Philippines – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Mon, 15 Dec 2025 16:25:48 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 Thấy gì từ cọ xát, tranh chấp trên thực địa giữa TQ với Philippines từ đầu 2025 tới nay? https://biendong.net/2025/10/29/thay-gi-tu-co-xat-tranh-chap-tren-thuc-dia-giua-tq-voi-philippines-tu-dau-2025-toi-nay/ Wed, 29 Oct 2025 02:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=159036 Các vụ việc cọ sát nổi gần đây cho thấy tranh chấp giữa hai nước Trung Quốc và Philippines từ đầu 2025 tới nay tiếp tục diễn biến hết sức gay gắt, phức tạp  và  không dễ lắng xuống trong thời gian tới.

       1. Các vụ việc cọ sát nổi gần đây cho thấy tranh chấp giữa hai nước Trung Quốc và Philippines từ đầu 2025 tới nay tiếp tục diễn biến hết sức gay gắt, phức tạp  và  không dễ lắng xuống trong thời gian tới. Từ đầu 2025 tới nay, theo thống kê chưa đầy đủ, dư luận thế giới, khu vực ghi nhận xảy ra 8 vụ việc cọ sát, tranh chấp, có 6 vụ việc cọ sát lớn giữa hai bên khiến dư luận khu vực hết sức quan tâm, trong đó từ tháng 8 tới nay có 3 vụ việc xảy ra liên tiếp trong các tháng 8, 9, 10.

Cụ thể: ngày 11/8/2025, tàu cảnh sát biển Trung Quốc có hành vi xua đuổi quyết liệt, nguy hiểm không ngại đâm va tàu của Philippines. Các hành vi hung hăng, cuỡng ép điên cuồng đã khiến chính các tàu công vụ của Trung Quốc đâm va với nhau khiến tàu CCG 3104 bị hư hại nặng, làm mấy binh lính Trung Quốc rơi xuống biển ở gần bãi cạn Scarborough, sự kiện chưa từng có. Tiếp theo, cũng ở khu vực Scarborough, trong các ngày 15-16/9, Trung Quốc dùng vòi rồng xua đuổi đâm va, đẩy lùi tàu Philippines làm vỡ kính tàu Philippines, một nhân viên bị thương nhẹ. Rồi mới đây nhất, ngày 12-13/10, tàu cảnh sát biển Trung Quốc cố tình đâm va tàu Philippines (BRP Datu Pagbuaya) ở gần khu vực chưa đến 2 hải lý gần Thị Tứ, khiến tàu này bị hư hại nhẹ ở phần đuôi. Trung Quốc đổ lỗi cho Philippines huy động có tổ chức, có ý đồ cho một số lượng lớn tàu thuyền khiêu khích ở các vùng biển liên quan của Trung Quốc, khẳng định đảo Thị Tứ, bãi Sandy Cay, đá Subi thuộc “cái gọi là” Nam Sa của Trung Quốc; đổ lỗi nguợc cho Philippines thực hiện các thao tác nguy hiểm gây ra va chạm. Philippines lên án hành động của Trung Quốc là bắt nạt, vi phạm các quy định về ứng xử hàng hải và tuyên bố sẽ áp dụng các biện pháp ngoại giao phù hợp.

        2. Từ đầu 2025 tới nay, khu vực Scarborough và Sandy Cay –  Thị Tứ chiến truờng cọ sát chính.

          Nếu như trong các năm 2023-2024, cọ sát giữa Trung Quốc và Philippines hết sức căng thẳng, nóng cả ở khu vực bãi cạn Second Thomas Shoal và hình thành điểm cọ sát mới ở khu vực bãi Sabina Shoal (xảy ra 3 vụ cọ sát vào cuối 2024 ) thì đáng chú ý, trong 2025, tình hình bãi cạn Second Thomas và Sabina có vẻ tạm lắng dịu hơn; chỉ ghi nhận một vài vụ nhỏ tàu hải cảnh Trung Quốc đến ‘giám sát tàu dân sự Philippines’ tiếp tế cho quân đồn trú trên chiếc tàu chiến cũ BRP Sierra Madre, hoặc tàu tuần duyên Philippines bị quấy nhiễu khi tiếp tế ngư dân song không xảy ra vụ việc cọ sát lớn, căng thẳng. Tuy nhiên, từ đầu 2025 tới nay, cọ sát nổi lên nhiều ở khu vực Sandy Cay đồng thời tiếp tục cọ sát gay gắt ở khu vực Scarborough vốn đã nóng lên từ cuối năm 2024. Theo thống kê sơ bộ, từ tháng 01/2025, các vụ cọ sát lớn, đáng kể của hai bên đều tập trung nhiều vào hai khu vực Sandy Cay và Scarborough, trong  8 vụ lớn, nhỏ giữa hai nuớc ở khắp khu vực Biển Đông giữa hai nuớc từ đầu 2025 tới nay, có 6 vụ khá nghiêm trọng bao gồm 3 vụ ở Sandy Cay, 3 vụ ở Scarborough.

          Căng thẳng ở bãi cạn Scarborough ngày càng gay gắt là hệ lụy tiếp diễn của các sự việc liên quan nóng lên gay gắt từ nửa cuối 2024 khi hai bên đều tìm cách khẳng định chủ quyền của mình, nhất là từ phía Bắc Kinh với những động thái pháp lý, thực địa hết sức cứng rắn, sẵn sàng chơi tới cùng với con bài vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, hải cảnh đi truớc, tàu chiến theo sau. Theo Phán quyết của Tòa Trọng tài vụ kiện Biển Đông năm 2016 (Phán quyết 2016), Bãi cạn Scarborough là một thực thể luôn nổi, nằm cách đảo Luzon của Philippines khoảng 220-240 km, hoàn toàn trong vùng EEZ của nước này, song bị “đuờng luỡi bò” của Trung Quốc “liếm mất” từ 2012. Năm 2024, Trung Quốc có điều chỉnh cơ bản lập truờng pháp lý đối với khu vực này khi công bố thiết lập đuờng cơ sở đối với Scarborough, gây phản ứng mạnh mẽ của Philippines. Chưa dừng lại, tháng 9/2025, Trung Quốc “phê duyệt khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia” ở Scarborough, thiết lập vùng lõi, thử nghiệm sinh thái nhằm bảo vệ cái gọi là ‘bảo vệ đa dạng sinh học”, thực chất là tiến thêm một buớc khẳng định chủ quyền, ngăn chặn tuyệt đối tàu bè Philippines vào khu vực này, củng cố thế chiếm đóng trên thực địa, triệt để đẩy Philippines khỏi khu vực này bằng cả pháp lý và trên thực địa. Còn Philippines phản ứng mạnh, cho đây là cách mà Trung Quốc hợp thức hóa và quân sự hóa tiền đồn chiếm đóng bất hợp pháp ở Scarbrough. Philippines cũng cố gắng duy trì đuợc sự hiện diện tối thiểu bằng tàu công vụ và ngư dân nhằm khẳng định chủ quyền của mình. Mỹ cũng hỗ trợ về ngoại giao và trên thực địa song sức cùng lực kiệt.

          – Bãi Sandy Cay nổi lên trở thành điểm nóng đáng chú ý. Đáng chú ý, từ đầu năm tới nay đã xảy ra 3 vụ việc cọ sát khá quyết liệt trong các tháng 1, tháng 5 và này 12-13/10 vừa qua giữa Trung Quốc với Philippines. Sandy Cay là tên tiếng Anh được dùng để chỉ 3 thực thể gần nhau gồm Đá Hoài Ân, Tri Lễ và Cái Vung, chủ yếu gồm các cồn cát nhỏ, bãi cát nổi, chìm theo thủy triều nằm sát đảo Thị Tứ, (cụm Thị Tứ). Các thực thể này nằm cách cách đảo Thị Tứ khoảng 2-3 hải lý song khác với đảo Thị Tứ về tính chất địa lý, địa vị pháp lý và tình trạng kiểm soát.  Việt Nam cũng tuyên bố có chủ quyền đối với cụm Thị Tứ bao gồm Sandỵ Cay. Ngày 16/10, Nguời phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng lên tiếng về vụ cọ sát ngày 12/10, tỏ hết sức quan ngại, đề nghị các bên tôn trọng chủ quyền của Việt Nam, kiềm chế, tuân thủ luật pháp quốc tế, Công ước Luật biển 1982, tôn trọng quy tắc hàng hải, tạo không khí cho việc xây dựng Bộ quy tắc ứng  xử ở Biển Đông (COC) hiệu lực, thực chất và phù hợp với luật pháp quốc tế nhất là UNCLOS.

       3. Tại sao từ khu vực Scarobough và Sandy Cay lại trở nên nóng lên liên tục từ đầu năm tới nay?

        Thứ nhất, hai khu vực này là hai bãi chiến truờng phản ánh khá toàn diện cuộc chiến tranh chấp chủ quyền, quyền tài phán khó khoan nhuợng giữa Trung Quốc với Philippines, riêng khu vực Sandy Cay có liên quan đến Việt Nam. Tham vọng độc chiếm biển Đông bất chấp luật pháp quốc tế của Trung Quốc là không có dư địa dung hòa với lập truờng tuân thủ Công uớc về luật biển 1982 theo chủ truơng của phía Philippines. Chắc chắn chung cuộc sẽ dẫn đến một bên phải nhuợng bộ, hoặc bị mất chủ quyền, quyền chủ quyền. Trên thực tế, nuớc lớn như Trung Quốc với dã tâm như vậy làm sao mà nhuợng bộ nuớc bé, yếu như Philippines?. Philippines cũng không thể từ bỏ chủ quyền của mình đuợc Luật pháp quốc tế công nhận, đuợc đại đa số các nuớc ủng hộ. Từ nhiều thập kỷ qua, Trung Quốc sử dụng nhiều sách luợc, chiến thuật tinh vi, lắt léo, thô thiển như kiểu ‘con tằm ăn lá dâu’, ‘tuớc dần lá bắp cải’, ‘luộc ếch’ hay  “vùng xám”, đã thành công trong việc xâm chiếm, khống chế nhiều vùng biển và các thực thể của Philippines. Cả hai khu vực Scarobough và Sandy Cay nổi lên hơn như một ví dụ điển hình cho việc giành giật, thể hiện dã tâm bành truớng mới của Trung Quốc ở Biển Đông trong thời gian gần đây của “thời đại Tập Cận Bình”. Philippines là đối tuợng dễ bị Trung Quốc xử lý nhất trong các nuớc có tranh chấp với Trung Quốc; đồng thời nó cũng làm phức tạp thêm tình hình tranh chấp thực địa ở khu vực Trường Sa liên quan tới 5 nước 6 bên; đối với khu vực Thị Tứ là giữa 3 nước Việt Nam, Philippines và Trung Quốc, song cọ sát chủ yếu là giữa Philippines với Trung Quốc vì Philippines đang chiếm giữ thực tế Thị Tứ và coi Sandy Cay thuộc lãnh hải của Thị Tứ.

        Thứ hai, mấy năm gần đây, chiến luợc của Trung Quốc trên thực địa từ khống chế vùng biển chuyển sang mở rộng tăng cường thế khống chế, thế kiểm soát thực thể. Sau khi tôn tạo phi pháp trên các thực thể từ 2013-2016, từ 2017 tới nay, sau khi đã hình thành xong thế trận khống chế trên biển,  không cho các nuớc triển khai các hoạt động khai thác tài nguyên biển, mấy năm gần đây, Trung Quốc tập trung khống chế các nuớc có ‘ý đồ’ mở rộng, củng cố yêu sách đối với các thực thể, tự cho mình một ‘chủ nhân ông’ thực thi ‘quyền hành’ đối với các nuớc trên thực địa, duờng như chỉ có Trung Quốc mới có quyền tôn tạo, kiểm soát, cấm cản các hoạt động thực thi chủ quyền của các nuớc khác ở khu vực Biển Đông. Trung Quốc đang tìm cách kiểm soát, khống chế không cho các nước liên quan tiến hành kiểm soát, tôn tạo các cấu trúc ở Trường Sa, nhất là đối với các cấu trúc chưa có sự hiện diện, chiếm đóng của bên nào.

        Thứ ba, gây sức ép buộc các bên liên quan chấp nhận COC theo nguyên trạng mà Trung Quốc áp đặt phi lý, có lợi cho họ trong giai đoạn tới. Việc Trung Quốc tăng cuờng gây sức ép với Philippines có thể nhằm ngăn chặn Phi-li-pin tiến hành cải tạo Thị Tứ trong đó có hoạt động nhằm khẳng định chủ quyền trên thực địa, về pháp lý ở khu vực Sandy Cay, từ đó tạo sức ép trên thực địa, hỗ trợ buộc Philippines phải chấp nhận ký kết một COC theo ý của Trung Quốc trong thời gian tới. Về pháp lý, Philippines coi Sandy Cay là thực thể thuộc lãnh  hải Thị Tứ mà nước này đã quản lý thực tế. Thị Tứ là trung tâm hành chính và căn cứ lớn nhất của Philippines ở Truờng Sa trong khi Trung Quốc lại lập luận phi lý, coii Sandy Cay thuộc đảo nhân tạo Xu bi của họ. Subi là một trong 3 tiền đồn lớn nhất của Trng Quốc ở Truờng Sa. Đây cũng là hành động thực tế của Trung Quốc nhằm phủ định Phán quyết 2016. Theo Phán quyết 2016, Sandy Cay là  một thực thể luôn nổi trên rạn san hộ phía Tây của Thị Tứ. Bên cạnh đó, các vụ việc đối với bãi cạn lúc chìm lúc nổi The Second Thomas Shoal, Sabina cũng thể hiện ý đồ gây sức ép để các bên liên quan kết thúc đàm phán, chấp nhận một kịch bản COC kiểu Trung Quốc, kể cả việc phản đối Việt Nam tôn tạo trên Truờng Sa cũng nằm trong ý đồ này.

         Thứ tư, đối với Trung Quốc, bản thân tính chất của hai khu vực này, về chiến luợc, ý nghĩa chính trị, quan trọng phức tạp hơn so với khu vực khác. Khu vực Scarborough có vị trí chiến luợc ở Biển Đông bị Trung Quốc khống chế từ tay Philippines từ 2012, năm bắt đầu lên cầm quyền của Tập Cận Bình. Đây là “thành tựu”  bành truớng của Tập nên Trung Quốc cứng rắn, quyết tâm giữ bằng đuợc và sẵn sàng dùng vũ lực. Còn Sandy Cay có vị trí chiến lược, là “vùng đệm tự nhiên” giữa đảo Thị Tứ và đá Xu bi; ai kiểm soát được Sandy Cay có thể giám sát, uy hiếp được Thị Tứ và Xu bi. Trung Quốc có ý đồ mở rộng phạm vi kiểm soát từ Xu bi ra tới Sandy Cay nhằm tạo vùng đệm chiến luợc khống chế đảo và các tuyến đuờng biển xung quanh, kể cả các đảo của Việt Nam như Trường Sa lớn chỉ cách đó có 25 hải lý. Do vậy, Trung Quốc ra sức uy hiếp, đe dọa bất cứ sự hiện diện nào của  Philippines tại khu vực trên, không cho Philippines có ý đồ hiện diện trên Sandy Cay,  càng không để Philippines hiện thực hóa việc coi Sandy thuộc Thị Tứ.

       Thứ năm, các khu vực the Second Thomas sau một thời gian cọ sát gay gắt, hai bên duờng như đã xây dựng một “công thức” xử lý, tạm đông kết thực tế nguyên trạng mà không bên nào giành lợi thế rõ ràng nhằm tạm thời hạ nhiệt điểm nóng khu vực này. Đáng lưu ý là chưa rõ vai trò của một “thỏa thuận quân tử” duới thời của Tổng thống Dutete, một văn bản miệng nhằm giữ ‘hòa khí, tránh xung đột’ với Trung Quốc của ông này, gây nhiều mâu thuẫn, phê phán trong nội bộ Philippines. Theo đó, Trung Quốc không cản trở các chuyến tiếp tế nhân đạo nếu Philippines không vận chuyển vật liệu xây dựng hoặc sửa chữa lớn con tàu chiến cũ Sierra Madre. Còn đối với khu vực Sabina hoặc một số thực thể khác chưa có bên nào chiếm đóng thì cả Trung Quốc và Philippines đều cảnh giác lẫn nhau, sợ đối phuơng tìm cách hiện diện, chiếm đóng khi có thời cơ, song truớc mắt ít có khả năng Trung Quốc đơn phuơng chiếm đóng, còn Philippines thì không dám, do không có lực chiếm, chỉ tìm cách giữ nguyên trạng dù có ưu thế pháp lý. Trong bối cảnh hiện nay, các bên tiếp tục giữ nguyên trạng, nhất là trong bối cảnh đang huớng tới xây dựng COC vào năm 2026. Khu vực Scarborough thì tính chất có khác hơn, Trung Quốc đã nuốt chửng ngon lành từ 2012 thì nay họ không thể nhả ra. Còn Philippines thì quyết không chịu mất, song sức yếu không làm đuợc gì nhiều. Hai bên rất găng nhau vì không có dư địa lùi buớc, nhuợng bộ. Còn đối với Sandy Cay thì liên quan trực tiếp tới Thị Tứ và Subi, hai tiền đồn chính của Philippines và Trung Quốc ở rất gần nhau có tính chất chiến luợc, vai trò kiểm soát lẫn nhau quan trọng và phức tạp hơn một số khu vực khác như The Second Thomas, Sabina…ít nhất trong giai đoạn hiện nay.         Thứ sáu và cuối cùng không thể không liên quan tới bối cảnh cạnh tranh chiến luợc các nuớc lớn. Trung Quốc muốn “nhất cử đa tiện” nhân xảy ra tranh chấp thì cố gắng tìm cách trả đũa, dằn mặt việc Phi-li-pin điều chỉnh chính sách duới thời Marcos quyết tâm dựa vào Mỹ, cho Mỹ đặt thêm căn cứ quân sự, liên kết các đồng minh lôi kéo bên ngoài vào khu vực Biển Đông, quyết tâm thực thi phán quyết, pháp lý hóa các vùng biển của Phi-li-pin, quốc tế hóa vấn đề Biển Đông nên Trung Quốc  càng cay cú, quyết ra tay “giết gà, dọa khỉ”. Tuy nhiên, có thể thấy, nhân tố Mỹ chỉ là nhân tố phụ, bổ sung không phải là nguyên nhân chính khiến Trung Quốc có thái độ cứng rắn đối với Philippines trong các cọ sát ở Biển Đông duới thời của Tổng thống Marcos.

]]>
Ý kiến của chuyên gia về nhu cầu có một hiệp ước phòng thủ Mỹ-Nhật-Australia-Philippines để đối phó với TQ https://biendong.net/2025/10/22/y-kien-cua-chuyen-gia-ve-nhu-cau-co-mot-hiep-uoc-phong-thu-my-nhat-australia-philippines-de-doi-pho-voi-tq/ Wed, 22 Oct 2025 03:43:19 +0000 https://biendong.net/?p=159024 Bên lề Đối thoại Shangri-La 2025, ngày 31/5, Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Quốc phòng Australia Richard Marles, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Nakatani Gen, Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Gilberto Teodoro, Jr. và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth đã có cuộc họp 4 bên.

Mở đầu cuộc họp, Bộ trưởng Nakatani cho biết Trung Quốc đang tăng cường hoạt động tại các khu vực Biển Hoa Đông và Biển Đông; bày tỏ hy vọng các bên sẽ thảo luận toàn diện về hợp tác quốc phòng để ứng phó. Sau cuộc họp, 4 bộ trưởng đã ra tuyên bố chung tiếp tục bày tỏ “mối quan ngại nghiêm trọng về các hành động gây mất ổn định của Trung Quốc ở Biển Hoa Đông và Biển Đông, và bất kỳ nỗ lực đơn phương nào nhằm thay đổi hiện trạng bằng vũ lực hoặc cưỡng ép””.

Theo tuyên bố chung, các bộ trưởng quốc phòng cũng nhắc lại mối quan ngại nghiêm trọng của mình về hành vi nguy hiểm của Trung Quốc ở Biển Đông đối với Philippines và các quốc gia khác, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giải quyết tranh chấp một cách hòa bình; kêu gọi hòa bình và ổn định trong khu vực, nhấn mạnh tầm quan trọng của vai trò trung tâm của ASEAN và cấu trúc khu vực do ASEAN dẫn đầu trong việc đảm bảo an ninh và ổn định ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Các nhà lãnh đạo quốc phòng cũng tái khẳng định tầm quan trọng của sự hợp tác và đồng bộ hóa hoạt động của 4 nước ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, bao gồm cả ở biển Hoa Đông và Biển Đông, để đảm bảo răn đe, hòa bình và an ninh tốt hơn; đồng thời nhất trí bàn việc lập kế hoạch cho các hoạt động tình báo, giám sát và trinh sát chung nhằm cải thiện khả năng tương tác và phối hợp về nhận biế tình hình trên biển và trên không hiệu quả ở biển Hoa Đông, Biển Đông và những vùng biển xung quanh.

Tại cuộc họp, Bộ trưởng Quốc phòng các nước Mỹ, Nhật Bản và Australia nhất trí hỗ trợ Philippines tăng cường năng lực quốc phòng như một phần của nỗ lực nhằm thiết lập khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở. Theo đó, các nước nhất trí xuất khẩu trang thiết bị sang Philippines để giúp nước này nâng cao khả năng quân sự. Các bên cũng có kế hoạch tiến hành các hoạt động theo dõi, giám sát, cũng như hợp tác trong thu thập tin tức.

Giới chuyên gia nhận định cuộc họp lần thứ hai giữa Bộ trưởng quốc phòng Mỹ, Nhật Bản, Australia và Philippines đã gửi “thông điệp rất quan trọng tới khu vực và thế giới”, rằng “bốn nền dân chủ cam kết tuân thủ các trật tự toàn cầu dựa trên luật lệ”. Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Gilberto Teodoro cho rằng, việc tăng cường mối quan hệ bốn bên không chỉ nhằm mục đích bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Philippines, mà còn duy trì “các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, trong đó hướng dẫn trật tự toàn cầu theo đúng cách mà các quốc gia nên chung sống với nhau”.

Trước đó, bên lề Đối thoại Shangri-La năm 2023, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, Nhật Bản, Australia và Philippines đã lần đầu tiên tiến hành cuộc họp 4 bên chia sẻ tầm nhìn về Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở, đồng thời nhất trí cùng hợp tác an ninh để đảm bảo tầm nhìn tiếp tục phát triển. Vào tháng 4/2024, bốn nước đã tổ chức cuộc tập trận hải quân chung chính thức đầu tiên ở Biển Đông. Sau đó, ngày 02/5/2024, Bộ trưởng Quốc phòng các nước Mỹ, Nhật Bản, Australia và Philippines đã gặp nhau lần thứ 2 tại Hawaii, cam kết tăng cường hợp tác trong bối cảnh liên tiếp xuất hiện lo ngại về các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông, bao gồm các cuộc tập trận hải quân chung ở Biển Đông, nhằm tăng cường hòa bình và ổn định toàn cầu. Cũng trong ngày này, quân đội Mỹ và Philippines đã bắn hàng chục quả tên lửa về phía Biển Đông trong khuôn khổ cuộc tập trận chung thường niên Balikatan 2024. Các tên lửa được phóng tại một địa điểm gần ngôi làng ven biển Campong Ulay thuộc đảo Palawan nhìn ra Biển Đông. Chúng được phóng đi từ 2 Hệ thống tên lửa pháo binh cơ động cao (HIMARS) M142 có khả năng bắn trúng mục tiêu cách xa tới 80 km.

Trước quan hệ hợp tác ngày càng chặt chẽ này, Cựu trợ lý bộ trưởng quốc phòng Mỹ phụ trách các vấn đề an ninh Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương Ely Ratner đã kêu gọi lập một hiệp ước phòng thủ tập thể Thái Bình Dương chính thức giữa Mỹ, Nhật Bản, Australia và Philippines, xem đó là một động thái kịp thời và cần thiết để ngăn chặn tham vọng quân sự của Trung Quốc. Ông Ratner nhận định Mỹ, Nhật Bản, Úc và Philippines là “4 quốc gia có quan điểm nhất quán nhất về thách thức từ Trung Quốc” và hiện là “4 quốc gia có sự liên kết chặt chẽ nhất để đối phó Trung Quốc, đặc biệt là trong việc tăng cường hợp tác quân sự tập thể để ứng phó”. Tại cuộc họp lần thứ 3 giữa Bộ trưởng quốc phòng bốn nước Mỹ, Nhật Bản, Australia, Philippines hôm 31/5/2025, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth cũng đã nhận định: “Không có nhóm nước nào có sự liên kết chặt chẽ hơn nhóm này, không có nước nào có vị thế chiến lược hơn để thể hiện sự răn đe, mang lại hòa bình cho khu vực”.

Ông Ratner cho rằng Bắc Kinh đang tiến gần đến khả năng định hình lại châu Á bằng vũ lực và đã đến lúc Mỹ phải xây dựng một hiệp ước phòng thủ tập thể ở châu Á: trước mối đe dọa ngày càng gia tăng từ Trung Quốc, “hiệp ước này vừa khả thi, vừa cần thiết cho các bên”. Theo ông Ratner, Bắc Kinh có ý định thực hiện tầm nhìn của Chủ tịch Tập Cận Bình về “công cuộc phục hưng vĩ đại dân tộc Trung Hoa” – một kế hoạch bao gồm thống nhất với Đài Loan, thống trị Biển Đông và làm suy yếu các liên minh do Mỹ lãnh đạo để định hình lại trật tự khu vực. Ông nhấn mạnh rằng: “Nếu kế hoạch thành công, kết quả sẽ là một trật tự do Trung Quốc lãnh đạo, đẩy Mỹ vào tình cảnh kém thịnh vượng hơn, kém an ninh hơn và không thể tiếp cận hoặc chi phối các thị trường và công nghệ quan trọng của thế giới”.

Theo ông Ratner, hiệp ước mà ông đề xuất sẽ khác với khái niệm “NATO châu Á” do Thủ tướng Nhật Bản Shigeru Ishiba đưa ra hồi năm 2024 – khái niệm này không nhận được nhiều sự ủng hộ từ các nhà lãnh đạo trong khu vực. Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Gilberto Teodoro cũng đã bày tỏ sự hoài nghi về một liên minh phòng thủ khu vực với lập luận rằng “sự phân tách và khác biệt về lợi ích quốc gia” giữa các quốc gia Đông Nam Á khiến việc xây dựng một liên minh quân sự thống nhất trở nên khó khăn. Thay vào đó, ông thúc giục ASEAN thừa nhận rằng Trung Quốc đang “bành trướng ở Biển Đông”.

Ông Ratner đã chỉ ra 3 yếu tố mà ông tin rằng hiện nay có thể tạo nên một hiệp ước phòng thủ tập thể quy mô nhỏ hơn. Theo đó, các yếu tố này là sự đoàn kết hơn bao giờ hết giữa các đồng minh của Mỹ, sự hợp tác chưa từng có giữa các đồng minh này, và nhu cầu ngày càng tăng đối với các đồng minh của Mỹ trong việc đóng góp cho hòa bình và an ninh khu vực. Đồng thời, ông Ratner cũng cho biết đã “cố tình” tránh sử dụng thuật ngữ “NATO châu Á”.

Theo chuyên gia Don McLain Gill, nhà phân tích địa chính trị và giảng viên quan hệ quốc tế tại Đại học De La Salle ở Manila, dù ông Ratner không ám chỉ rằng Australia có kế hoạch nhằm kiềm chế Trung Quốc, nhưng Australia cũng đã thừa nhận rằng một Trung Quốc quyết đoán, bành trướng và hiếu chiến hơn chắc chắn sẽ đe dọa an ninh quốc gia của nước này. Đây đó có thể là lý do khiến 3 nước còn lại truyền đạt ý tưởng hiệp ước phòng thủ này đến Australia.

Tuy nhiên, các chuyên gia an ninh cảnh báo rằng ngay cả phiên bản thực dụng hơn của ông Ratner về một hiệp ước phòng thủ khu vực cũng sẽ phải đối mặt với những thách thức và rào cản lớn. Ông Don McLain Gill -– cho rằng, đề xuất này có vẻ khả thi hơn khái niệm “NATO châu Á”, nhưng nó phải “thực tế hơn” trước những thách thức mà các bên phải đối mặt. Trong đó, có lẽ Australia và Philippines còn phải cân nhắc thêm những khía cạnh khác. Ông Don McLain Gill trích dẫn những bình luận trước đó của Thủ tướng Australia Anthony Albanese, trong đó nhấn mạnh nhu cầu của Canberra trong việc cân bằng giữa các mối quan ngại về an ninh và các mối quan hệ kinh tế với Bắc Kinh. Đồng thời,  ông Don McLain Gill cũng cho rằng bốn quốc gia sẽ cần phải xác định rõ phạm vi của bất kỳ thỏa thuận an ninh nào, đặc biệt là nếu nó liên quan đến Đài Loan.

Một số ý kiến khác cảnh báo rằng bất kỳ động thái nào nhằm chính thức hóa một khối phòng thủ như vậy sẽ phải đối mặt với sự phản đối mạnh mẽ từ Trung Quốc và gây ra sự khó chịu trong số các quốc gia Đông Nam Á khác. Nhà phân tích chính trị Julio Amador ở Manila nhận định rằng đề xuất này sẽ không thành công vì khu vực này không thích các hiệp ước phòng thủ tập thể, coi đây là hành động buộc các quốc gia phải liên kết với một số cường quốc nhất định.

Đồng thời, ông Amador cũng cho rằng dù Philippines có thể hưởng lợi từ việc hợp tác chặt chẽ, sâu rộng hơn với Mỹ, đặc biệt trong việc hiện đại hóa quân đội, song Philippines nên cân nhắc kỹ lưỡng việc dấn sâu hơn vào các vấn đề an ninh khác bên cạnh Biển Đông hay không. Nếu một hiệp ước như vậy được thực hiện, Bắc Kinh có thể sẽ đáp trả và gây mất ổn định khu vực. Philippines cần đánh giá cẩn thận các chi phí và lợi ích của việc một hiệp ước quốc phòng như vậy xuất hiện ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Tóm lại, việc Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, Nhật Bản, Australia và Philippines tiến hành 3 cuộc họp trong 2 năm qua, cũng như việc bốn nước tăng cường hợp tác quân sự, triển khai tuần tra và tập trận chung ở Biển Đông là những yếu tố cần thiết để hình thành một cơ chế hợp tác an ninh giữa bốn nước song là chưa đủ để tiến tới một Hiệp ước phòng thủ chung. Tuy nhiên, qua những phát biểu của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth ở Manila, Tokyo và Singapore thì có thể khẳng định là chính quyền Trump nhiệm kỳ 2 sẽ tiếp tục thúc đẩy hợp tác giữa Washington, Tokyo, Canberra và Manila để duy trì, hòa bình ở Biển Đông, Biển Hoa Đông và trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

]]>
Chiến lược dài hạn của Philippines ở Biển Đông https://biendong.net/2025/10/22/chien-luoc-dai-han-cua-philippines-o-bien-dong/ Wed, 22 Oct 2025 03:39:43 +0000 https://biendong.net/?p=159021 Trong bối cảnh căng thẳng Biển Đông không ngừng leo thang và tình hình nội bộ Philippines khá phức tạp, ông Eduardo Año – Chủ tịch Hội đồng An ninh Quốc gia và là Cố vấn An ninh Quốc gia Philippines – cho biết Philippines đang xây dựng một chiến lược dài hạn để bảo vệ các yêu sách ở Biển Đông nhằm duy trì lập trường rõ ràng, nhất quán của mình cho cả thời kỳ hậu chính quyền của Tổng thống Ferdinand Marcos Jr.

Giới quan sát nhận định rằng động thái này có thể giúp Manila tránh được sự dao động theo kiểu “con lắc” khiến chính sách đối ngoại của nước này liên tục thay đổi giữa Washington và Bắc Kinh trong những năm gần đây, và thay vào đó là xây dựng một cách tiếp cận nhất quán hơn bắt nguồn từ lợi ích quốc gia.

Tại một diễn đàn an ninh hôm 6/5/2025, ông Eduardo Año nhấn mạnh rằng sáng kiến này là phản ứng trực tiếp đối với “các yêu sách lãnh thổ vô căn cứ, quá đáng, bành trướng, quân sự hóa và đối đầu của Trung Quốc với các nước láng giềng”. Ông Eduardo Año đã viện dẫn các hoạt động của Bắc Kinh tại Bãi cạn Scarborough – Philippines gọi là Bajo de Masinloc – nơi các tàu hải cảnh và dân quân biển Trung Quốc đã duy trì sự hiện diện để khống chế kể từ cuộc đối đầu năm 2012.

Ông Eduardo Año nhấn mạnh sự hiện diện của Bắc Kinh “là sự tương phản rõ ràng đối với những gì chúng ta thúc đẩy trong nỗ lực chung hướng tới một trật tự trên biển ổn định, công bằng và dựa trên luật lệ. Thậm chí còn đáng lo ngại hơn, các vùng lãnh thổ hợp pháp khác của chúng ta, không chỉ Bãi cạn Scarborough, đã phải chịu những bất lợi, sự chiếm đóng hoặc kiểm soát bất hợp pháp”. Biển Đông từ lâu đã là nguồn gây căng thẳng giữa Philippines và Trung Quốc do các yêu sách lãnh thổ và biển chồng lấn. Manila gọi phần yêu sách của mình là Biển Tây Philippines và cáo buộc Bắc Kinh ngày càng hung hăng trong các chiến thuật vùng xám – các biện pháp gây hấn không dẫn đến xung đột quân sự – để khẳng định quyền kiểm soát đối với vùng biển này trong những năm gần đây.

Ông Eduardo Año cũng cho biết căng thẳng hiện tại giữa Philippines và Trung Quốc là “thực tế chúng ta không thể bỏ qua”. Ông nói: “Philippines thừa nhận rằng những thách thức ở Biển Đông khó có thể giảm bớt trong thời gian tới. Tình hình sẽ trở nên phức tạp hơn nữa do các điểm nóng tiềm tàng trong khu vực, tiếp tục phát triển trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị và địa kinh tế gia tăng cũng như động lực an ninh toàn cầu thay đổi”.

Giới phân tích cho rằng động thái thúc đẩy chính sách dài hạn trên vấn đề Biển Đông của Manila là rất đáng hoan nghênh và cần thiết cho công cuộc đấu tranh với Bắc Kinh nhằm bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và các lợi ích trên biển của đất nước. Tuy nhiên, để chiến lược dài hạn đạt được hiệu quả, Philippines phải áp dụng “nghệ thuật quản lý nhà nước toàn diện” hơn, vượt ra ngoài các chiến dịch truyền thông và phản đối ngoại giao.

Ông Joshua Espeña – giảng viên quan hệ quốc tế tại Đại học Bách khoa Philippines – lưu ý rằng hoạt động “minh bạch quyết đoán” hiện tại của chính phủ Philippines, bao gồm ghi lại và chia sẻ công khai các hoạt động hàng hải của Trung Quốc thông qua các cuộc tuần tra của lực lượng bảo vệ bờ biển tại các cuộc họp báo và qua các cơ quan truyền thông, trang mạng, có hiệu quả trong việc nâng cao nhận thức nhưng vẫn chưa đủ. Ông Espeña cho biết: “Mặc dù những thông tin thông qua sự minh bạch quyết đoán của Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines được đánh giá cao, nhưng chính phủ Philippines phải bổ sung bằng các công cụ quyền lực khác. Điều này bao gồm việc tăng cường chuỗi cung ứng của đất nước thông qua quan hệ đối tác công tư, kết nối và quản trị dựa vào cộng đồng, cũng như sự ủng hộ của quốc hội đối với ngân sách quốc phòng để phân bổ kinh phí cho chương trình hiện đại hóa Lực lượng vũ trang Philippines (AFP)”.

Ông Chester Cabalza – người sáng lập kiêm chủ tịch của tổ chức nghiên cứu Hợp tác an ninh và Phát triển quốc tế có trụ sở tại Manila – cho biết một chính sách dài hạn ở Biển Tây Philippines sẽ có nghĩa là một “chính sách nhất quán và liên tục bất kể sự thay đổi trong chính quyền sau khi Tổng thống Marcos Jr. rời nhiệm sở vào năm 2028”. Theo ông Cabalza, “đây là tuyên bố táo bạo sau khi Manila thay đổi lập trường chính sách Biển Tây Philippines, thay đổi từ Washington sang Bắc Kinh rồi lại sang Washington (một lần nữa)”.

Mặc dù Philippines từ lâu đã là đồng minh hiệp ước của Mỹ, nhưng nước này đã chuyển sang lập trường ủng hộ Bắc Kinh hơn dưới thời cựu Tổng thống Rodrigo Duterte, người đã tuyên bố “tách biệt” khỏi Mỹ vào năm 2016 trong chuyến thăm Trung Quốc. Năm 2024, ông Duterte tiết lộ rằng ông đã thực hiện một thỏa thuận bất thành văn với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình để duy trì nguyên trạng ở Biển Tây Philippines – một tiết lộ đã gây ra phản ứng dữ dội của công chúng và bị cáo buộc phản quốc.

Ông Chester Cabalza nhấn mạnh rằng, một chiến lược bền vững sẽ cần ưu tiên lợi ích của Philippines hơn hết. Ông nói: “Con lắc sẽ phải dừng lại ở giữa hoặc nên nghiêng về Manila hơn để duy trì lợi ích quốc gia của riêng mình trong bối cảnh cạnh tranh bá quyền của hai siêu cường ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”. Cố vấn an ninh quốc gia Eduardo Año cho rằng cách tiếp cận dài hạn đang được xây dựng này sẽ được cố định trong một “hệ thống phòng thủ mạnh mẽ, đáng tin cậy và tự lực” có khả năng ứng phó với các mối đe dọa đối với chủ quyền và quyền hàng hải của Philippines.

Ông Sherwin Ona – nghiên cứu viên quốc tế tại Viện Nghiên cứu Quốc phòng và An ninh Đài Loan – cho biết, Manila có khả năng theo đuổi một chiến lược toàn diện kết hợp các công cụ ngoại giao, quân sự, kinh tế và truyền thông. Điều này có thể bao gồm một mạng lưới liên minh được tăng cường thông qua các thỏa thuận về lực lượng viếng thăm bao gồm hợp tác trong các lĩnh vực như phòng thủ mạng, ngăn chặn thông tin sai lệch và phát triển ngành công nghiệp quốc phòng. Philippines có khả năng sẽ ưu tiên “các mặt hàng chủ lực” như máy bay chiến đấu đa năng, tàu ngầm và các chương trình khinh hạm, cùng với việc xây dựng các hệ thống chống tiếp cận/chống xâm nhập khu vực (A2/AD) cũng như năng lực nhận thức về lĩnh vực hàng hải.

Những nhà quan sát khác cũng chia sẻ quan điểm tương tự. Ông Cabalza lưu ý rằng các thỏa thuận quốc phòng gần đây của Philippines với Úc, Nhật Bản và New Zealand đóng vai trò là “khuôn mẫu tốt” cho các hiệp ước quân sự khác đang được xem xét, bao gồm cả với Pháp và Anh. Ông Cabalza nói: “Sức hấp dẫn của Manila chắc chắn sẽ được các nước láng giềng Đông Nam Á sao chép. Nhưnhg điều mà Manila có thể mang lại một cách tự nhiên chính là tầm quan trọng về mặt địa chiến lược của nước này”. Trong khi đó, ông Joshua Espeña nói thêm rằng các quan hệ đối tác chiến lược trong tương lai nên vượt ra ngoài việc chỉ mua sắm các nền tảng và bao gồm “hỗ trợ kỹ thuật, các gói bảo trì và các hệ thống hậu cần tích hợp”.

Lý do Manila cần xây dựng một chiến lược dài hạn trên vấn đề Biển Đông được giới chuyên gia chỉ ra là:

Trước hết, cần phải nhận thức rõ mưu đồ kiểm soát, độc chiếm Biển Đông của Bắc Kinh là xuyên suốt, không thay đổi, vì vậy nếu không có một chiến lược dài hạn sẽ không thể đối phó với mưu đồ này của Trung Quốc. Việc thiếu một chiến lược dài hơi sẽ dẫn tới việc thiếu nhất quán trong chính sách và khiến sức mạnh quốc gia giảm sút trong việc đối phó với sự hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông.

Hai là, việc có một chiến lược nhất quán tạo điều khiện cho Philippines có thể đầu tư nâng cao năng lực quốc phòng để có thể phối hợp có hiệu quả với các đồng minh, đối tác trong việc bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Philippines trên Biển Đông, đồng thời tạo thuận lợi cho các đồng minh, đối tác trong việc hỗ trợ Manila trong việc nâng cao năng lực quốc gia.

Ba là, Philippines đã giành thắng lợi trong vụ kiện trọng tài Biển Đông và có được một phán quyết bác bỏ hầu hết các yêu sách biển của Trung Quốc ở Biển Đông. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để Manila đấu tranh với Trung Quốc ở Biển Đông. Philippines là một nước nhỏ cần xây dựng một chiến lược dài hạn trên tinh thần thượng tôn pháp luật để có thể khai thác Phán quyết năm 2016 của Toà Trọng tài, đồng thời vận động các nước khác ủng hộ việc tuân thủ Phán quyết.

Giới chuyên gia cho rằng chiến lược dài hạn của Philippines đối với Biển Đông cần thể hiên một tầm nhìn quốc gia vượt lên trên sự thay đổi chính quyền, đồng thời kết nối hiệu quả giữa an ninh quốc gia, lợi ích kinh tế biển và vai trò trong cấu trúc khu vực, cụ thể chiến lược dài hạn này cần giải quyết một số vấn đề sau:

Thứ nhất, cần khẳng định quyết tâm bảo vệ vững chắc quyền chủ quyền và quyền tài phán dựa trên luật pháp quốc tế. Theo đó, coi Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) 1982 và Phán quyết Trọng tài Biển Đông năm 2016 là nền tảng pháp lý không thể đảo ngược trong bất kỳ cuộc đàm phán nào.

Thứ hai, nâng cao năng lực quốc phòng của đất nước, trong đó tập trung tăng cường năng lực thực thi pháp luật biển, củng cố năng lực phòng thủ trên biển biển và kiểm soát không gian biển. Theo đó, cần ưu tiên xây dựng năng lực phòng thủ trên biển và bảo vệ đảo, bao gồm radar giám sát, tàu tuần tra tầm xa, máy bay không người lái và hệ thống phòng thủ ven biển; tăng cường hiện diện thường xuyên tại các điểm tiền tiêu, như Bãi Cỏ Mây, Bãi Cỏ Rong, và Bãi Cạn Scarborough; xây dựng hệ thống giám sát biển tích hợp.

Thứ ba, Philippines không thể đơn độc bảo vệ lợi ích ở Biển Đông mà cần dựa vào chiến lược liên kết nhiều tầngvới các đối tác quốc tế và khu vực. Theo đó, cần tiếp tục củng cố liên minh quân sự với Mỹ; mở rộng hợp tác an ninh biển với các đối tác khác như Nhật Bản, Úc, Hàn Quốc, Ấn Độ, và EU, bao gồm viện trợ quốc phòng, huấn luyện và chia sẻ tình báo; tăng cường phối hợp chặt chẽ với các nước ven Biển Đông khác; Thúc đẩy đoàn kết ASEAN trong vấn đề Biển Đông, tạo mặt trận thống nhất trong đàm phán với Trung Quốc về Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).

Thứ tư, ngư dân là lực lượng tuyến đầu bảo vệ chủ quyền và sinh kế biển là nền tảng cho an ninh kinh tế biển, do vậy chính phủ cần có biện pháp bảo vệ và phát triển sinh kế biển bền vững cho người dân. Theo đó, cần củng cố hạ tầng hỗ trợ ngư dân, bao gồm trung tâm hậu cần, tàu hỗ trợ hậu cần và các điểm tránh, trú bão gần khu vực tranh chấp; thực thi chính sách bảo vệ ngư dân theo luật pháp quốc tế, kêu gọi quốc tế hỗ trợ khi ngư dân bị đe dọa trên vùng biển hợp pháp; phát triển bền vững nghề cá, ngăn ngừa khai thác quá mức, kết hợp với bảo vệ môi trường sinh thái biển.

Thứ năm, cần chủ động thúc đẩy tiến trình ngoại giao, pháp lý. Theo đó, kiên trì sử dụng các công cụ ngoại giao đa phương lẫn song phương; sẵn sàng triển khai các vụ kiện pháp lý mới nếu cần; đề xuất sáng kiến về bảo vệ an ninh hàng hải trong khuôn khổ ASEAN, ADMM+ và APEC, nhằm quốc tế hóa vấn đề Biển Đông một cách tích cực; sử dụng ngoại giao nhân dân, học thuật và truyền thông quốc tế để tạo sự ủng hộ rộng rãi từ cộng đồng quốc tế đối với lập trường hợp pháp của Philippines. Trên đây là những phân tích về tính cấp thiết của Philippines phải có một chiến lược dài hạn đối với Biển Đông và một số gợi ý chính về những vấn đề cần được nêu rõ trong chiến lược này để tránh sự đứt gãy chiến lược trong việc bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và các lợi ích trên biển của Manila dù dưới bất cứ chính quyền của Tổng thống nào.

]]>
Đài Loan và Philippines trong chiến lược kiềm chế TQ ở Biển Đông của Mỹ https://biendong.net/2025/10/16/dai-loan-va-philippines-trong-chien-luoc-kiem-che-tq-o-bien-dong-cua-my/ Thu, 16 Oct 2025 16:22:54 +0000 https://biendong.net/?p=161795 Biển Đông có vị trí địa chiến lược vô cùng quan trọng để Trung Quốc vươn ra biển, trở thành “cường quốc biển” trước khi trở thành “cường quốc thế giới” vào giữa thế kỷ XXI như tham vọng của giới cầm quyền nước này. Vì vậy, Bắc Kinh đã và đang quyết tâm mở thông “cánh cửa” Biển Đông để thực hiện mục tiêu trên.

Những năm gần đây, Trung Quốc liên tục gây ra các vụ việc căng thẳng trên biển với các nước láng giềng dưới chiêu bài “bảo vệ chủ quyền không thể tranh cãi” ở Biển Đông. Ngược lại, mặc dù không có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, nhưng Mỹ lại có nhiều lợi ích chiến lược thiết thực ở vùng biển này, như tự do hàng hải, hàng không, bảo vệ các đồng minh, đặc biệt là ngăn chặn Trung Quốc trở thành “bá quyền khu vực”, thách thức vị thế “siêu cường” thế giới của Mỹ. Do đó, Mỹ tìm mọi cách bịt “cánh cửa” đó lại, hoặc chí ít cũng không để cho Trung Quốc tự do “vẫy vùng” ở Biển Đông. Để thực hiện mục tiêu này, năm 2017, Mỹ đã ban hành Chiến lược “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở” và nỗ lực tập hợp, lôi kéo các đồng minh, đối tác trong khu vực về phía mình, trong đó Đài Loan và Philippines được Mỹ đặc biệt quan tâm, bởi vùng lãnh thổ và quần đảo này có vị trí địa chiến lược rất thuận lợi cho Mỹ thực hiện mục tiêu trên.

Những nội dung cơ bản trong chiến lược FOIP của Mỹ

Chiến lược “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở”, gọi tắt là FOIP được chính quyền D.Trump công bố năm 2017, với mục tiêu cốt lõi là kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc – nhân tố mà Mỹ xem là mối đe dọa chính đối với vị thế “siêu cường” của Washington. Chiến lược này có ba trụ cột chính là quân sự, kinh tế và ngoại giao.  

Về quân sự, trọng tâm của trụ cột này là củng cố các mối quan hệ đồng minh và đối tác đã có, đồng thời xây dựng khuôn khổ các liên minh mới để kiềm chế Trung Quốc. Muốn vậy, Mỹ phải thắt chặt quan hệ với Đài Loan và Philippines, bởi đây là hai “mắt xích” nằm trong “chuỗi đảo thứ nhất”, kéo dài từ Nhật Bản, qua Đài Loan đến Philippines, đóng vai trò là “rào cản chiến lược tự nhiên”, có khả năng ngăn chặn Hải quân Trung Quốc tiếp cận các vùng biển sâu ở Thái Bình Dương. Chính vì thế, nên Mỹ đã tăng cường hiện diện lực lượng quân sự và thúc đẩy hợp tác với các đồng minh, đối tác trong khu vực, nhất là với Đài Loan và Philippines để vừa củng cố tuyến phòng thủ này, vừa duy trì quyền tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông theo các quy định của luật pháp quốc tế.  

Về kinh tế, trụ cột này đặt trọng tâm vào thúc đẩy các sáng kiến, điển hình là sáng kiến “Clean EDGE” (Tăng cường phát triển và tăng trưởng thông qua năng lượng) nhằm tạo ra một mạng lưới kinh tế không chỉ phát triển bền vững, mà còn đóng vai trò như một công cụ để giúp các quốc gia là đồng minh, đối tác của Mỹ trong khu vực giảm phụ thuộc vào Trung Quốc.   

Về chính trị – ngoại giao, đây là trụ cột được Mỹ tập trung vào cam kết hỗ trợ các xã hội mở, các thể chế dân chủ và tự do báo chí để giúp chính phủ các nước trong khu vực có thể đưa ra các lựa chọn độc lập, củng cố nền tảng chính trị, giúp các liên minh quân sự và kinh tế của Mỹ trong khu vực phát triển, cùng chia sẻ các giá trị chung và tăng thêm sức mạnh đoàn kết, ý chí chính trị mạnh mẽ hơn trong việc chống lại mọi sự áp đặt và đe dọa từ Trung Quốc.

Ba trụ cột trên của FOIP không đứng độc lập, riêng rẽ với nhau, mà có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, trong đó trụ cột quân sự là công cụ cứng rắn để hỗ trợ và bảo vệ các trụ cột kinh tế, chính trị – ngoại giao của Mỹ ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nói chung và Biển Đông nói riêng.  

Dưới thời chính quyền Tổng thống J. Biden, chiến lược FOIP được bổ sung, cụ thể hóa thêm với năm nhiệm vụ chính gồm: (i) Đảm bảo tự do hàng hải, hàng không và các quyền tự do khác được quy định trong luật pháp quốc tế, như được phản ánh tại Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) nhằm chống lại các hành vi cưỡng ép và bảo vệ chủ quyền của các quốc gia trong khu vực. (ii) Củng cố quan hệ đồng minh, đối tác đã có, đồng thời xây dựng các khuôn khổ hợp tác mới, như Cơ chế Bộ tứ (Quad) gồm Mỹ, Nhật Bản, Úc và Ấn Độ; AUKUS gồm Mỹ, Anh và Úc. (iii) Thúc đẩy hợp tác về kinh tế, đầu tư, thương mại và cơ sở hạ tầng, bao gồm các sáng kiến kinh tế, ví dụ như Khuôn khổ kinh tế Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương (IPEF) để gia tăng ảnh hưởng và cạnh tranh với các chiến lược, sáng kiến của Trung Quốc trong khu vực. (iv) Tăng cường an ninh khu vực thông qua nâng cao năng lực phòng thủ và an ninh cho các đối tác nhằm đối phó với các mối đe dọa chung, như khủng bố, cướp biển và các thách thức an ninh phi truyền thống. (v) Tăng cường phối hợp đa phương và toàn diện hơn giữa Mỹ với các đối tác để giải quyết các thách thức xuyên quốc gia, như biến đổi khí hậu, an ninh y tế, an ninh mạng và chống tội phạm.

Gần đây, nhiều quan chức cấp cao của chính quyền D. Trump nhiệm kỳ 2 đã tuyên bố, Mỹ đã trở lại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, đồng thời đã có những động thái cụ thể, mạnh mẽ hơn theo quan điểm “hòa bình dựa trên sức mạnh” đối với FOIP. 

Vai trò của Đài Loan và Philippines trong chiến lược FOIP của Mỹ

Tuy cả Đài Loan và Philippines đều cách xa Mỹ về địa lý, nhưng xuất phát từ vị trí địa chiến lược và an ninh hiếm có của hai đối tác này, nên Mỹ coi cả hai là những “đối tác chiến lược then chốt”, đóng vai trò vô cùng quan trọng để Mỹ triển khai chiến lược FOIP.

Với Đài Loan: Vùng lãnh thổ này từ lâu được ví như một “tàu sân bay không chìm” ở Thái Bình Dương, giúp Mỹ kiềm chế Trung Quốc rất hiệu quả ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nói chung và Biển Đông nói riêng vì một số lý do cơ bản sau. Thứ nhất, về vị trí chiến lược, Đài Loan chỉ nằm cách Trung Hoa đại lục, nơi gần nhất qua eo biển Đài Loan chỉ khoảng 130km, một số đảo nhỏ nằm sát bờ biển Trung Quốc, như đảo Kim Môn chỉ cách bờ biển tỉnh Phúc Kiến/Trung Quốc khoảng 2km, một số đảo khác thuộc quần đảo Mã Tổ cách bờ biển Trung Quốc khoảng 9km. Hơn nữa, Đài Loan lại nằm vào điểm giữa của “chuỗi đảo thứ nhất” ở Tây Thái Bình Dương – một “hàng rào địa lý” quanh co, hiểm hóc nhưng rất quan trọng mà Trung Quốc bắt buộc phải vượt qua nếu muốn tiếp cận Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Nếu Trung Quốc kiểm soát được Đài Loan, thì từ đây có thể tự do triển khai lực lượng hải quân và không quân ở Tây Thái Bình Dương để kiểm soát các tuyến đường hàng hải quốc tế quan trọng đi qua Biển Đông. Chính vì thế, việc giữ nguyên hiện trạng Đài Loan như lâu nay là mục tiêu tối quan trọng đối với Mỹ. Thứ hai, do Đài Loan có lợi thế là nằm gần kề Trung Quốc, nên Mỹ đã hỗ trợ và cung cấp cho Đài Loan các hệ thống trinh sát tiên tiến nhất, hiện đại nhất và biến hòn đảo này thành “mắt thần” để theo dõi, nắm bắt và chia sẻ mọi thông tin tình báo về các hoạt động quân sự của Trung Quốc, qua đó giúp Mỹ và các nước đồng minh có cái nhìn toàn diện hơn về các động thái của Quân đội Trung Quốc trên thế giới nói chung và trong khu vực nói riêng. Thứ ba, Đài Loan vốn là một phần lãnh thổ của Trung Quốc trước đây, nằm án ngữ trên con đường vươn ra Thái Bình Dương – Ấn Độ Dương của Trung Quốc, nên Bắc Kinh có tham vọng nhất quyết phải thu hồi Đài Loan, kể cả bằng vũ lực. Mỹ nắm rõ ý đồ này của Bắc Kinh, nên mặc dù không có quan hệ ngoại giao chính thức với Đài Loan, Mỹ vẫn ký “Đạo luật quan hệ với Đài Loan” để cung cấp vũ khí giúp Đài Loan có năng lực phòng thủ trước khả năng Trung Quốc sẽ sử dụng vũ lực để thống nhất đất nước. Thứ tư, trong chiến lược FOIP, Mỹ đặc biệt nhấn mạnh việc bảo vệ các “đối tác dân chủ” trong khu vực, trong đó, Đài Loan chiếm vị trí hàng đầu. Vì thế, ủng hộ vùng lãnh thổ này chính là một phần trong nỗ lực của Mỹ nhằm củng cố các liên minh và đối tác, tạo thành một mạng lưới “sát sườn” hơn để đối phó với sự bành trướng của Trung Quốc. Thứ năm, ngoài vị trí địa chiến lược, Đài Loan còn là một “lá chắn silicon” đối với nền kinh tế toàn cầu. Hiện nay Đài Loan là nơi sản xuất hơn 90% con chíp tiên tiến vào loại bậc nhất thế giới, giữ vai trò là “mắt xích quan trọng nhất” trong chuỗi cung ứng sản phẩm công nghệ bán dẫn toàn cầu. Vì thế, bất kỳ một cuộc tấn công nào vào hòn đảo này cũng sẽ gây ra một thảm họa kinh tế đối với toàn thế giới. Giá trị to lớn của loại công nghệ bán dẫn này đã tạo ra một “lá chắn răn đe” phi quân sự rất mạnh mẽ, khiến Trung Quốc không thể hành động mạo hiểm. Đương nhiên, Mỹ cũng có lợi ích gắn bó rất lớn đối với công nghệ và sản phẩm này của Đài Loan, do đó, khó có thể để cho Trung Quốc dễ dàng tấn công Đài Loan. Ngày 29/8/2025, Thượng nghị sĩ, Chủ tịch Ủy ban Quân vụ Thượng viện Mỹ, ông Roger Wicker và Thượng nghị sĩ Deb Fischer đã đến thăm Đài Loan nhằm “củng cố mối quan hệ đối tác tuyệt vời mà Mỹ và Đài Loan đã có và sẽ có trong tương lai”. 

Như vậy, việc duy trì “tàu sân bay không chìm” về quân sự và “lá chắn silicon” về kinh tế chính là bảo đảm cho sự hiện diện và tồn tại cũng như khả năng phòng thủ đối của Đài Loan. Điều này sẽ giúp Mỹ có được lợi thế địa chiến lược quan trọng để kiềm chế Trung Quốc, không chỉ ở eo biển Đài Loan, mà còn đối với toàn bộ khu vực Biển Đông và hơn thế nữa.

Với Philippines: Quần đảo này đóng vai trò trọng yếu trong chiến lược của Mỹ nhằm kiểm soát Biển Đông và kiềm chế Trung Quốc ở khu vực và trên Biển Đông. Thứ nhất, về vị trí địa chiến lược, Philippines là “cửa ngõ” ra vào Biển Đông, cho phép Mỹ duy trì sự hiện diện quân sự và thực hiện các hoạt động tuần tra tự do hàng hải, hàng không, kiểm soát các tuyến đường biển quan trọng, huyết mạch của thế giới đi qua vùng biển này. Chính sự hiện diện và kiểm soát gần 70% lượng hàng hóa thương mại của thế giới lưu thông qua Biển Đông của Mỹ mới là biểu hiện sinh động và chân thực nhất cho quyền lực và vai trò “siêu cường” của Mỹ tại Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, rộng ra là tại Châu Á – Thái Bình Dương. Đồng thời, quần đảo này còn có thể giúp Mỹ nhanh chóng triển khai lực lượng để đối phó với một cuộc xung đột cả ở Biển Đông và eo biển Đài Loan nếu điều đó xảy ra. Thứ hai, Philippines là đồng minh hiệp ước lâu đời của Mỹ, mối quan hệ này thường xuyên được củng cố và nâng cấp thông qua các cuộc tập trận chung, các hoạt động hỗ trợ quân sự, đồng thời lại được gắn kết bởi các hiệp ước, thỏa thuận chung giữa hai nước như Hiệp ước Phòng thủ chung (MDT) ký năm 1951, Thỏa thuận Các lực lượng thăm viếng (VFA) ký năm 1998 và Thỏa thuận tăng cường hợp tác quốc phòng (EDCA) ký năm 2014. Đây là cơ sở pháp lý cho phép Mỹ tiếp cận các căn cứ quân sự chiến lược trên lãnh thổ Philippines, nhất là các căn cứ nằm ở phía bắc Luzon, hòn đảo lớn nhất của Philippines, nằm gần eo biển Đài Loan. Thứ ba, Philippines là quốc gia có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc ở Biển Đông, quan hệ giữa hai nước thường xuyên căng thẳng, thậm chí không ít lần rơi vào nguy cơ xảy ra xung đột quân sự. Vì thế, Mỹ có thể dựa vào MDT, VFA, EDCA để phối hợp với Philippines nhằm đối phó, ngăn chặn các hành động gây hấn và bành trướng của Trung Quốc, đồng thời duy trì trật tự, đảm bảo tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông trên cơ sở các quy định của luật pháp quốc tế.

Đài Loan và Philippines tương hỗ, phối hợp với nhau, tạo thành “lá chắn kép” trong chiến lược của Mỹ kiềm chế Trung Quốc ở Biển Đông

Cả Philippines và Đài Loan đều là những đồng minh quan trọng và lâu năm của Mỹ. Thực tế những năm qua, nếu hai thực thể này không có sự hỗ trợ và giúp đỡ mạnh mẽ của Mỹ thì chưa chắc đã “đứng vững” ở khu vực, chứ đừng nói là phát huy vai trò quan trọng trong chiến lược của Mỹ nhằm kiềm chế Trung Quốc ở Biển Đông. Thế nhưng, ngoài sự hỗ trợ, giúp đỡ của Mỹ ra, hai thực thể này cũng thường không đứng độc lập, mà luôn có sự gắn kết, quan hệ tương hỗ và bổ sung cho nhau, tạo thành một sự liên kết rất chặt chẽ để Mỹ thực hiện chiến lược trên, kể cả khi có xảy ra xung đột ở Đài Loan hay Biển Đông. Theo đó, đối với Philippines, xét về mặt quân sự, các căn cứ nằm ở phía bắc đảo Luzon, nơi Mỹ được quyền tiếp cận, sẽ cho phép Mỹ nhanh chóng triển khai các lực lượng tác chiến trên không, trên biển, cũng như hỗ trợ hậu cần và các trang, thiết bị khác, giúp Mỹ kịp thời đưa ra phản ứng nếu xảy ra một kịch bản khẩn cấp ở eo biển Đài Loan. Nếu không có các căn cứ quân sự này của Philippines, thì khả năng hỗ trợ Đài Loan của Mỹ trong tình huống xảy ra xung đột sẽ bị suy giảm đáng kể, khiến cả hai đều dễ bị tổn thương hơn. Mặt khác, hiện nay đang có khoảng 150.000 công dân Philippines đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan. Nếu Trung Quốc tấn công Đài Loan bằng quân sự, sẽ gây ra một cuộc khủng hoảng nhân đạo và kinh tế lớn đối với Philippines. Do đó Manila không thể thờ ơ mà phải tìm cách phối hợp với Washington và Đài Bắc để bảo vệ Đài Loan, qua đó bảo vệ lợi ích của chính mình.  

Về phía Đài Loan, nếu xảy ra xung đột quân sự giữa Trung Quốc và Philippines ở Biển Đông, thì Đài Loan sẽ đóng vai trò như một tiền đồn hoặc căn cứ hậu cần cho các lực lượng của Mỹ. Bởi việc Mỹ được phép sử dụng các căn cứ hoặc cơ sở hạ tầng ở Đài Loan sẽ giúp tăng cường khả năng hoạt động và tiếp tế của họ trong khu vực một cách nhanh nhất. Mặt khác, khi xảy ra xung đột ở Biển Đông, thì bằng việc duy trì cảnh giác cao độ và tăng cường khả năng phòng thủ của mình, Đài Loan có thể buộc Trung Quốc phải phân tán lực lượng quân sự giữa hai mặt trận: Biển Đông và eo biển Đài Loan, qua đó làm giảm áp lực quân sự lên Philippines. Hơn nữa, Đài Loan còn có thể sẽ chia sẻ với Mỹ và Philippines thông tin tình báo và giám sát về các hoạt động trong thời gian thực của Trung Quốc ở Biển Đông, giúp hai nước này có cái nhìn toàn diện hơn về tình hình để kịp thời đưa ra các quyết sách chiến lược hiệu quả. Có thể nói, chiến lược FOIP của Mỹ có rất nhiều nội dung quan trọng và có tác dụng đáng nể trong đảm bảo vai trò, vị thế và lợi ích của Mỹ tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Nhưng phải nói trong đó, Mỹ đã đánh giá cao và sử dụng hiệu quả cả Đài Loan và Philippines cho chiến lược của mình. Philippines giống như chiếc “mỏ neo” cắm ở Biển Đông, chẳng những là một “lá chắn” vững chắc giúp Mỹ duy trì sự hiện diện sức mạnh quân sự ở vùng biển nhạy cảm và phức tạp nhất thế giới này, mà còn góp phần giúp Mỹ khuyếch trương vai trò, vị thế “siêu cường” tại khu vực. Trong khi đó, Đài Loan không những là một “hàng rào” tự nhiên trước Trung Quốc, mà còn là “lá chắn kinh tế” rất hiệu quả, khiến Mỹ không thể sao nhãng, mà ngược lại, cần phải tăng cường củng cố hơn nữa. Sự kết hợp giữa khả năng phòng thủ của Đài Loan với các căn cứ tiền tiêu của Philippines sẽ là một lợi thế lớn để Mỹ kiềm chế Trung Quốc ở Biển Đông, kể cả khi Bắc Kinh phát động một cuộc chiến ở Biển Đông hoặc eo biển Đài Loan.

]]>
Quan hệ Nhật – Philippines tác động tới Biển Đông kể từ khi Tổng thống Marcos Jr cầm quyền ở Philippines               https://biendong.net/2025/10/15/quan-he-nhat-philippines-tac-dong-toi-bien-dong-ke-tu-khi-tong-thong-marcos-jr-cam-quyen-o-philippines/ Wed, 15 Oct 2025 03:18:00 +0000 https://biendong.net/?p=161792 Sau khi lên nắm quyền Tổng thống ở Philippines vào tháng 6/2022, ông Ferdinand Marcos Jr đã nhanh chóng xây dựng được mối quan hệ nồng ấm với Nhật Bản, đưa quan hệ hai nước lên một tầm cao mới, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, quốc phòng – an ninh.

Sự gắn kết giữa hai nước, vốn cùng là đồng minh của Mỹ đã mang lại nhiều lợi ích cho cả Manila lẫn Tokyo, nhưng có điều, nó không chỉ bó hẹp trong quan hệ song phương mà còn tác động tới khu vực và nhiều quốc gia liên quan khác, nhất là tác động đối với an ninh khu vực Biển Đông cả trên bình diện tích cực cũng như tiêu cực.

Động lực cơ bản thúc đẩy ông Marcos Jr nhanh chóng nâng cấp quan hệ với Nhật Bản

Dưới thời Tổng thống Duterte, chính sách đối ngoại của Philippines chủ yếu đi theo hướng “xa Mỹ, gần Trung”, đồng thời duy trì một lập trường tương đối “độc lập” với các nước đồng minh của Mỹ, trong đó có Nhật Bản. Tuy vậy thời kỳ này, Nhật Bản vẫn là đối tác cung cấp nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA) lớn nhất cho Philippines, nhưng sự hợp tác này ít được thể chế hóa trong một chiến lược an ninh rộng lớn hơn.

Ngay sau khi nhậm chức Tổng thống Philippines, ông Marcos Jr đã nhanh chóng đưa ra một chính sách đối ngoại rộng lớn hơn, nhấn mạnh sự cần thiết của việc củng cố các mối quan hệ chính trị – ngoại giao, quốc phòng – an ninh với các cường quốc trong khu vực, nhất là với Nhật Bản. Tháng 2/2023, ông đã có chuyến thăm cấp nhà nước đầu tiên tới Nhật Bản, đánh dấu sự ưu tiên cao của Manila đối với Tokyo. Sự thay đổi này có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu xuất phát từ hai động lực cơ bản sau.

Trước hết là về kinh tế, Nhật Bản vốn là đối tác thương mại và là nhà đầu tư lớn nhất của Philippines, nên việc nâng cấp quan hệ với Nhật Bản sẽ giúp Philippines tiếp cận tốt hơn nguồn vốn, công nghệ và thị trường của nước này. Mặt khác, Biển Đông có vị trí rất quan trọng đối với an ninh kinh tế và năng lượng của Nhật Bản. Hơn 42% khối lượng hàng hóa thương mại của Nhật Bản được vận chuyển đi qua đây, do đó Tokyo rất cần phối hợp với Philippines để can dự nhiều hơn vào vùng biển này nhằm bảo đảm các lợi ích kinh tế của mình.

Tiếp theo là về quốc phòng – an ninh, cả Philippines và Nhật Bản đều có tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trên biển với Trung Quốc, và cũng đều rất lo ngại về các hành động quân sự ngày càng “hung hăng” của Trung Quốc trong khu vực, nhất là tại Biển Đông. Trước thời điểm ông Marcos Jr nhậm chức, cũng như thời gian sau đó, Trung Quốc liên tục gia tăng các hành động quyết đoán và hung hăng ở Biển Đông bằng “chiến thuật vùng xám”, đặc biệt là đối với các khu vực thuộc vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Philippines. Những hành động này đã làm leo thang căng thẳng giữa hai nước, buộc Philippines phải tăng cường quan hệ quốc phòng với các đối tác đồng minh như Nhật Bản và Mỹ, đồng thời tìm kiếm sự ủng hộ từ cộng đồng quốc tế, nhằm qua đó có thêm sức mạnh để hiện đại hóa quân đội và cơ sở hạ tầng, bảo đảm an ninh cho đất nước.

Những kết quả hợp tác nổi bật giữa Nhật Bản và Philippines khi Tổng thống Ferdinand Marcos Jr lên cầm quyền đến nay

Một là, trên lĩnh vực kinh tế, sau chuyến thăm Nhật Bản của ông Marcos Jr, quan hệ kinh tế Nhật – Philippines đã có nhiều bước phát triển mới, tiêu biểu như:

  • Về nguồn vốn ODA, Nhật Bản tiếp tục duy trì vị thế là nhà cung cấp vốn ODA lớn nhất cho Philippines. Các khoản đầu tư của Nhật Bản vào Philippines chủ yếu tập trung vào các dự án hạ tầng trọng điểm, có tính sống còn đối với nền kinh tế Philippines. Điển hình là dự án tàu điện ngầm đầu tiên ở Manila, được mệnh danh là “công trình của thế kỷ”, trị giá 8,8 tỉ USD, trong đó nguồn tài trợ bằng khoản vay từ Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) là 2,7 tỉ USD. Điều đáng nói, nếu như dưới thời cựu Tổng thống Duterte, Trung Quốc đã đầu tư rất mạnh vào các dự án hạ tầng ở Philippines, nhưng nhiều dự án trong số đó đã không đạt hiệu quả kinh tế hoặc bị đình trệ, thì nay Philippines đã hủy bỏ và tìm đến các nhà đầu tư Nhật Bản. Ví dụ, dự án đường sắt lớn (SCMB) do Trung Quốc tài trợ đã phải “đắp chiếu” hơn 4 năm, nay đã được khởi động lại với sự hậu thuẫn của Mỹ và Nhật Bản.Đáng nói hơn, các khoản đầu tư của Nhật Bản không chỉ mang lại lợi ích kinh tế, mà còn đóng vai trò như một “công cụ địa chính trị”. Bởi vì các khoản đầu tư của Nhật Bản là một “sự thay thế đáng tin cậy” cho các dự án kém hiệu quả của Trung Quốc. Hơn nữa, nguồn vốn này sẽ gắn kết Philippines chặt chẽ hơn vào chuỗi giá trị và cơ sở hạ tầng do Nhật Bản – đối tác “cùng chí hướng” tài trợ. Ai cũng biết, chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, nên khi đã có sự gắn kết về kinh tế thì đương nhiên, mối quan hệ về chính trị giữa hai nước cũng trở nên mật thiết hơn. Hiện nay, ngoài các dự án đã tài trợ, JICA đang triển khai 15 dự án cơ sở hạ tầng trọng điểm khác, trong đó có các dự án đường sắt lớn, với tổng giá trị khoảng 20 tỷ USD. Nhật Bản cũng sẽ tiếp tục tăng cường hỗ trợ vốn ODA trên lĩnh vực an ninh nhằm nâng cao khả năng phòng thủ hàng hải cho Philippines; tiếp tục duy trì chính sách lãi suất ưu đãi để giúp Manila có thêm nguồn vốn phục vụ cho việc phục hồi kinh tế đất nước sau đại dịch COVID-19.

(ii) Sáng kiến “Hành lang kinh tế Luzon”: Đây là dự án hạ tầng trọng điểm, được ký kết tại Hội nghị thượng đỉnh Mỹ – Nhật – Philippines hồi tháng 4/2024, tại Mỹ, nhằm tăng cường kết nối chuỗi cung ứng và nâng cấp hạ tầng chiến lược tại Luzon, hòn đảo lớn nhất và quan trọng nhất của Philippines. Sáng kiến này đánh dấu một bước tiến quan trọng mới, từ hợp tác song phương sang một chiến lược phát triển kinh tế lớn hơn, có sự phối hợp của ba nước. Nó không chỉ là dự án phát triển đơn lẻ, mà còn mang giá trị là một đối trọng chiến lược “nặng ký” đối với sáng kiến “Vành đai và Con đường” (BRI) của Trung Quốc. Việc Nhật Bản phối hợp với Mỹ sử dụng sức mạnh kinh tế của mình để xây dựng hành lang kinh tế quan trọng trên cho thấy hai nước đang tạo ra một “chuỗi cung ứng chiến lược” nhằm củng cố, thắt chặt mối quan hệ với Philippines, qua đó giúp Manila giảm sự phụ thuộc vào Trung Quốc về kinh tế. Hoạt động này chứng tỏ, Philippines đã bước lên “cỗ xe” chiến lược địa chính trị của Mỹ và Nhật Bản đối với khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nhằm đối phó với Trung Quốc.

Hai là, trên lĩnh vực quốc phòng – an ninh, quan hệ hai nước có bước phát triển rất mạnh mẽ, từ viện trợ bình thường đã vươn lên thành “liên kết chiến lược” rộng lớn hơn, với những trụ cột cơ bản sau:

(i) Hai bên đã pháp lý hóa hoạt động quốc phòng – an ninh bằng việc ký kết Thỏa thuận tiếp cận đối ứng (RAA) ngày 08/7/2024. Đây là một thỏa thuận quốc phòng mang tính đột phá, cho phép lực lượng quân sự của hai nước dễ dàng triển khai trên lãnh thổ của nhau để thực hiện các hoạt động huấn luyện và tác chiến chung. Thỏa thuận này đánh dấu lần đầu tiên, Nhật Bản ký RAA với một quốc gia Đông Nam Á. Việc này cho thấy mức độ tin cậy và sự liên kết chiến lược giữa hai nước đã đạt đến đỉnh điểm. Trước đây, sự tham gia của Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản vào các hoạt động quân sự tại Philippines bị giới hạn ở các hoạt động cứu trợ nhân đạo và hỗ trợ thảm họa. Nhưng bây giờ, RAA ra đời thì phạm vi hợp tác sẽ được mở rộng hơn sang các cuộc tập trận chung lớn hơn, giúp nâng cao đáng kể khả năng tương tác giữa quân đội hai nước. Sự đồng thuận và nhanh chóng ký kết RAA cho thấy, cả hai bên đều có chung nhận thức về tình hình an ninh khu vực, nhất là các hành vi cưỡng ép ở Biển Đông đã trở thành một mối đe dọa chung, từ đó đòi hỏi hai nước phải có sự phối hợp phản ứng mạnh mẽ hơn. RAA ra đời đã đưa mối quan hệ đối tác “hữu nghị truyền thống” Nhật – Philippines trở thành một “liên kết chiến lược” quốc phòng – an ninh thực sự, được thể chế hóa bằng một khuôn khổ pháp lý vững chắc.

(ii) Nhật Bản đã chọn Philippines là quốc gia đầu tiên nhận nguồn viện trợ quốc phòng theo khuôn khổ của chương trình Hỗ trợ An ninh chính thức (OSA) mới của Nhật Bản. Khác với ODA, OSA tập trung vào việc nâng cao năng lực an ninh cho các quốc gia đối tác. Khoản viện trợ đầu tiên trị giá 1,6 tỉ yên (khoảng 10,65 triệu USD) mà Tokyo giành cho Manila nhằm cung cấp các thiết bị như thuyền cao su, hệ thống radar ven biển và thiết bị hỗ trợ radar giám sát trên không cho Hải quân và Không quân Philippines. Bên cạnh đó, các khoản vay từ Nhật Bản cũng giúp Philippines đóng mới 13 tàu tuần duyên cho Lực lượng Bảo vệ bờ biển. Nhật Bản cũng đã phê duyệt một khoản vay 500 triệu USD để Philippines đóng thêm nhiều tàu tuần tra lớn hơn, đồng thời có khả năng sẽ chuyển giao 6 tàu khu trục cũ và máy bay tuần tra hàng hải cho Hải quân Philippines vào năm 2027. Trong bối cảnh Tokyo bị hạn chế hành động quân sự bởi Hiến pháp hòa bình, nhưng lại có lượng hàng hóa đi qua Biển Đông rất lớn, nên vùng biển này trở thành khu vực có lợi ích thiết thân rất lớn với Nhật Bản. Chính vì vậy, nâng cao năng lực hàng hải cho các đối tác ở tuyến đầu của vùng biển này như Philippines không chỉ giúp Manila bảo vệ chủ quyền, mà còn gián tiếp bảo vệ các tuyến đường biển quan trọng của Nhật Bản, vốn được coi là “huyết mạch chính” trong chuỗi cung ứng của đất nước.

(iii) Phối hợp tăng cường các hoạt động huấn luyện và tuần tra hàng hải chung. Các hoạt động này không chỉ giới hạn ở các cuộc tập trận song phương, mà còn mở rộng thành các cuộc tập trận ba bên với Mỹ, thậm chí bốn bên với Úc (điển hình như cuộc tập trận Balikantan 2025), tập trung vào việc tăng cường khả năng tương tác giữa các lực lượng. Những hoạt động này có ý nghĩa chính trị – ngoại giao rất lớn, là thông điệp răn đe rõ ràng đối với các hành vi cưỡng ép và đơn phương nhằm làm thay đổi nguyên trạng ở Biển Đông.

Ba là, trên lĩnh vực chính trị – ngoại giao, ngoài kinh tế, quốc phòng – an ninh, Philippines còn tham gia vào các cơ chế hợp tác đa phương trong khu vực, nổi bật là:

(i) Tham gia và hình thành cơ chế phối hợp ba bên chính thức với Mỹ và Nhật Bản trên nhiều lĩnh vực, từ quốc phòng – an ninh đến kinh tế, công nghệ, chuỗi cung ứng năng lượng sạch, hợp tác về chống biến đổi khí hậu… Theo ông Marcos Jr, cơ chế này sẽ làm “thay đổi thế cục mà chúng ta thấy trong khu vực”; là thông điệp cảnh báo mạnh mẽ rằng, các hành vi cưỡng ép ở Biển Đông không chỉ phải đối mặt với phản ứng của một quốc gia, mà còn phải đối mặt với một “liên minh tiểu đa phương” đang nổi lên.

(ii) Bên cạnh việc cùng Mỹ tổ chức Hội nghị thượng đỉnh ba bên Mỹ – Nhật – Philippines, Nhật Bản và Philippines còn tham gia vào nhiều khuôn khổ hợp tác khác. Các nhà lãnh đạo của ba nước thường xuyên gặp gỡ nhau bên lề các hội nghị quốc tế, như Hội nghị cấp cao ASEAN ở Indonesia, tháng 5/2023. Ngoài ra, các cuộc tuần tra hàng hải ba bên và bốn bên (với Úc) cũng thường xuyên diễn ra, nhằm tăng cường khả năng tương tác và gửi đi thông điệp chung về cam kết duy trì tự do hàng hải ở Biển Đông. Sự đa dạng của các khuôn khổ hợp tác này cho thấy tính linh hoạt và khả năng mở rộng của mô hình an ninh khu vực mới, cho phép Nhật Bản và Philippines điều chỉnh mức độ cam kết và phạm vi hợp tác tùy theo tình hình cụ thể.

Những tác động của quan hệ Nhật – Philippines đối với an ninh Biển Đông

Rõ ràng, Biển Đông là yếu tố quan trọng thúc đẩy hai nước Nhật – Philippines tăng cường quan hệ, đồng thời đã đưa lại những lợi ích thiết thực cho hai nước. Ngược lại, quan hệ giữa hai nước sẽ có những ảnh hưởng và tác động đối với an ninh khu vực Biển Đông cả về mặt tích cực và tiêu cực.

Ảnh hưởng và tác động tích cực được thể hiện ở mấy khía cạnh cụ thể sau.

Thứ nhất, thông qua việc Nhật Bản giúp Philippines nâng cao năng lực thực thi pháp luật trên biển, qua đó đã gián tiếp giúp ổn định tình hình an ninh khu vực. Bởi vì, bằng việc hỗ trợ Philippines các trang thiết bị như tàu tuần tra, hệ thống radar giám sát và tổ chức huấn luyện trực tiếp, Nhật Bản đã và đang giúp Lực lượng tuần duyên Philippines có thêm phương tiện và kỹ năng cần thiết để nâng cao năng lực hàng hải, giám sát, bảo vệ EEZ của mình hiệu quả hơn. An ninh vùng biển thuộc chủ quyền Philippines ổn định sẽ góp phần vào ổn định an ninh chung của Biển Đông.

Thứ hai, liên minh Nhật – Philippines về tăng cường an ninh biển thúc đẩy trật tự khu vực dựa trên luật lệ. Mặc dù không phải là một bên tranh chấp ở Biển Đông, nhưng Nhật Bản có lợi ích sống còn trong việc đảm bảo tự do hàng hải và hàng không ở vùng biển này. Do đó, sự hợp tác chặt chẽ giữa Nhật – Philippines, đặc biệt là việc ký kết RAA, đã gửi đi một thông điệp mạnh mẽ về việc duy trì một trật tự quốc tế tự do và rộng mở dựa trên luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982).

Thứ ba, sự hợp tác chặt chẽ giữa Nhật – Philippines thúc đẩy hình thành cơ chế hợp tác đa phương mới trong khu vực. Quan hệ Nhật – Philippines là một mắt xích quan trọng trong mạng lưới hợp tác an ninh rộng lớn hơn tại khu vực, bao gồm cả Mỹ và những nước khác. Các cuộc gặp ba bên Mỹ – Nhật – Philippines có thể còn mở ra cho các bên khác tham gia và khả năng Nhật Bản tham gia sâu hơn vào các cuộc tập trận chung như Balikatan sẽ tạo ra một cơ chế phối hợp rộng rãi, linh hoạt, góp phần răn đe các hành vi đơn phương, cưỡng ép trên Biển Đông.

Bên cạnh đó, các ảnh hưởng và tác động tiêu cực có thể xảy ra các tình huống cụ thể sau.

Thứ nhất, sự tăng cường liên minh Nhật – Philippines làm gia tăng căng thẳng và nguy cơ đối đầu tại khu vực. Bởi, việc Nhật Bản và Philippines – hai đồng minh thân cận của Mỹ ở khu vực tăng cường hợp tác quân sự sẽ bị Trung Quốc xem là một nỗ lực nhằm kiềm chế và bao vây họ. Trên thực tế, Bắc Kinh đã không ít lần chỉ trích các động thái này, cho rằng đây là biểu hiện của “tư duy Chiến tranh lạnh”, có thể dẫn đến một cuộc chạy đua vũ trang, làm phức tạp thêm tình hình và gia tăng nguy cơ tính toán sai lầm hoặc va chạm trên biển.

Thứ hai, liên minh Nhật – Philippines làm gây phức tạp hóa quan hệ trong khu vực. Sự xích lại gần nhau của Nhật Bản và Philippines có thể tạo ra những áp lực nhất định trong quan hệ của hai nước này với Trung Quốc, đối tác thương mại lớn của cả hai nước. Ngoài ra, nó cũng có thể gây ra sự chia rẽ nhất định trong nội bộ ASEAN khi các quốc gia thành viên trong khối có những cách tiếp cận khác nhau đối với vấn đề Biển Đông và sự cạnh tranh của các nước lớn.

Thứ ba, Nhật Bản có thể bị lôi kéo sâu hơn vào các tranh chấp. Mặc dù Tokyo không có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, nhưng việc ký kết RAA và tăng cường hiện diện quân sự, dù chỉ để tập trận thôi, cũng có thể khiến Nhật Bản bị lôi kéo trực tiếp hơn vào các sự cố hoặc xung đột tiềm tàng giữa Philippines và Trung Quốc. Điều này có thể tạo ra một thế đối đầu song song, khi Trung Quốc cũng đang gia tăng áp lực lên Nhật Bản trong tranh chấp ở biển Hoa Đông.

Như vậy có thể thấy, quan hệ Nhật – Philippines dưới thời Tổng thống Marcos Jr đã có sự thay đổi mang tính chiến lược, trên cả lĩnh vực kinh tế lẫn quốc phòng – an ninh. Bằng việc ký kết RAA, triển khai chương trình OSA và củng cố cơ chế hợp tác ba bên với Mỹ, hai nước không chỉ củng cố, thúc đẩy quan hệ song phương, mà còn bắt đầu hình thành một cấu trúc an ninh mới ở khu vực. Mối quan hệ trên vừa giúp ổn định an ninh, trật tự dựa trên luật lệ ở Biển Đông, vừa giúp Philippines bảo vệ chủ quyền hiệu quả hơn. Tuy nhiên, nó cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ làm gia tăng cạnh tranh địa chính trị và căng thẳng trong khu vực Biển Đông, đặt ra bài toán ứng xử đối với các nước khác trong khu vực này./.

]]>
Canada tăng cường hiện diện ở khuc vực, thắt chặt quan hệ quốc phòng với Philippines và tác động tới Biển Đông https://biendong.net/2025/10/08/canada-tang-cuong-hien-dien-o-khuc-vuc-that-chat-quan-he-quoc-phong-voi-philippines-va-tac-dong-toi-bien-dong/ Wed, 08 Oct 2025 01:10:00 +0000 https://biendong.net/?p=158982 Nhằm thúc đẩy chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương được thông qua năm 2022, thời gian gần đây Canada tăng cường sự hiện diện tại khu vực này và thắt chặt quan hệ quốc phòng với Philippines để làm bàn đạp can dự sâu hơn vào khu vực.

Từ đầu năm 2025, Hải quân Canada điều tàu khu trục lớp Halifax HMCS Ottawa thực hiện nhiệm vụ “thúc đẩy hòa bình, ổn định và trật tự quốc tế dựa trên luật lệ” ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, vốn được biết đến với tên gọi “Chiến dịch Horizon” của các lực lượng vũ trang Canada. Tháng 1/2025, tàu này đã tiến hành cuộc tập trận chung với Hải quân Mỹ ở Biển Đông và đi gần bãi cạn Scarborough, một điểm nóng căng thẳng giữa Trung Quốc và Philippines. Tàu khu trục HMCS Ottawa cũng tham gia tập trận La Perouse 25 – một cuộc tập trận đa quốc gia do Pháp dẫn đầu – tại vùng biển gần quần đảo Indonesia.

Tàu hải quân Canada

Tàu HMCS Ottawa bắt đầu năm 2025 bằng cuộc tập trận chung với tàu chiến Mỹ ở Biển Đông. Bộ tư lệnh tác chiến chung Canada ra thông báo trên trang X cho biết từ ngày 8-11/1/2025, tàu hải quân Canada HMCS Ottawa đã hoàn thành cuộc tập trận chung với tàu khu trục USS Higgins của Hải quân Mỹ trong bối cảnh căng thẳng ở Biển Đông, cuộc tập trận có mật danh là “Noble Wolverine”. Theo thông báo, cả hai tàu đều “di chuyển qua vùng biển quốc tế của Biển Đông trong khi tiến hành các cuộc tập trận liên lạc, hoạt động bay và huấn luyện tác chiến chống tàu ngầm”.

Tàu khu trục lớp Halifax HMCS Ottawa cũng đã di chuyển gần bãi cạn Scarborough, nơi hải cảnh Trung Quốc và lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines đã tham gia vào trò chơi mèo vờn chuột trong nhiều tuần. Chuỗi rạn san hô đang tranh chấp nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines nhưng nằm dưới sự kiểm soát trên thực tế của Trung Quốc từ năm 2012. Bắc Kinh đã triển khai tàu Hải cảnh lớn nhất của mình, được gọi là “Quái vật” vì kích thước khổng lồ của nó, đến khu vực này kể từ đầu năm, mà Manila coi là “một hành động đe dọa, cưỡng ép và xâm lược”.

Theo tuyên bố của Hạm đội 7 Mỹ, “Noble Wolverine” chứng minh “cam kết chung của hai nước Mỹ và (Canada) đối với một Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở”, đồng thời nói thêm rằng các hoạt động song phương như vậy mang lại “cơ hội có giá trị để huấn luyện, thực hành và phát triển khả năng tương tác chiến thuật” giữa các lực lượng hải quân đồng minh và đối tác trong khu vực.

Từ ngày 1 đến 4/2/2025, tàu khu trục lớp Halifax HMCS Ottawa của Hải quân Canada, với 240 thủy thủ đoàn, đã cập Cảng tự trị Sihanoukville thực hiện chuyến thăm đầu tiên tới Campuchia. Adriano Lozer, Chỉ huy trưởng tàu HMCS Ottawa, đánh giá cao chuyến thăm này và coi đây là minh chứng cho sự can dự ngày càng tăng của Canada vào khu vực khi nhấn mạnh: “Chuyến thăm này cho phép chúng tôi chứng minh rõ ràng cam kết quốc phòng lâu dài đối với khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và tăng cường vai trò của Canada như một đối tác quốc tế đáng tin cậy”.

Thong Mengdavid, nhà phân tích địa chính trị và Giáo sư tại Viện Quan hệ quốc tế và Nghiên cứu chính sách công thuộc Đại học Hoàng gia Phnom Penh cho rằng: “Chuyến thăm đánh dấu một cử chỉ thiện chí và nỗ lực tăng cường quan hệ song phương giữa Campuchia và Canada. Mặc dù Campuchia trước nay vẫn cẩn thận duy trì sự cân bằng trong các hoạt động quân sự với các cường quốc nước ngoài, nhưng những chuyến thăm như vậy có thể thúc đẩy nhận thức tích cực về hợp tác quân sự quốc tế, đặc biệt là trong các lĩnh vực như an ninh hàng hải, hỗ trợ nhân đạo và xây dựng năng lực”. Ông Thong Mengdavid nói thêm rằng chuyến thăm này phù hợp với mục tiêu rộng lớn hơn của Canada là tăng cường sự hiện diện của mình tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, như đã nêu trong Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Bằng cách hợp tác với Campuchia, Canada thể hiện cam kết của mình đối với an ninh khu vực, hợp tác đa phương và tăng cường quan hệ ngoại giao.

Chỉ huy tàu Adriano Lozer nhấn mạnh: “Là một thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Campuchia đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì ổn định khu vực. Chuyến thăm của HMCS Ottawa giúp củng cố quan hệ của chúng tôi và đẩy mạnh cam kết chung của chúng tôi đối với trật tự quốc tế dựa trên luật lệ. Là một quốc gia Thái Bình Dương, củng cố quan hệ mạnh mẽ với các đối tác khu vực là một ưu tiên, và chúng tôi đặc biệt sốt sắng hợp tác với Campuchia trong tương lai”.

Tàu HMCS Ottawa tham gia cuộc tập trận đa quốc gia La Perouse 25 – cuộc tập trận hàng hải có sự tham gia của 9 quốc gia do Hải quân Pháp dẫn đầu vào ngày 24/1/2025. Cuộc tập trận diễn ra tại Eo biển Malacca, Sunda và Lombok, nơi nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Có 13 tàu từ các nước Australia, Canada, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Singapore, Anh, Mỹ và nhóm tác chiến tàu sân bay Charles De Gaulle của Pháp đã tham gia cuộc tập trận, trong đó tập trung vào nội dung huấn luyện an toàn hàng hải. Sau khi kết thúc cuộc tập trận La Perouse 25, tàu HMCS Ottawa đã ghé thăm Indonesia trước khi thăm Campuchia.

Cùng với việc điều tàu chiến tới hoạt động dài ngày ở khu vực, Canada còn tích cực thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc phòng với Philippines. Theo thông báo của Bộ Quốc phòng Philippines và Bộ các vấn đề toàn cầu Canada, Manila và Ottawa đã kết thúc các cuộc đàm phán liên quan tới thỏa thuận về Quy chế cho các lực lượng thăm viếng (SOVFA) giữa hai bên vào tháng 3/2025, cho phép lực lượng hai nước tiến hành các cuộc tập trận chung và tăng cường hợp tác. Các cuộc đàm phán này được tổ chức sau khi hai nước đã ký bản ghi nhớ Hợp tác quốc phòng hồi tháng 1/2024.

Việc Canada và Philippines cùng phối hợp về SOVFA nói trên sẽ cho phép mỗi bên cùng hợp tác trong các lĩnh vực chung có lợi cho pháp quyền, hợp tác quốc phòng và an ninh, cũng như hòa bình và ổn định ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Theo Bộ trưởng Quốc phòng Canada Bill Blair, việc hoàn tất thỏa thuận này là dấu mốc quan trọng đối với mối quan hệ song phương Canada-Philippines khi hai nước kỷ niệm 75 năm quan hệ ngoại giao trong năm 2024.

Theo Bộ Quốc phòng Philippines, thỏa thuận với Canada “sẽ thiết lập một khuôn khổ hợp tác gia tăng, thúc đẩy sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa các cơ quan quốc phòng và quân sự, nâng cao khả năng tương tác giữa các lực lượng và tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc tập trận chung hiệu quả hơn cũng như các hoạt động nâng cao năng lực”. Bộ trưởng Quốc phòng Gilberto Teodoro cho biết Philippines sẽ tiếp tục xây dựng các liên minh an ninh nhằm ngăn chặn sự gây hấn của Trung Quốc. Ông Teodoro nhấn mạnh các hành động thù địch của Bắc Kinh có thể dẫn đến việc hạn chế hoạt động trên Biển Đông, một tuyến đường thương mại quan trọng đối với chuỗi cung ứng toàn cầu.

Trong số các lĩnh vực mà biên bản ghi nhớ về Hợp tác quốc phòng đề cập tới có giáo dục quân sự, trao đổi đào tạo, chia sẻ thông tin, hoạt động gìn giữ hòa bình và ứng phó thảm họa. Văn bản này là một dấu hiệu rõ ràng cho thấy Canada sẵn sàng hợp tác với Philippines và nó tiếp nối một thỏa thuận khác được ký năm 2023, mở rộng quyền truy cập Hệ thống phát hiện tàu ẩn (Dark Vessel Detection System) của Canada cho Trung tâm giám sát bờ biển quốc gia Philippines. Theo đó, Canada cung cấp cho Philippines quyền truy cập vào Hệ thống phát hiện tàu ẩn, sử dụng công nghệ vệ tinh để theo dõi các tàu bất hợp pháp ngay cả khi chúng vô hiệu hóa thiết bị phát tín hiệu định vị. Do vậy, lực lượng tuần duyên Philippines đã sử dụng công nghệ của Canada để theo dõi các tàu Hải cảnh Trung Quốc và tàu đánh cá trên Biển Đông.

 Quy chế cho các lực lượng thăm viếng (SOVFA) là yêu cầu pháp lý để Philippines hợp tác với quân đội Canada trong các cuộc tập trận quân sự chung và các sự kiện liên quan đến quân sự khác mà không vi phạm hiến pháp. Theo khoản 25, Điều 18, Hiến pháp Philippines không công nhận sự hiện diện của quân đội hay căn cứ nước ngoài trừ khi có một hiệp ước được cả Thượng viện và Hạ viện nước này chính thức phê chuẩn. Giới chuyên gia nhận định việc hoàn tất SOVFA giữa Philippines và Canada tạo điều kiện cho Hải quân Canada tham gia nhiều hơn vào các hoạt động tuần tra và tập trận chung ở Biển Đông nhằm thúc đảy trật tự dựa trên luật lệ.

Việc phê chuẩn SOVFA do đó cho phép lực lượng vũ trang Philippines có cơ hội huấn luyện và phối hợp cùng với các đối tác của họ trong lực lượng vũ trang Canada. Ngoài ra, nó còn cho phép Philippines có cơ hội đa dạng hóa các đối tác an ninh của họ và giảm sự phụ thuộc vào Mỹ trong bối cảnh căng thẳng hàng hải đang diễn ra trên Biển Đông. Vào tháng 8/2024, lực lượng Hải quân và Không quân Canada và Philippines đã tham gia cùng Australia và Mỹ trong các cuộc diễn tập không quân và hải quân nhằm đảm bảo hoạt động đi lại không bị cản trở trên vùng biển quốc tế thuộc Biển Đông và thúc đẩy khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương Tự do và Rộng mở.

Đây không phải là động thái duy nhất mà Manila thực hiện để tìm kiếm quyền tự chủ chiến lược lớn hơn. Philippines và Nhật Bản đã ký thỏa thuận Tiếp cận Đối ứng (RAA) vào tháng 7/2024 và Thượng viện Philippines đã phê chuẩn văn kiện này ngày 16/12/2024 (nhưng Quốc hội Nhật Bản hiện vẫn chưa thông qua). Ngoài ra, Philippines và New Zealand đã hoàn tất đàm phán SOVFA giữa hai nước hôm 20/1/2025 và đã ký kết hiệp định này vào tháng 4/2025. Philippines cũng đang thảo luận về một thỏa thuận tương tự với Pháp. Bộ trưởng Quốc phòng Teodoro cho biết Philippines có thể tìm kiếm các SOVFA với các quốc gia khác như Đức, Ấn Độ và Singapore.

Canada sẽ được hưởng lợi khi có được một đồng minh ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, qua đó hoàn thành một trong những mục tiêu của Chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của mình, trong đó kêu gọi xây dựng các mối quan hệ hợp tác mới dựa trên an ninh. Đối với Philippines, Canada được coi là đối tác an ninh đáng tin cậy và là một đồng minh sẵn sàng ủng hộ Philippines qua các kênh ngoại giao trong bối cảnh tranh chấp Biển Đông.

Việc Canada tăng cường hiện diện ở khu vực cũng như nâng cấp quan hệ hợp tác quốc phòng với Philippines tác động tích cực tới cục diện Biển Đông, thể hiện trên một số điểm sau:

Thứ nhất, giới phân tích nhận định với việc hoàn tất SOVFA giữa Manila và Ottawa, Philippines được coi là mắt xích quan trọng để Canada can dự sâu hơn vào Biển Đông. Việc thắt chặt quan hệ quốc phòng giữa Philippines và Canada trở thành yếu tố quan trọng để Manila đối phó với những hành vi hung hăng của Bắc Kinh ở Biển Đông, góp phần thúc đẩy trật tự dựa trên luật lệ ở Biển Đông.

Thứ hai, thêm một đồng minh quan trọng của Mỹ tham gia sâu vào Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và Biển Đông tạo ra cục diện đa phương trong việc ngăn chặn sự mở rộng bành trướng của Bắc Kinh. Mỹ không chỉ một mình cùng đồng minh Philippines trong cuộc đối đầu với Trung Quốc ở Biển Đông mà sẽ có sự tham gia của nhiều đồng minh tới. Với việc tăng cường quan hệ quốc phòng với Philippines, Canada sẽ tham gia nhiều hơn vào các cuộc tuần tra, tập trận song phương và đa phương ở Biển Đông để kiềm chế Trung Quốc.

Thứ ba, việc Canada tăng cường hiện diện ở khu vực và ký với Philippines SOVFA sẽ khích lệ các đồng minh khác của Mỹ ở châu Âu như Anh, Đức, Ý, Hà Lan… tham gia vào “mặt trận” chống bành trướng của Trung Quốc ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nói chung và Biển Đông nói riêng. Canada và các đồng minh châu Âu khác của Mỹ cũng có thể mở rộng hợp tác quốc phòng với các đối tác khác ven Biển Đông, góp phần quốc tế hoá, đa phương hoá các tranh chấp ở Biển Đông.

]]>
Bắc Kinh sử dụng cách răn đe mới trên Biển Đông https://biendong.net/2025/10/03/bac-kinh-su-dung-cach-ran-de-moi-tren-bien-dong/ Fri, 03 Oct 2025 14:36:00 +0000 https://biendong.net/?p=161772 Trong bối cảnh tình hình Biển Đông không ngừng leo thang căng thẳng do việc Trung Quốc gia tăng những hành vi hung hăng bắt nạt láng giềng và vấp phải sự chống trả quyết liệt của Philippines, giới cầm quyền Bắc Kinh đã áp đặt lệnh trừng phạt đối với một đồng minh chủ chốt của Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr, người đóng vai trò quan trọng trong việc thông qua đạo luật các vùng biển của Philippines. Động thái này được coi là một hành vi gây hấn chính trị và được các nhà quan sát cho rằng là một cách làm hết sức thô thiển, ngạo mạn.

Bắc Kinh cáo buộc cựu Thượng nghị sĩ Francis Tolentino – người đã tranh cử không thành công vào Thượng viện trong liên danh của Tổng thống Marcos hồi tháng 5 – vì đã có những hành vi được cho là không thể chấp nhận được liên quan đến vấn đề Biển Đông. Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho biết Tolentino sẽ bị cấm nhập cảnh vào Trung Quốc, Hong Kong và Ma Cao khi công bố lệnh trừng phạt vào ngày 01/7/2025. Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố: “Trong một thời gian khá dài, vì lợi ích cá nhân, một số ít chính trị gia chống Trung Quốc ở Philippines đã đưa ra những nhận xét và hành động ác ý về các vấn đề liên quan đến Trung Quốc, gây tổn hại đến lợi ích của Trung Quốc cũng như quan hệ Trung Quốc – Philippines”.

Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho rằng Tolentino đã có “hành vi tồi tệ về các vấn đề liên quan đến Trung Quốc”, nhưng lại không chỉ rõ nhà lập pháp Philippines đã có những hành động cụ thể nào để dẫn đến quyết định này. Tuyên bố từ phía Trung Quốc nhấn mạnh: “Chính phủ Trung Quốc kiên quyết bảo vệ chủ quyền, an ninh và lợi ích phát triển quốc gia”. Tolentino đã vận động tranh cử với lập trường chủ nghĩa dân tộc, chất vấn hành vi hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông.

Cựu Thượng nghị sĩ Francis Tolentino còn cáo buộc đại sứ quán Trung Quốc tại Manila có liên quan đến hoạt động thao túng dư luận thông qua việc ký hợp đồng với một công ty điều hành các “trang trại troll”, nhằm lan truyền thông tin sai lệch trong nước. Hồi tháng 1/2024, ông Tolentino đã cáo buộc Trung Quốc lừa dối cộng đồng quốc tế khi cho rằng Philippines đang để Mỹ lợi dụng như một “quân cờ” trong cuộc chạy đua giành ảnh hưởng ở vùng biển chiến lược này.

Các chuyên gia cho rằng bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia là trách nhiệm của mỗi người dân, chỉ có những kẻ hèn nhát mới luồn cúi bán rẻ tổ quốc. Việc ông Tolentino lên án các hành động hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông là việc làm bình thường của mỗi công dân khi chủ quyền, quyền chủ quyền đất nước bị xâm hại. Thực ra, ông Tolentino cũng chẳng cần đến Trung Quốc, Hồng Kông hay Ma Cao làm gì, hành động trừng phạt ông Tolentino là cách hành xử đê tiện của giới cầm quyền Bắc Kinh, có thể làm bùng phát tư tưởng bài Hoa trong dân chúng Philippines.

Philippines là đồng minh lâu đời vững chắc của Mỹ trong khu vực. Hai quốc gia này bị ràng buộc bởi Hiệp ước Phòng thủ Chung có từ năm 1951. Hiệp ước này quy định cả hai bên phải hỗ trợ lẫn nhau trong thời điểm bị tấn công. Washington đã khẳng định sẽ không ngần ngại đứng về phía Manila trong trường hợp xảy ra xung đột với bất kỳ kẻ gây hấn nào, kể cả Trung Quốc. Các điều khoản của hiệp ước đã được điều chỉnh trong những năm gần đây. Năm ngoái, Washington đã tái khẳng định rằng hiệp ước bao gồm cả các cuộc tấn công nhằm vào Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Philippines (PCG), sau khi Mỹ cáo buộc rằng Trung Quốc có những “hành động leo thang và vô trách nhiệm” khi cản trở một đoàn tiếp tế của Philippines đến tiền đồn ở Bãi Cỏ Mây.

Tuy nhiên, cả Trung Quốc và Philippines vẫn nỗ lực giải quyết những bất đồng thông qua con đường ngoại giao, cụ thể là qua “cơ chế tham vấn song phương” được thiết kế để hạ nhiệt căng thẳng giữa hai quốc gia hàng hải ở châu Á này. Dù cơ chế này vẫn đang hoạt động, song Trung Quốc không ngừng đưa tàu hải cảnh, tàu dân quân biển, tàu khảo sát nghiên cứu, kể cả tàu chiến vào hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế Philippines (EEZ) thuộc Biển Tây Philippines (cách Philippines gọi Biển Đông). Trong khi đó, Manila tiếp tục tìm kiếm sự ủng hộ từ đồng minh Mỹ và các quốc gia “cùng chí hướng” trên thế giới, bao gồm Australia, Anh, Pháp, Canada, Đức… cũng như Nhật Bản – quốc gia cũng có tranh chấp biển riêng với Bắc Kinh.

Diễn biến mới xung quanh vụ việc trừng phạt ông Francis Tolentino dường như đang gây thêm áp lực đối với chính phủ của Tổng thống Marcos, vốn đã “xoay trục trở lại” vòng tay của Mỹ – trái ngược hoàn toàn với chính sách của chính quyền tiền nhiệm Rodrigo Duterte, người từng công khai ủng hộ Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, thậm chí gạt bỏ phán quyết pháp lý vào năm 2016, trong đó bác bỏ hầu hết yêu sách trên biển của Trung Quốc.

Trớ trêu thay, ông Duterte hiện đang bị giam giữ ở La Hay vì tội ác chống lại loài người liên quan đến cuộc chiến chống ma túy khiến hàng nghìn người thiệt mạng. Động thái trừng phạt lần đầu tiên đối với một chính trị gia Philippines được Bắc Kinh đưa ra giữa lúc nội bộ Philippines có sự đấu tranh mạnh của phe thân Bắc Kinh chống lại Tổng thống Marcos cho thấy Trung Quốc đang tìm cách phân hoá, chia rẽ nội bộ Philippines.

Việc Bắc Kinh trừng phạt ông Francis Tolentino là nhằm tạo sự răn đe đối với những người lên tiếng phản đối Bắc Kinh và đánh vào nội bộ của Philippines. Tuy nhiên, cách làm thô bạo, ngạo mạn này không những không làm giới chức Philippines sợ hãi và không ngăn được những tiếng nói chỉ trích Bắc Kinh mà ngược lại còn khiến nhiều nghị sĩ ở cả 2 viện của Philippines lên tiếng ủng hộ ông Tolentino, bảo vệ công lý yêu cầu chính phủ có hình thức đáp trả.

Hôm 01/7/2025, Thượng nghị sĩ Philippines Jinggoy Estrada đã thúc giục Bộ Ngoại giao Philippines triệu tập Đại sứ Trung Quốc tại Manila Hoàng Khê Liên (Huang Xilian) để yêu cầu giải thích về điều mà ông gọi là “động thái bất công” đối với ông Tolentino và để bày tỏ “sự bất bình sâu sắc” của Manila đối với việc Trung Quốc áp đặt lệnh trừng phạt này.

Thượng nghị sĩ Estrada nhấn mạnh rằng ông Tolentino hoàn toàn thực hiện đúng thẩm quyền của mình và mọi hành động đều được Quốc hội Philippines ủng hộ. Ông Estrada lưu ý, với tư cách là một Thượng nghị sĩ, ông Tolentino là người đi đầu trong việc thúc đẩy 2 đạo luật quan trọng – Đạo luật các vùng biển Philippines và Đạo luật Đường biển Quần đảo Philippines – đã được Tổng thống Marcos ký ban hành vào tháng 11/2024. Những đạo luật này đã củng cố các yêu sách hàng hải của Philippines tại khu vực tranh chấp.

Ông Estrada lập luận: “Các hành động của ông Tolentino hoàn toàn phù hợp với các quy trình dân chủ và khuôn khổ pháp lý của chúng ta. Trong nhiều năm, bất chấp Phán quyết của Tòa Trọng tài ủng hộ tuyên bố của chúng ta đối với các phần của Biển Tây Philippines, Trung Quốc vẫn tiếp tục bắt nạt, quấy rối và thực hiện những hành động vô nhân đạo đối với các nhà khoa học, nhân viên hàng hải và ngư dân của chúng ta. Thật đáng phẫn nộ khi những nỗ lực bảo vệ các tuyên bố lãnh thổ của chúng ta lại bị gắn mác là “hành vi tồi tệ”. Trung Quốc nên cảm thấy xấu hổ”. Thượng nghị sĩ Estrada khẳng định rằng hành động của Trung Quốc “rõ ràng đang làm suy yếu sự tôn trọng lẫn nhau và ổn định khu vực. Những tiếng nói chỉ trích không phải là mối đe dọa đối với ngoại giao; chúng là biểu hiện của tinh thần yêu nước”.

Trong khi đó, Terry Ridon, một thành viên Hạ viện Philippines, đã kêu gọi chính phủ nước này có hành động mạnh mẽ hơn. Theo ông, Manila nên “áp đặt lệnh cấm đi lại tương tự đối với các quan chức cấp cao đương nhiệm hoặc tiền nhiệm của Trung Quốc, những người đã và đang thực hiện các chiến dịch thông tin sai lệch chống lại lợi ích của Philippines ở Biển Tây Philippines”. Trước đây, Ridon từng dẫn đầu các cuộc điều tra của Hạ viện về chiến dịch thông tin sai lệch được cho là do Đại sứ quán Trung Quốc tại đây tiến hành nhằm vào Philippines.

Ngày 04/7/2025, Bộ Ngoại giao Philippines đã triệu tập Đại sứ Trung Quốc tại Manila Huang Xilian để phản đối chính thức. Bộ Ngoại giao Philippines nhấn mạnh: “Việc áp dụng các biện pháp trừng phạt như vậy (nhằm vào ông Tolentino) không phù hợp với các chuẩn mực đối thoại và tôn trọng lẫn nhau – những nguyên tắc nền tảng cho quan hệ giữa hai quốc gia có chủ quyền bình đẳng”. Trong tuyên bố của mình, Bộ trưởng Ngoại giao Philippines Theresa Lazaro nhấn mạnh, Philippines là một quốc gia dân chủ, luôn duy trì nguyên tắc tự do ngôn luận và độc lập lập pháp. Các thượng nghị sĩ và các quan chức được bầu có nhiệm vụ tìm hiểu các vấn đề vì lợi ích quốc gia và công cộng.

Mặc dù phản đối lệnh trừng phạt của Trung Quốc, Bộ trưởng Ngoại giao Lazaro cho biết, Philippines vẫn cam kết giải quyết các khác biệt thông qua ngoại giao và đối thoại, mong muốn tiếp tục có sự tham gia mang tính xây dựng với Trung Quốc để thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau. Phản hồi trước động thái này, Đại sứ quán Trung Quốc tại Philippines khẳng định các biện pháp trừng phạt đối với ông Tolentino là “hoàn toàn nằm trong phạm vi pháp lý của Trung Quốc”, đồng thời cảnh báo rằng “sẽ có hậu quả nếu lợi ích của Trung Quốc bị tổn hại”.

Tiếp đó, tại cuộc họp báo hôm 8/7/2025, Người phát ngôn Văn phòng Tổng thống, bà Claire Castro bày tỏ mối quan ngại về quyết định của Bắc Kinh trừng phạt cựu Thượng nghị sĩ Philippines Francis Tolentino. Bà Claire Castro, đọc một tuyên bố do Bộ trưởng Ngoại giao Philippines Ma. Theresa Lazaro ký, khẳng định Philippines phản đối động thái của Trung Quốc. Mặc dù việc áp đặt các lệnh trừng phạt nằm trong thẩm quyền pháp lý của Trung Quốc, nhưng việc áp dụng các biện pháp trừng phạt đối với các quan chức được bầu cử dân chủ vì thực hiện nhiệm vụ của họ là không phù hợp với các chuẩn mực tôn trọng lẫn nhau và đối thoại vốn là nền tảng cho mối quan hệ giữa hai quốc gia có chủ quyền bình đẳng.

Diễn biến xung quanh vụ việc Trung Quốc trừng phạt cựu Thượng nghị sĩ Philippines Francis Tolentino phản ánh sự gia tăng đối đầu không chỉ về chủ quyền lãnh thổ, mà còn về cách tiếp cận ngoại giao và xử lý bất đồng. Việc Trung Quốc trừng phạt một chính trị gia Philippines, cùng với phản ứng cứng rắn từ Manila, đã đẩy quan hệ hai nước trở nên khó tìm được tiếng nói chung. Nếu không có cơ chế đối thoại hiệu quả và thiện chí từ cả hai phía, căng thẳng ngoại giao có thể tiếp tục leo thang, đe dọa ổn định khu vực và làm phức tạp thêm các nỗ lực hợp tác khu vực tại Đông Nam Á. Giới phân tích nhận định việc Bắc Kinh đưa ra quyết định trừng phạt cựu Thượng nghị sĩ Philippines Francis Tolentino không chỉ là động thái nhằm vào cá nhân ông Tolentino mà còn là cách để Bắc Kinh tạo sự răn đe với những người đang ủng hộ mạnh mẽ cách tiếp cận trên vấn đề Biển Đông của Tổng thống Marcos, đồng thời muốn chuyển tải tới những chính trị gia các nước ven Biển Đông khác thông điệp “nếu lên tiếng công khai chỉ trích Bắc Kinh trên vấn đề Biển Đông sẽ phải đón nhận sự trừng phạt”. Tuy nhiên, cách làm này của Bắc Kinh không làm giảm đi uy tín của cựu Thượng nghị sĩ Philippines Francis Tolentino mà càng khiến tư tưởng chống Trung Quốc dâng cao trong khu vực.

]]>
Manila nâng cấp sức mạnh hải quân để ứng phó với thách thức ở Biển Đông https://biendong.net/2025/10/02/manila-nang-cap-suc-manh-hai-quan-de-ung-pho-voi-thach-thuc-o-bien-dong/ Thu, 02 Oct 2025 04:10:00 +0000 https://biendong.net/?p=161743 Trong bối cảnh gia tăng căng thẳng với Trung Quốc ở Biển Đông, Philippines đang thúc đẩy chiến lược hiện đại hóa quân đội mà trọng tâm là phát triển lực lượng hải quân. Giới chuyên gia nhận định động thái này của Manila nhằm phát đi tín hiệu và thể hiện sự liên kết hơn với các đồng minh, đối tác trong việc tạo sự răn đe ở khu vực theo lời kêu gọi của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth trong chuyến thăm Philippines cuối tháng 3/2025.

Nhân kỷ niệm 127 năm ngày thành lập Hải quân Philippines (20/5), trên một cầu cảng ở Vịnh Subic – nằm ở phía Tây đảo Luzon của Philippines và từng là căn cứ hải quân lớn nhất ở nước ngoài của Mỹ – Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr đứng trước một tàu hộ vệ tên lửa mới và tuyên bố rằng đất nước ông sẽ “không nhượng bộ bất cứ điều gì” để bảo vệ chủ quyền. Việc đưa vào biên chế 2 tàu hải quân – trong đó có tàu Miguel Malvar nặng 3.200 tấn – không chỉ mang tính nghi thức. Đó là tín hiệu rõ ràng về ý định của Manila trong việc hiện đại hóa năng lực hàng hải và thể hiện sức mạnh tại các vùng biển tranh chấp.

Tàu tuần tra xa bờ BRP Rajah Sulayman

Miguel Malvar là tàu hộ vệ tên lửa dài hơn 100 mét, được trang bị pháo chính Oto Melara 76mm, tên lửa chống hạm C-Star và ngư lôi chống ngầm Blue Shark. Tàu cùng lớp của nó là Diego Silang dự kiến sẽ được công ty đóng tàu HD Hyundai của Hàn Quốc bàn giao vào cuối năm nay theo hợp đồng mua sắm trị giá 503 triệu USD được ký kết năm 2021. Ngoài ra, còn có tàu tuần tra cao tốc Albert Majini – được lắp ráp trong nước theo chương trình Lực lượng Tác chiến Ven biển của Hải quân Philippines – cũng được đưa vào biên chế.

Theo thông báo của Quân đội Philippines, ngày 11/6/2025 tàu tuần tra xa bờ BRP Rajah Sulayman (PS-20), chiếc đầu tiên trong loạt 6 chiếc tàu đặt mua từ Tập đoàn HD Hyundai Heavy Industries (HHI) của Hàn Quốc – đã chính thức được hạ thủy tại xưởng đóng tàu của tập đoàn này tại Ulsan, Hàn Quốc. Việc hạ thủy tàu tuần tra xa bờ lớp Rajah Sulayman đầu tiên đánh dấu bước tiến quan trọng trong quá trình hiện đại hóa hàng hải của Philippines.

Dự án mua 6 tàu tuần tra xa bờ trị giá 30 tỷ peso được Bộ Quốc phòng Philippines ký với Tập đoàn HD Hyundai Heavy Industries năm 2022 trong giai đoạn Horizon 2 thuộc Chương trình hiện đại hóa Quân đội Philippines. Thiết kế của Tập đoàn HD Hyundai Heavy Industries được lựa chọn nhờ hệ thống tiên tiến, khả năng hoạt động bền bỉ, và thiết kế mô-đun phù hợp với đặc thù quần đảo Philippines. Các tàu này sẽ giúp tăng cường sức mạnh cho đội tàu phải làm việc quá tải của nước này, nâng cao năng lực tuần tra, giám sát và ngăn chặn xâm nhập trên các khu vực biển rộng lớn của Philippines.

Tàu tuần tra BRP Rajah Sulayman có chiều dài 94m, rộng 14,3m, lượng giãn nước khoảng 2.400 tấn. Tàu sử dụng hai động cơ diesel, tốc độ tối đa 22 hải lý/giờ, tầm hoạt động trên 5.500 hải lý. Vũ khí gồm pháo chính cỡ nòng 76mm, hệ thống vũ khí điều khiển từ xa, và các vị trí thiết kế sẵn để tích hợp hệ thống tên lửa trong tương lai. Tàu có khả năng vận hành cả trực thăng và thiết bị không người lái (UAV), ngoài ra còn có hai xuồng cao tốc thân cứng có thể bơm phồng ( RHIB) được bố trí phía sau dùng cho nhiệm vụ kiểm tra và cứu hộ. Các thiết bị hiện đại của tàu bao gồm hệ thống quản lý tác chiến, radar tìm kiếm mặt biển, hệ thống hỗ trợ điện tử, hệ thống thông tin liên lạc và dẫn đường tích hợp, giúp tăng cường nhận biết tình huống và triển khai nhiệm vụ linh hoạt.

Trước đó, Tập đoàn HD Hyundai Heavy Industries đã bàn giao hai tàu hộ vệ tên lửa lớp Jose Rizal (gồm BRP Jose Rizal FF-150 và BRP Antonio Luna FF-151) vào các năm 2020 và 2021 cho Hải quân Philippines. Đây là các tàu mặt nước hiện đại nhất của Philippines, lượng giãn nước 2.600 tấn, trang bị các hệ thống pháo 76mm, 30mm, tên lửa chống hạm, ống phóng ngư lôi, radar và sonar tiên tiến. Ngoài ra, năm 2019 Hàn Quốc còn viện trợ cho Philippines tàu BRP Conrado Yap (PS-39), tàu hộ tống lớp Pohang cải hoán, giúp nâng cao năng lực chống ngầm và huấn luyện.

Các sĩ quan quân đội Philippines nhấn mạnh rằng chương trình 6 tàu mới sẽ thay thế các tàu tuần tra cũ kỹ, bổ sung lực lượng tại các khu vực biển quan trọng và tăng cường thế trận bảo vệ chủ quyền của nước này. Tầm hoạt động 5.500 hải lý và thời gian hoạt động lên tới 30 ngày của tàu đảm bảo khả năng hoạt động kéo dài. Mặc dù quá trình sản xuất dự kiến kết thúc vào năm 2028, song Hàn Quốc đã sẵn sàng cho các hợp đồng quốc phòng tiếp theo vào những năm 2030, bao gồm các chương trình khinh hạm và tàu hộ tống tiềm năng trong giai đoạn hiện đại hóa quân sự tiếp theo của Philippines. Tuy nhiên, ẩn sau những động thái này là một câu hỏi chiến lược quan trọng: Liệu những chiếc tàu này có nhằm mục đích răn đe thực sự hay chỉ mang tính hình thức, đặc biệt là với Trung Quốc?

Phù hợp với chiến lược “minh bạch quyết đoán” trên thực tế của Philippines nhằm chỉ đích danh và lên án các hành động quyết đoán của Trung Quốc ở Biển Đông và thúc đẩy sự ủng hộ quốc tế theo chiều hướng có lợi cho mình, Manila cần các phương tiện nổi bật, dễ thấy như khinh hạm, tàu tuần tra xa bờ và máy bay chiến đấu hạng nhẹ để ứng phó hiệu quả với các thách thức “vùng xám” của Trung Quốc. Tuy nhiên, khả năng “sống sót” của những tài sản như vậy trong trường hợp căng thẳng với Trung Quốc leo thang có thể vẫn còn bị đặt dấu hỏi. Như đã thấy trong trường hợp của Đài Loan, các hệ thống vũ khí dễ thấy như tàu chiến hoạt động trên mặt nước và máy bay chiến đấu có thể bị phá hủy nhanh chóng trong một cuộc tấn công mà Trung Quốc là bên tấn công trước, điều đó thúc đẩy các bên đầu tư đáng kể vào các phương tiện chiến tranh bất đối xứng, bao gồm cả tàu ngầm.

Nhưng với kế hoạch mua sắm tàu ngầm của Philippines vẫn đang trong giai đoạn lập kế hoạch ban đầu, hệ thống tên lửa Brahmos đã trở thành trung tâm trong thế trận răn đe bất đối xứng của nước này. Tuy nhiên, các chuyên gia quân sự như Ashley Tellis tại Quỹ Hoà bình quốc tế Carnegie đã lưu ý hồi tháng 7/2024 trên tờ “The Print”, nếu không hỗ trợ cơ sở hạ tầng Chỉ huy, Kiểm soát, Truyền thông, Máy tính, Tình báo, Giám sát và Trinh sát (C4ISR) để nhắm vào các mục tiêu động, những tên lửa này phần lớn sẽ chỉ mang tính biểu tượng. Ông Tellis cho biết những thiếu sót đó có nghĩa là tên lửa sẽ chỉ hữu ích khi chống lại các mục tiêu cố định gần đó, chẳng hạn như bãi cạn Scarborough đang có tranh chấp, và không phải là công cụ răn đe đáng tin cậy. Hơn nữa, Trung Quốc có thể dễ dàng sửa hoặc thay thế các tàu chiến bị hư hỏng hoặc bị phá hủy xét đến khả năng đóng tàu phát triển của nước này. Nhấn mạnh khả năng này, báo cáo năm 2025 của Cơ quan Nghiên cứu Quốc hội Mỹ (CRS) nêu rõ rằng năng lực đóng tàu của Trung Quốc gấp 230 lần so với Mỹ.

Nếu Philippines thực sự nhận ra tính cấp thiết của việc xây dựng năng lực bất đối xứng, họ có thể sẵn sàng thực hiện những đánh đổi khó khăn hơn. Ví dụ, Felix Chang, thành viên Viện Nghiên cứu Chính sách Đối ngoại (FPRI) Mỹ đã đề cập trong bài viết đăng trên trang mạng của (FPRI) hồi tháng 11/2019 rằng Việt Nam đã mua 6 tàu ngầm lớp Kilo từ Nga vào năm 2009 với chi phí 2 tỷ USD. Trong khi đó, Philippines vẫn chưa thể hiện tính cấp thiết hoặc cam kết chiến lược tương tự đối với khả năng răn đe dưới nước.

Tuy nhiên, những khoản đầu tư như vậy dường như không phù hợp với những hạn chế về ngân sách của Philippines cũng như việc nước này hiện tập trung vào tính minh bạch ngoại giao thông qua hoạt động quốc phòng đa phương. Theo quan điểm này, Philippines đã ký kết các thỏa thuận tiếp cận đối ứng với các quốc gia “cùng chí hướng” như Nhật Bản, Australia và New Zealand, với mục tiêu là duy trì các cuộc tập trận hải quân đa quốc gia được công khai rộng rãi ở Biển Đông.

Defence Post trích lời Đô đốc Roy Trinidad, người phát ngôn của Hải quân Philippines, cho biết: “Chúng tôi đã ghi nhận sự suy giảm đáng kể của các hành động phi pháp và cưỡng ép của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc mỗi khi có hoạt động hợp tác hàng hải đa phương hoặc song phương… Không có lực lương Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân, Hải cảnh hoặc lực lượng dân quân biển Trung Quốc nào được ghi nhận ở gần đó”. Tuy nhiên, khi tình hình trở nên căng thẳng ở Biển Đông, vẫn chưa rõ liệu các đối tác quốc phòng “thay thế” của Philippines có giúp nước này hay không. Ngay cả Mỹ, đối tác hiệp ước duy nhất và có năng lực nhất của Philippines, cũng đã nhiều lần ưu tiên các lợi ích chiến lược rộng lớn hơn của mình so với các mối quan tâm của Philippines.

Ở cấp chính trị, các cuộc tập trận hải quân đa quốc gia cũng có thể đóng vai trò là một phần trong nỗ lực rộng lớn hơn của Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. nhằm khẳng định tính hợp pháp giữa các nền dân chủ tự do giàu có, qua đó đảm bảo viện trợ kinh tế và sự ủng hộ chính trị bất chấp những tranh cãi lịch sử liên quan đến gia tộc Marcos. Bên cạnh đó, xét đến việc Mỹ đã triển khai vô thời hạn các hệ thống tên lửa Typhon và NMESIS ở Philippines, trên danh nghĩa là vì mục đích huấn luyện trong các cuộc tập trận, điều này cung cấp cho Marcos Jr. một vùng đệm chiến lược và giúp củng cố vị thế ở trong nước của ông. Typhon được trang bị tên lửa hành trình Tomahawk có tầm bắn tới Trung Quốc đại lục, trong khi NMESIS là hệ thống chống hạm có thể tấn công các tàu chiến Trung Quốc đi qua Kênh đào Bashi.

Chiến lược Quốc phòng Mỹ năm 2022 ưu tiên Đài Loan và khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương rộng lớn hơn, đồng thời chấp nhận rủi ro cao hơn ở các chiến trường như châu Âu. Trọng tâm này tạo không gian để Marcos Jr. có thể dựa vào sự hỗ trợ của Mỹ nhằm nâng cao uy tín của ông trong lĩnh vực an ninh cũng như củng cố tính chính đáng của Philippines. Theo khảo sát của Social Weather Station (SWS) được tiến hành hồi tháng 2/2025, 78% người Philippines được hỏi ủng hộ các ứng viên chính trị khẳng định quyền chủ quyền, chống lại các hành động hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông. Với tình cảm công chúng mạnh mẽ như vậy, Marcos Jr. có thể định hình chính quyền của mình theo hướng kiên quyết bảo vệ chủ quyền, ngay cả khi có sức mạnh quân sự hạn chế.

Tư lệnh Hải quân Philippines, Phó đô đốc Jose Maria Ambrosio Ezpeleta mô tả các tàu mới là một phần của quá trình chuyển mình toàn diện của Hải quân nước này nhằm trở thành lực lượng có khả năng đối phó với “những thách thức cấp bách” trên biển. Ông nói: “Khả năng sẵn sàng của chúng tôi giờ đây trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Tương lai của đất nước chúng tôi gắn liền với an ninh của không gian hàng hải”.

Giới quan sát nhận xét, dưới thời của Tổng thống Marcos, lực lượng Hải quân Philippines đã được tăng cường đáng kể. Khi Marcos nhậm chức năm 2022, Lực lượng Tác chiến Ngoài khơi của nước này chỉ có 9 tàu: 3 tàu hộ tống lớp Jacinto, 3 tàu tuần tra lớp Del Pilar, 1 tàu hộ tống lớp Conrado Yap và 2 tàu hộ vệ lớp Jose Rizal. Ông Vincent Kyle Parada – cựu chuyên gia phân tích quốc phòng của Hải quân Philippines – cho biết việc đưa vào biên chế 2 tàu lớp Miguel Malvar và 6 tàu tuần tra ngoài khơi mới sẽ gần như tăng gấp đôi hạm đội lên 17 chiếc vào năm 2028 – chưa tính các tàu lớp Acero, tàu tấn công đa năng và các tàu sẽ mua trong khuôn khổ kế hoạch Re-Horizon 3. Kế hoạch này của chính phủ ưu tiên nâng cấp lực lượng hải quân trong thập kỷ tới, nằm trong gói hiện đại hóa quân đội trị giá 35 tỷ USD được công bố vào tháng 1/2024.

Tuy nhiên, các nhà phân tích cũng cho rằng nỗ lực hiện đại hóa của Manila khó có thể làm thay đổi cán cân hải quân khu vực nếu không có một chiến lược dài hạn chặt chẽ, đồng thời cảnh báo việc bổ sung các tàu hải quân này chỉ thực sự có ý nghĩa nếu đi kèm với một chiến lược thống nhất và sự phối hợp sâu sắc hơn với các đối tác quốc phòng. Theo ông Vincent Kyle Parada, việc sở hữu các tàu chiến hiện đại chỉ là “một phần của bài toán”. Ông Parada đánh giá: “Bạn có thể mua tàu hộ vệ và tàu ngầm với vũ khí và hệ thống hiện đại, nhưng chúng không có nhiều tác dụng nếu chỉ có một vài chiếc. Chúng cần được tích hợp vào một chiến lược tổng thể”. Chuyên gia Parada kết luận: “Đó (việc tăng số lượng tàu hiện đại) mới chỉ là phương tiện, không phải mục đích cuối cùng. Điều quan trọng hơn là làm sao sử dụng nguồn lực giới hạn đó trong tình huống xung đột vũ trang và để đối phó với các hoạt động vùng xám”.

Muhammad Faizal Abdul Rahman – nhà nghiên cứu tại Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam ở Singapore – cũng cho rằng các tàu mới sẽ tăng cường khả năng tuần tra và thể hiện sự hiện diện đáng tin cậy hơn của Manila trên biển. Tuy nhiên, ông cảnh báo giá trị răn đe của chúng vẫn còn hạn chế nếu được triển khai đơn lẻ. Theo ông, “để tạo ra tác động thực sự, các tàu này cần được vận hành một cách tích hợp với các tài sản quân sự khác và phối hợp chặt chẽ với mạng lưới đối tác quốc phòng của Philippines”.

]]>
Hành vi của hải quân TQ gây nguy cơ leo thang căng thẳng ở Biển Đông https://biendong.net/2025/10/01/hanh-vi-cua-hai-quan-tq-gay-nguy-co-leo-thang-cang-thang-o-bien-dong/ Wed, 01 Oct 2025 03:06:00 +0000 https://biendong.net/?p=161736 Trong quá trình quấy rối một tàu BRP Suluan của Lực lượng Bảo vệ Bờ Biển Philippines hôm 11/8, tàu Hải cảnh 3104 đã “vô tình” đâm vào tàu chiến 164 của Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLAN) xảy ra gần Bãi cạn Scarborough, nơi cả Manila và Bắc Kinh đều tuyên bố chủ quyền. Theo một số nguồn tin, ít nhất hai nhân viên Hải cảnh Trung Quốc được cho là đã thiệt mạng trong vụ tai nạn nghiêm trọng này.

Việc 2 tàu Trung Quốc lớn hơn nhiều, trong đó có cả tàu Hải quân, truy đuổi tàu BRP Suluan của Philippines với “tốc độ cao” cho thấy Bắc Kinh ngày càng sẵn sàng chấp nhận rủi ro và sử dụng vũ lực để áp đặt ý chí của mình. Một quan chức cấp cao của Philippines bày tỏ: “Trung Quốc đã cho thấy họ sẵn sàng đối xử thô bạo với chúng tôi (Philippines), điều này rất đáng lo ngại”. Bãi cạn Scarborough nằm cách tỉnh Zambales của Philippines hơn 100 hải lý và nằm sâu trong Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lý của nước này. Ngược lại, đảo Hải Nam, lãnh thổ cực Nam của Trung Quốc, cách đó gần 500 hải lý.

Phán quyết năm 2016 của Toà Trọng tài được thành lập theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) đã khẳng định quyền đánh cá truyền thống của ngư dân các nước Philippines, Việt Nam và Trung Quốc trong khu vực Scarborough theo luật pháp quốc tế hiện đại; đồng thời lên án những nỗ lực của Bắc Kinh nhằm hạn chế quyền tiếp cận của các quốc gia láng giềng đối với “ngư trường chung” ở Bãi cạn Scarborough. Mặc dù là thành viên của UNCLOS, Trung Quốc vẫn tự cho mình có quyền khi bác bỏ phán quyết của Tòa Trọng tài.

Mặc dù trong nhiều năm qua, Trung Quốc thường xuyên “quấy rối” các tàu Philippines trên biển, ngay cả ở vùng biển rõ ràng nằm trong EEZ của Philippines, nhưng việc đó chưa bao giờ trực tiếp liên quan đến Hải quân Trung Quốc. Vụ “quấy rối” hôm 11/8 cho thấy Bắc Kinh đã gia tăng mức độ hung hăng của nước này ở Biển Đông và là dấu hiệu về sự leo thang căng thẳng với Philippines. Ngày 12/8, Tướng Romeo Brawner – Tổng tham mưu trưởng Các Lực lượng Vũ trang Philippines (AFP) – cho biết chiến lược “gọng kìm” của Trung Quốc ở Biển Đông dường như đã chuyển sang việc thực thi mạnh mẽ hơn những yêu sách của nước này đối với lãnh thổ Philippines bằng hải quân. Ông Brawner nhấn mạnh rằng Philippines không thể đồng ý với lập trường của Trung Quốc vì Philippines “được pháp luật bảo vệ”. Ông Brawner nói: “Phán quyết trọng tài năm 2016 tuyên bố rằng ‘Đường 9 đoạn’ của Trung Quốc là vô căn cứ. Vì vậy, họ không thể có yêu sách chủ quyền đối với Bajo de Masinloc (cách Philippines gọi Bãi cạn Scarborough”.

Tướng Brawner cho rằng, rõ ràng tàu Hải quân Trung Quốc có ý định đâm vào tàu của Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Philippines (PCG). May mắn là tàu Philippines đã phản ứng nhanh nên tránh được và dẫn đến vụ việc hai tàu Trung Quốc đâm vào nhau. Theo ông Brawner, Trung Quốc hiện sẽ khó có thể đưa ra bất kỳ lời phản bác nào về vụ việc xảy ra. Ông Brawner nhấn mạnh: “Những gì xảy ra là lỗi của họ, bởi vì nó là do các động thái hung hăng của họ. Chúng tôi chỉ ở đó để bảo vệ ngư dân của mình đang đánh bắt cá ở Bãi cạn Scarborough. Đó là mục tiêu duy nhất của chúng tôi, bởi vì đó là ngư trường truyền thống của chúng tôi”.

Tàu BRP Suluan của Philippines đã vượt qua mặt tàu Hải quân Trung Quốc và một tàu Hải cảnh Trung Quốc mang số hiệu 3104, dẫn đến vụ va chạm mạnh giữa hai tàu Trung Quốc, gây thiệt hại đáng kể cho phần mũi của tàu Hải cảnh Trung Quốc. Tàu BRP Suluan đã có mặt tại khu vực này để phân phát nhiên liệu và đá lạnh cho ngư dân Philippines trong khu vực. Ban đầu, tàu bị quấy rối bằng vòi rồng, nhưng kỹ năng hàng hải của các thủy thủ Philippines đã giúp tàu tránh được đòn tấn công của tàu Hải cảnh Trung Quốc.

Để thể hiện rõ sự ủng hộ đối với đồng minh Philippines, Mỹ đã ngay lập tức triển khai hai tàu chiến Mỹ gồm tàu khu trục USS Higgins và tàu tác chiến cận bờ USS Cincinnati đến cách bãi cạn Scarborough khoảng 30 hải lý trong ngày 13/8. Tàu Trung Quốc đã bám sát theo dõi tàu chiến Mỹ và hai bên đã nổ ra cuộc tranh cãi gay gắt xung quanh vấn đề này. Ông Hà Thiết Thành, Người phát ngôn hải lực Chiến khu Nam bộ của quân đội Trung Quốc cho biết nước này đã “xua đuổi” tàu khu trục USS Higgins của Mỹ. Ông Hà nói rằng tàu USS Higgins đã tiến vào vùng biển này “mà không có sự chấp thuận của chính phủ Trung Quốc”; chiến khu đã bố trí lực lượng theo dõi, cảnh báo và “trục xuất” tàu chiến Mỹ ra khỏi khu vực.

Đáp lại, Hạm đội 7 của Hải quân Mỹ, phụ trách khu vực Tây Thái Bình Dương, nhấn mạnh “tuyên bố của Trung Quốc về nhiệm vụ này là sai sự thật”, đồng thời khẳng định tàu USS Higgins đã thực hiện quyền tự do di chuyển gần Bãi cạn Scarborough theo luật pháp quốc tế. Hạm đội 7 Mỹ tuyên bố: “Mỹ đang bảo vệ quyền bay, đi tàu và hoạt động ở bất cứ đâu luật quốc tế cho phép, như tàu USS Higgins đã làm ở đây. Bất kỳ tuyên bố nào của Trung Quốc cũng không thể ngăn cản chúng tôi”; nhấn mạnh chiến dịch phản ánh cam kết của nước này trong việc duy trì tự do hàng hải và sử dụng hợp pháp vùng biển.

Cùng ngày, Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Philippines (PCG) cáo buộc một tiêm kích Trung Quốc đã ngăn chặn máy bay Philippines chở đoàn nhà báo trong chuyến bay tuần tra phía trên Bãi cạn Scarborough. Một phóng viên của hãng Reuters có mặt trên chuyến bay của PCG đã chứng kiến tiêm kích Trung Quốc áp sát chiếc máy bay cánh quạt Cessna Caravan của Philippines. Người phát ngôn PCG Jay Tarriela cho biết có thời điểm, máy bay Trung Quốc chỉ bay cách máy bay PCG 61 mét khi nó vòng ra phía sau, lên trên và bay song song. Màn giáp mặt giữa máy bay Trung Quốc và Philippines kéo dài khoảng 20 phút và một tàu chiến Trung Quốc bên dưới đã liên lạc vô tuyến yêu cầu máy bay Philippines rời khỏi khu vực ngay lập tức. Vào thời điểm đó đã có ít nhất bốn tàu tuần tra của Trung Quốc cùng một số tàu của lực lượng dân quân biển xuất hiện tại khu vực tuần tra của chuyến bay.

Các vụ việc trên xảy ra 1 ngày sau khi tàu chiến và tàu hải cảnh của Trung Quốc va chạm nhau gần Bãi cạn Scarborough hôm 11/8. Các chuyên gia cảnh báo căng thẳng Biển Đông nhiều khả năng sẽ gia tăng sau vụ va chạm giữa hai tàu Trung Quốc. Vụ va chạm ngoài ý muốn này có thể khiển Trung Quốc tăng cường hơn nữa sự phối hợp giữa hải quân và hải cảnh trong các hoạt động ở Biển Đông thời gian tới. Mặt khác, vụ việc này có thể sẽ thúc đẩy Mỹ và các đồng minh tăng cường hiện diện hơn nữa trên tuyến đường biển huyết mạch ở Biển Đông.

Ông Chester Cabalza – người sáng lập, đồng thời là Chủ tịch Tổ chức Hợp tác An ninh và Phát triển Quốc tế có trụ sở tại Manila – nhận định rằng Trung Quốc có thể sẽ thúc đẩy sự hiện diện hàng hải lớn hơn trong khu vực để thể hiện sức mạnh. Ông Cabalza cho rằng: “Trung Quốc sẽ cố gắng lấy lại hình ảnh của mình trên biển để cho thấy họ có bản lĩnh như thế nào và vẫn sở hữu hạm đội hải quân và hạm đội bảo vệ bờ biển lớn nhất thế giới”. Theo ông Cabalza, Biển Đông sẽ trở nên đáng lo ngại hơn khi hải quân và hải cảnh Trung Quốc được kỳ vọng sẽ “hợp tác để sửa chữa sai lầm và thất bại” trong hoạt động hàng hải trên tuyến đường biển này.

Quan điểm này được ông Collin Koh – nghiên cứu viên cao cấp tại Viện Nghiên cứu Quốc phòng và Chiến lược thuộc Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam ở Singapore – đồng tình. Ông Koh cho rằng: “Khu vực này cần chuẩn bị cho căng thẳng gia tăng. Bắc Kinh sẽ không lùi bước; thực tế, [họ] có thể củng cố vị thế của mình trong khu vực. Bởi vì khi một vụ va chạm như vậy xảy ra, rồi đột nhiên bạn thấy mình lùi bước, thì bạn đang gửi tín hiệu gì đến các đối thủ của mình ở Biển Đông? Vì vậy, tôi không nghĩ rằng Bắc Kinh muốn gửi tín hiệu đó… có khả năng, điều đó đồng nghĩa với việc căng thẳng gia tăng hơn nữa trong khu vực”. Chuyên gia Koh dự báo rằng Trung Quốc có thể mở rộng các chuyến đi đến gần như tất cả các khu vực tranh chấp mà họ cho là quan trọng, bao gồm Bãi Cỏ Mây và Bãi Sa Bin, như một sự phô trương sức mạnh với Manila sau vụ va chạm.

Ông Đinh Đạc (Ding Duo) – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế và Khu vực thuộc Viện Nghiên cứu Nam Hải Quốc gia Trung Quốc- cho biết vụ va chạm này đã phơi bày “sự thiếu phối hợp” giữa hải quân và hải cảnh và có khả năng sẽ thúc đẩy thêm nhiều cuộc diễn tập giữa 2 lực lượng này. Do đó, ông Đinh Đạc nhấn mạnh “sự phối hợp và hợp tác giữa hải quân và hải cảnh sẽ được tăng cường trong tương lai gần. Họ sẽ cải thiện và nâng cao khả năng điều động tại chỗ và các khía cạnh khác”. Khi Philippines tiếp tục hoạt động tại vùng biển tranh chấp, các cuộc chạm trán hoặc thậm chí là đối đầu giữa Philippines và Trung Quốc sẽ tiếp tục, bất chấp vụ tai nạn vừa qua. Ông Đinh Đạc lưu ý: “Trung Quốc sẽ cố gắng tránh va chạm, dù là với tàu Trung Quốc hay tàu Philippines. Tuy nhiên, điều này sẽ không mang lại cho Philippines nhiều cơ hội để lợi dụng tình hình. Trung Quốc sẽ trả bất cứ giá nào để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của mình”.

Theo giới quân sự, tàu hải cảnh 3104 vốn là khinh hạm lớp Type 056 được hải quân Trung Quốc chuyển giao cho hải cảnh từ năm 2013, tàu này có độ choán nước khoảng 1.500 tấn và được trang bị nhiều loại vũ khí tối tân, bao gồm cả ống phóng tên lửa đối không HHQ-10, tên lửa đối hạm YJ-83, ngư lôi…. Việc chuyển giao tàu chiến hiện đại cho lực lượng hải cảnh là một trong các biện pháp mà Trung Quốc áp dụng gần đây để tăng cường sức mạnh cho hải cảnh – vốn đóng vai trò quan trọng chiến lược “vùng xám” của nước này ở khu vực.

Trong khi đó, tàu chiến mang số hiệu 164 của hải quân Trung Quốc là tàu khu trục Quế Lâm thuộc lớp Lữ Dương 3 (Type-052D) có độ choán nước toàn tải đến 7.500 tấn, và là một trong các lớp tàu khu trục hiện đại nhất của Trung Quốc, được biên chế kể từ năm 2014. Lớp Lữ Dương 3 sở hữu hệ thống điện tử tối tân, cùng 64 ống phóng tên lửa thẳng đứng và có thể mang theo 2 máy bay trực thăng vũ trang đa nhiệm.

Trung Quốc đang áp dụng chiến lược “vùng xám” ở Biển Đông trong nhiều năm qua nhằm thúc đẩy tham vọng bành trướng hàng hải. Đánh giá về chiến lược “vùng xám” của Băc Kinh, Giáo sư James R.Holmes – chuyên gia chiến lược hàng hải, Đại học Hải chiến Mỹ – đã chỉ ra Bắc Kinh triển khai 3 lực lượng để tăng cường hoạt động trên Biển Đông, gồm: lực lượng dân binh trên biển (PAFMM), lực lượng hải cảnh và hải quân. Trong đó, PAFMM phụ trách quấy rối tàu các nước. Hỗ trợ cho PAFMM là lực lượng hải cảnh để can thiệp khi bị tàu công vụ nước khác xử lý. Nhiều tàu hải cảnh của Trung Quốc đang được trang bị vũ khí hỏa lực mạnh để thị uy và đe dọa tàu công vụ lẫn tàu cá, tàu thương mại các nước. Không những vậy, tàu hải cảnh Trung Quốc còn sẵn sàng đâm đụng, tấn công tàu cá các nước. Hậu thuẫn sau cùng cho 2 lực lượng trên chính là lực lượng hải quân mà Bắc Kinh thường xuyên triển khai ở Biển Đông.

Các nhà phân tích nhận định sau vụ va chạm giữa hai tàu nói trên, Trung Quốc được cho là sẽ tăng cường các hành động để giữ thể diện. Nhận thấy giai đoạn nguy hiểm mới trong các tranh chấp đang diễn ra với siêu cường châu Á, các quan chức cấp cao của Philippines đã đề cập đến các biện pháp đối phó mạnh mẽ hơn, bao gồm các cuộc tuần tra chung và nhiệm vụ tiếp tế tiềm năng với Mỹ nếu Trung Quốc tiếp tục quấy rối ngư dân và tàu tuần duyên Philippines ở Biển Đông. Xét từ mọi khía cạnh, thái độ ngày càng hung hăng của Trung Quốc tại vùng biển Philippines có thể là để đáp trả không chỉ sự quyết đoán của Manila trong “sáng kiến minh bạch” ở Biển Đông, mà còn là để “trừng phạt” Philippines tăng cường quan hệ quân sự với Mỹ và các đồng minh của Mỹ, cùng các nước này tiến hành tuần tra, tập trận chung ở Biển Đông và gần đây nhất là tập trận hàng hải với Ấn Độ mà luôn bị Trung Quốc cáo buộc là “lôi sói vào nhà”. Nhìn tổng thể căng thẳng ở Biển Đông sẽ không dịu đi mà tiếp tục “dậy sóng” trong thời gian tới.

]]>
Tập trận Balikatal 2025: Dấu ấn triển khai quan điểm của Mỹ tại Biển Đông https://biendong.net/2025/08/15/tap-tran-balikatal-2025-dau-an-trien-khai-quan-diem-cua-my-tai-bien-dong/ Fri, 15 Aug 2025 07:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=155069 Từ ngày 21/4 đến 09/5/2025, Mỹ và Philippines đã tổ chức cuộc tập trận quân sự chung thường niên giữa hai nước mang tên Balikatan lần thứ 40.

Ngoài mục tiêu kiểm tra, nâng cao năng lực phòng thủ và khả năng tương tác giữa quân đội hai nước, giới chuyên gia quân sự thế giới và khu vực còn cho rằng, so với các năm trước, cuộc tập trận Balikatan năm 2025 đã xuất hiện khá nhiều dấu ấn mang quan điểm “hòa bình dựa trên sức mạnh” của chính quyền Tổng thống D.Trump nhiệm kỳ hai. Điều này rất được dư luận quan tâm và đang tiếp tục theo dõi, đặc biệt là những động thái, bước đi tiếp theo trong cuộc cạnh tranh chiến lược Mỹ – Trung trên Biển Đông.

Những nội dung cơ bản về quan điểm “hòa bình dựa trên sức mạnh” của Tổng thống D.Trump trong nhiệm kỳ hai

“Hòa bình dựa trên sức mạnh” là một quan điểm triết lý cốt lõi trong chính sách đối ngoại của Tổng thống D.Trump trong nhiệm kỳ hai. Ông nhấn mạnh rằng, một nước Mỹ hùng mạnh về quân sự và kinh tế là nền tảng để duy trì hòa bình và đảm bảo lợi ích quốc gia của Mỹ. Quan điểm này được thể hiện trên các khía cạnh sau:

Một là, phải xây dựng sức mạnh quân sự của nước Mỹ vượt trội các nước khác. Bởi vì theo ông D.Trump, việc tăng cường chi phí ngân sách, đầu tư mạnh mẽ mọi nguồn lực cho quân đội, củng cố năng lực quốc phòng và duy trì ưu thế quân sự vượt trội là phương cách hiệu quả nhất để ngăn ngừa, răn đe các đối thủ và ngăn chặn xung đột. Điều này đòi hỏi chính quyền phải tiến hành triển khai các công việc trọng đại như tăng cường chi tiêu quốc phòng, hiện đại hóa vũ khí, trang bị, đảm bảo cho quân đội Mỹ có khả năng hoạt động hiệu quả trên nhiều mặt trận, nhiều khu vực khác nhau.

Hai là, phải đặt “lợi ích nước Mỹ lên trên hết”. Đây được coi là nguyên tắc định hướng cho mọi chính sách của ông D.Trump trong nhiệm kỳ hai, trong đó bao gồm cả chính sách đối ngoại. Vì thế, “Hòa bình dựa trên sức mạnh” phải gắn liền với việc ưu tiên lợi ích quốc gia của Mỹ, bảo vệ kinh tế trong nước thông qua chính sách bảo hộ thương mại và tái định hình các mối quan hệ quốc tế để phục vụ mục tiêu này.

Ba là, cạnh tranh quyết liệt với các cường quốc. Theo đó, Mỹ phải thể hiện lập trường cứng rắn, kiên quyết trong duy trì và khẳng định lợi ích Mỹ trên thế giới và các khu vực Mỹ có ảnh hưởng, đặc biệt là với các đối thủ chiến lược như Trung Quốc và Nga. Điều này có thể bao gồm cả việc áp đặt các biện pháp trừng phạt, tăng cường hiện diện quân sự ở các khu vực chiến lược và không nhân nhượng trước những hành vi mà Mỹ coi là gây hấn hoặc cưỡng ép.

Bốn là, coi trọng chủ nghĩa đa phương thực dụng. Mặc dù ủng hộ và đề cao sức mạnh đơn phương của Mỹ, nhưng ông D.Trump cũng không hoàn toàn phủ nhận và bác bỏ chủ nghĩa đa phương trong huy động sức mạnh, mà sẽ tiếp cận nó một cách thực dụng hơn. Các thỏa thuận và tổ chức đa phương sẽ được đánh giá dựa trên mức độ chúng phục vụ lợi ích của Mỹ. Ông cũng có thể gây áp lực để các đồng minh phải đóng góp nhiều hơn vào chi phí quốc phòng và an ninh chung.

Năm là, giải quyết xung đột, mâu thuẫn thông qua đàm phán dựa trên vị thế sức mạnh. Thay vì can thiệp quân sự trực tiếp, ông D.Trump có thể ưu tiên các giải pháp đàm phán, nhưng với điều kiện Mỹ phải ở thế thượng phong. Ông tin rằng sức mạnh sẽ buộc các bên phải nghiêm túc đàm phán và chấp nhận các điều khoản có lợi cho Mỹ.

Như vậy, có thể nói quan điểm “hòa bình dựa trên sức mạnh” của Tổng thống D.Trump được áp dụng trong nhiệm kỳ hai của ông là một quyết sách chiến lược mang tính thực dụng và quyết đoán, đặt trọng tâm vào việc củng cố nội lực của nước Mỹ cả về quân sự và kinh tế, tiếp tục xác lập vai trò “siêu cường” thế giới, tạo ra vị thế đàm phán mạnh mẽ, qua đó duy trì hòa bình và bảo vệ lợi ích quốc gia của Mỹ.

Dấu ấn đáng chú ý của quan điểm “hòa bình dựa trên sức mạnh” của Mỹ xuất hiện trong cuộc tập trận Balikatan năm 2025

Trong bối cảnh các vấn đề an ninh của châu Á – Thái Bình Dương trong nửa đầu năm 2025 đang có những diễn biến khá phức tạp như đụng độ quân sự giữa Ấn Độ và Pakistan vừa diễn ra, chiến tranh Ixraen – Iran liên quan đến chương trình hạt nhân đang “nóng bỏng” thì Mỹ và Philippines tổ chức tập trận Balikatan. Mặc dù đây là cuộc tập trận thường niên theo thỏa thuận giữa hai nước, được tổ chức tại vùng lãnh thổ của Philippines, có liên quan đến Biển Đông nhưng nó được giới chuyên gia, nhất là chuyên gia quân sự thế giới và khu vực rất quan tâm, theo dõi.  Bởi người ta đã đoán định, những gì ẩn chứa trong quan điểm “hòa bình dựa trên sức mạnh” của ông D.Trump rất có thể sẽ xuất hiện thông qua cuộc tập trận này. Dự đoán trên quả không sai, một loạt vấn đề liên quan đến quan điểm “hòa bình dựa trên sức mạnh” của ông D.Trump đã thấy xuất hiện trong cuộc tập trận này, trong đó nổi bật nhất là các nội dung sau:

Thứ nhất, qui mô lực lượng tham gia cuộc tập trận khá lớn, có sự tham gia trực tiếp của lực lượng quân sự một số nước là đồng minh của Mỹ.

Tập trận Balikatan năm 2025 có sự tham gia của khoảng 17.000 binh sỹ. Trong đó, ngoài các binh sỹ Mỹ và Philippines, còn có sự tham gia trực tiếp của hàng trăm binh sỹ đến từ Australia và Nhật Bản. Gần 20 quốc gia khác từ Châu Âu, Châu Á, Châu Úc tới Châu Mỹ cũng tham dự với tư cách quan sát viên, bao gồm Canada, Đức, Cộng hòa Séc, Pháp, Lithuania, Hà Lan, Vương quốc Anh; Ấn Độ, Indonesia, Brunei, Malaysia, New Zealand, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan và Việt Nam. Số lượng này tương đương với tập trận Balikatan năm 2024 – năm có qui mô lớn nhất từ trước tới nay. Điều đó cho thấy quyết tâm chính trị của Mỹ và Philippines trong cuộc tập trận này là ngày càng lớn, không chỉ đơn thuần là nhằm nâng cao nhu cầu tác chiến phối hợp giữa quân đội hai nước nữa, mà đang tìm cách vươn lên chiếm ưu thế “vượt trội” về sức mạnh liên kết đa quốc gia để đối phó với các thách thức đang nổi lên ở khu vực, nhất là tại Biển Đông. Đặc biệt, sự tham gia trực tiếp của lực lượng quân sự hai nước Nhật Bản và Australia là vấn đề nhận được sự quan tâm lớn của dư luận. Với Nhật Bản, sau khi ký “Thỏa thuận tiếp cận đối ứng” (RAA) với Philippines ngày 08/7/2024, năm nay Nhật Bản tham gia cuộc tập trận này với tư cách trực tiếp chứ không phải là tư cách quan sát viên như các năm trước. Đây là bước đi mới nhất, tạo điều kiện cho Nhật Bản đóng vai trò “nặng ký” và quyết đoán hơn trong các vấn đề an ninh của đất nước cũng như khu vực. RAA ra đời không chỉ cho phép Nhật Bản tham gia trực tiếp vào các cuộc tập trận Balikatan những năm tiếp theo, mà còn có thể chuyển giao các sáng  kiến công nghệ và đào tạo về quốc phòng cho Philippines, giúp Manila nâng cao khả năng phòng thủ và có sự quyết đoán, cứng rắn hơn trong nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông trước các hành vi gây hấn của Trung Quốc. Với Australia, điểm đáng chú ý ở đây là, hiện nay Canberra đang tích cực xây dựng kiến trúc an ninh nhiều lớp, bao gồm: 1/ Liên minh song phương với Mỹ ngày càng được củng cố; 2/ Thỏa thuận trong nhóm AUKUS gồm Mỹ, Anh, Australia gần đây về việc mua sắm tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân và các công nghệ tiên tiến; 3/ Đối thoại an ninh bốn bên trong nhóm “Bộ Tứ” với Mỹ, Nhật Bản và Ấn Độ về an ninh khu vực; 4/ Mạng lưới quan hệ song phương và đa phương của Australia ngày càng mở rộng với các nước ASEAN. Sự phân lớp này cho phép Australia mạnh dạn triển khai tầm mức ảnh hưởng vượt ra ngoài các lợi ích truyền thống của họ ở Nam Thái Bình Dương, hướng tới Đông Nam Á. Cuộc tập trận Balikatan hàng năm chính là cơ hội để Lực lượng Phòng vệ Australia nâng cao khả năng hoạt động trong các điều kiện địa lý và tác chiến có liên quan đến các tình huống bất trắc tiềm ẩn ở Biển Đông, khu vực đang ngày càng trở thành mối quan tâm chiến lược của Canberra.

          Theo một khía cạnh khác, cụm từ Balikatan trong tiếng Tagalog có nghĩa là “vai kề vai”. Sự tham gia trực tiếp của quân đội Australia và Nhật Bản, cùng với các quan sát viên từ 16 quốc gia khác cho thấy, Mỹ và Philippines giờ đây không chỉ “vai kề vai” cùng nhau như đã có, mà còn “kề vai, sát cánh” với nhiều đồng minh, đối tác hơn để biến cuộc tập trận song phương này thành một “liên minh quân sự đa phương” ở Biển Đông theo quan điểm “hòa bình dựa trên sức mạnh” của Tổng thống D.Trump nhằm đối phó với các hoạt động quân sự ngày càng gia tăng của Trung Quốc.

Vì thế, khi nhận xét về sự tham gia của lực lượng quân đội các nước trong cuộc tập trận Balikatan năm 2025, Trung tướng James Glynn – Tư lệnh Lực lượng Thủy quân Lục chiến Mỹ tại Thái Bình Dương cho rằng: “Cùng với đồng minh kiên định ở khu vực là Philippines và sự tham gia ngày càng tăng của các quốc gia có lợi ích quan trọng chung như Australia và Nhật Bản, chúng tôi đang hoạt động như một lực lượng với năng lực hỗ trợ lẫn nhau, sẵn sàng ứng phó với các thách thức và bảo vệ một khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở”.

Thứ hai, xuất hiện nhiều loại vũ khí, khí tài quân sự tiên tiến, hiện đại được đưa tới tham gia tập trận và được triển khai cả ở các vị trí rất nhạy cảm, có tính răn đe cao đối với các hoạt động mang tính “cưỡng bức”của Trung Quốc ở Biển Đông và eo biển Đài Loan.

Trong cuộc tập trận Balikatan năm 2024, Mỹ đã đưa hệ thống tên lửa tầm trung Typhon đến ra mắt các bên tham gia và hiện diện trên lãnh thổ Philippines – điều đã khiến Trung Quốc phản ứng rất mạnh mẽ, nhưng thực tế thì hệ thống tên lửa này không thực hiện vụ phóng nào, mà chỉ diễn tập về hậu cần, bố trí, cơ động. Nhưng năm nay, lần đầu tiên hệ thống này, bao gồm tên lửa SM-6 và tên lửa Tomahawk đã được Mỹ triển khai tới tỉnh Cagayan ở miền Bắc Philippines, khu vực gần Đài Loan và các tuyến đường hàng hải trọng yếu ở Biển Đông. Không chỉ có hệ thống tên lửa tầm trung Typhon, mà còn có cả hệ thống phòng thủ bờ biển mang tên NMESIS và tổ hợp phòng không MADIS cũng được Mỹ triển khai. Sự hiện diện của các hệ thống tên lửa tối tân này cho thấy, Balikatan năm 2025 không còn là cuộc diễn tập phòng thủ đơn thuần nữa, mà đã là cuộc diễn tập mô phỏng thực chiến với đầy đủ các kịch bản phối hợp tác chiến giữa các lực lượng trên biển, trên không và trên bộ rất uy lực, bao gồm bảo đảm an ninh hàng hải, bắn đạn thật chống đổ bộ, phòng thủ tích hợp trên không và tên lửa… Điều này khẳng định năng lực và sự sẵn sàng của Mỹ trong việc “sử dụng sức mạnh” để đối phó với các thách thức an ninh tại Biển Đông.

Thứ ba, Mỹ không những chỉ “diễu võ” trên thực địa mà còn công khai “giương oai” rất mạnh mẽ trên phương diện truyền thông, tuyên truyền nhằm gửi thông điệp răn đe tới đối thủ tiềm năng.

Ngoài việc đưa vào cuộc tập trận này các loại vũ khí tiên tiến như đã nói ở trên nhằm nâng cao khả năng phòng thủ của Philippines và Mỹ, thể hiện sự quyết tâm bảo vệ chủ quyền và lợi ích an ninh hàng hải, một số quan chức quốc phòng của Mỹ còn đưa ra các tuyên bố mang tính răn đe rất mạnh mẽ. Điển hình là, khi cuộc tập trận Balikatan năm 2025 bắt đầu triển khai, Đô đốc John Aquilino – Tư lệnh Bộ Chỉ huy Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ, đã tuyên bố, cuộc tập trận năm nay sẽ “mang tính răn đe thực chất hơn, trước các hành vi cưỡng ép và đơn phương làm thay đổi hiện trạng ở Biển Đông và quanh eo biển Đài Loan”. Mặc dù viên đô đốc này không nêu cụ thể tên nước nào có hành vi cưỡng ép và đơn phương, nhưng ai cũng hiểu thông điệp cứng rắn này của Mỹ không nhằm vào đối thủ nào khác trong khu vực ngoài Trung Quốc. Điều này phù hợp với cách tiếp cận thực dụng của ông D.Trump, đó là ưu tiên bảo vệ lợi ích quốc gia và các đồng minh trước các mối đe dọa hiện hữu ở Biển Đông. Do tính chất răn đe lớn như vậy, nên Trung Quốc cũng “chạm nọc” và không chịu ngồi yên, tìm cách đáp trả. Theo đó, vào thời gian cuộc tập trận đang ở cao điểm, Bắc Kinh đã điều nhóm tàu sân bay Sơn Đông vào khu vực phía đông Philippines. Có thể khẳng định rằng, cuộc tập trận Balikatan năm 2025 là một thực tế điển hình minh chứng quan điểm “hòa bình dựa trên sức mạnh” của Tổng thống D.Trump đã được thể hiện trong thực tiễn thi hành chính sách đối ngoại của Mỹ. Thông qua việc tăng cường sức mạnh quân sự, tái cấu trúc quan hệ đồng minh dựa trên chia sẻ gánh nặng và tập trung vào các khu vực chiến lược quan trọng, trong đó có Biển Đông, nước Mỹ dưới thời Tổng thống D. Trump nhiệm kỳ hai đang nỗ lực củng cố vị thế lãnh đạo thế giới của mình và răn đe các đối thủ tiềm tàng. Cuộc tập trận này không chỉ nâng cao năng lực phòng thủ của hai nước Mỹ – Phi, mà còn gửi đi một thông điệp rõ ràng về cam kết của Mỹ đối với an ninh và ổn định khu vực, nhất là đối với những thách thức đến từ phía Trung Quốc. Màn khói súng của cuộc tập trận Balikatan năm 2025 đã tan, nhưng âm vang của “tín hiệu răn đe” từ cuộc tập trận này vẫn còn đó và mạnh mẽ hơn rất nhiều so với các lần tập trận trước. Song đương nhiên, Bắc Kinh chưa chắc đã chịu “ngồi yên xem thiên hạ diễn”, mà sẽ có sự đáp trả quyết liệt hơn, theo kiểu đáp trả chính sách áp thuế đối ứng của ông D.Trump đối với Trung Quốc vừa qua. Vì thế, mong muốn có một môi trường hòa bình, ổn định để phát triển của tất cả các nước ven Biển Đông sẽ tiếp tục bị đe dọa và đứng trước nhiều khó khăn, thách thức khó lường hơn.

]]>