh chấp giữa các Bên trong khi chờ quá trình xét xử./.

]]>