quần đảo Hoàng Sa – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Wed, 22 Jan 2025 02:05:11 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 Chứng cứ lịch sử pháp lý bác bỏ cái gọi là “chủ quyền” của TQ đối với quần đảo Hoàng Sa https://biendong.net/2025/01/19/chung-cu-lich-su-phap-ly-bac-bo-cai-goi-la-chu-quyen-cua-tq-doi-voi-quan-dao-hoang-sa/ Sun, 19 Jan 2025 02:00:09 +0000 https://biendong.net/?p=143651 Ngày 19/1/2025 đánh dấu việc Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa bằng vũ lực, sự chiếm đóng quần đảo này bất hợp pháp trong 51 năm qua không thể tạo ra danh nghĩa về chủ quyền bởi việc Trung Quốc chiếm đóng Hoàng Sa bằng vũ lực vi phạm nghiêm trọng Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế.

Việt Nam đã đưa ra nhiều bằng chứng lịch sử về sự chiếm hữu thực sự quần đảo Hoàng Sa ít nhất từ thế kỷ XVI khi quần đảo này là lãnh thổ vô chủ. Các vua, chúa triều đình nhà Nguyễn đã tỏ rõ ý chí nhà nước của mình, thành lập các đội đi biển có tính nhà nước. Hoạt động này được tiến hành hàng năm và được đặt dưới kỷ luật nhà nước bằng việc thành lập các Đội Hoàng Sa để khai thác các tài nguyên sản vật trên biển. Chính sử triều Nguyễn và các văn bản triều đình nhà Nguyễn còn được lưu giữ đề nay đã khẳng định điều này.

Bộ sách Phủ Biên tạp lục, viết năm 1776, của Lê Quý Đôn ghi rõ: “Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng ba nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền tiểu câu ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến các đảo ấy rồi ở lại đó. Tha hồ kiếm lượm, bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hóa vật của tàu, như là gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, vòng bạc, đồ đồng, thiếc khối, chì đen, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiên cùng là kiếm lượm mai đồi mồi, mai hải ba, hải sâm, hột ốc hoa, rất nhiều. Đến kỳ tháng 8 về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp. Cân và định hạng xong mới cho đem bán riêng các thứ ốc hoa, hải ba, hải sâm, rỗi lĩnh bằng trở về”.

Sách Đại Nam thực lục chính biên (1848) ghi nhận một loạt các hoạt động thuộc về cách ứng xử của nhà nước thông qua các hoạt động của Đội Hoàng Sa. Năm 1815, 1816, vua Gia Long cử Đội Hoàng Sa ra Hoàng Sa xem xét và đo đạc thuỷ trình, nhiệm vụ được quy định rất rõ ràng. Đại Nam thực lục chính biến cũng như Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ ghi như sau: “Không cứ đảo nào, cửa bể nào thuyền chạy đến, sẽ đo nơi ấy chiều dài, chiều ngang, bề cao, bề rộng, chu vi bao nhiêu, rà bên bờ nước nông hay sâu. Có cát ngầm, đá mỏm hay không, ở tình thế hiểm trở hay bình thường, xem đo tỏ tường vẽ thành đồ bản, chiếu khi khởi hành, do cửa bể nào ra bể, trông phương hướng nào mà lái đến nơi ấy, cứ theo đường thuỷ đã đi khấu tính ước được bao nhiêu dặm đường? Lại ở chốn ấy trông vào bờ bể đối thẳng là tỉnh hạt nào và phương hướng nào? Ước lượng cách bờ bao nhiêu dặm đường? Ghi nói minh bạch trong hoạ đồ để trình lên”.

Các chuyến đi làm nhiệm vụ ở Hoàng Sa cũng được chuẩn bị kỹ lưỡng. Chỉ đạo ở trên có Hoàng đế và Bộ Công, thi hành có vệ thuỷ quân là chính, phối hợp với vệ giám thành và tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định. Chính Vua Minh Mạng đã nhiều lần ra chỉ dụ thưởng phạt. Thường thì dân binh Đội Hoàng Sa luôn được thưởng 1 hay 2 quan tiền và miễn thuế vì sự vất vả và nguy hiểm. Đến năm Minh Mạng thứ 14 (1833), Vua Minh Mạng chỉ thị cho Bộ Công phái người ra Hoàng Sa dựng bia chủ quyền và từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836), cứ hàng năm, cử người ra Hoàng Sa ngoài việc đo đạc thuỷ trình, vẽ bản đồ còn cắm cột mốc, dựng bia.

Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, ghi rõ: “Vua Minh Mạng đã y theo lời tâu của Bộ Công sai suất đội thuỷ quân Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền đi, đem theo 10 cái bài gỗ dựng làm mốc dấu. Mỗi bài gỗ dài 5 thước, rộng 6 tấc và dày 1 tấc, mặt bia khắc những chữ: “Năm Minh Mạng thứ 17, năm Bính Thân, thuỷ quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh ra Hoàng Sa xem xét, đo đạc, đến đây lưu dấu để ghi nhớ”.

Các vị vua chúa Việt Nam còn rất quan tâm đến việc dựng chùa, miếu mạo và trồng cây tại quần đảo Hoàng Sa. Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), Vua Minh Mạng đã cử cai đội thuỷ quân là Phạm Văn Nguyên đem lính và giám thành cùng phu thuyền 2 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định chuyên chở vật liệu đến dựng miếu, sai trồng cây vì cho rằng, gần đây, thuyền buôn thường bị hại nên trồng cây làm dấu để cho tàu thuyền dễ nhận biết mỗi khi qua lại….

Những hoạt động này đều được văn bản hoá như Châu bản của triều đình nhà Nguyễn cũng như các văn bản khác của chính quyền địa phương hiện đang được lưu giữ tại các cơ quan lưu trữ Việt Nam. Châu bản là một loại văn bản hành chính của vương triều Nguyễn (1802 – 1945). Trên các châu bản này còn lưu lại các dấu tích bút phê của các vua triều Nguyễn bằng son đỏ. Hiện nay chỉ duy nhất triều Nguyễn Việt Nam có các Châu bản về thực thi chủ quyền đối với Hoàng Sa.

Trong hơn 700 Châu bản được lưu giữ thì có khoảng 19 tờ Châu bản thể hiện rất cụ thể về việc triều Nguyễn thực thi chủ quyền trên hai quần đảo này. Nội dung các tờ châu bản phản ánh quá trình xác lập và thực thi chủ quyền của triều đình nhà Nguyễn trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Theo nội dung 19 tờ Châu bản, triều đình nhà Nguyễn không chỉ cử các Đội Hoàng Sa và sau này thêm Đội Bắc Hải ra quần đảo Hoàng Sa để khảo sát, cắm mốc, đo vẽ bản đồ, xác lập và thực thi chủ quyền mà còn thực hiện các nghĩa vụ quốc tế cứu hộ, cứu nạn đối với thuyền bè của các nước khác gặp nạn trên vùng biển Hoàng Sa.

Châu bản ngày 27 tháng 6 năm Minh Mệnh thứ 11 (năm 1830) do Nội các tấu trình về việc cứu hộ tàu buôn của Pháp bị chìm tại Hoàng Sa. Châu bản viết: “Ngày 21 tháng 6 năm Minh Mệnh thứ 11 (năm 1830), chủ thuyền buôn nước Pháp là Đô-ô-chi-ly cùng Tài phó Y-đóa và phái viên Lê Quang Quỳnh đi thuyền qua Philipinnes buôn bán. Thuyền qua phía Tây Hoàng Sa thì bị mắc cạn, nước ngập vào thuyền hơn 8 thước”. Các Châu bản về việc cứu nạn này được tường trình chi tiết và được Thủ ngự cửa biển Đà Nẵng báo cáo liên tục đến nhà Vua, nhà Nguyễn đã cho thuyền tuần tiễu của triều đình đi tìm kiếm và “đến giờ Ngọ thì gặp Đô-ô-chi-ly cùng phái viên, thủy thủ 15 người, hiện đã đưa về tấn, người và tiền bạc đều an toàn”.

Châu bản triều Nguyễn đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Di sản tư liệu thế giới khu vực Châu Á-Thái Bình Dương ngày 14/5/2014. Như vậy, thời nhà Nguyễn từ cuối thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XIX, Đội Hoàng Sa đã làm nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với quần đảo Hoàng Sa. Các chuyên gia cho rằng, những tờ châu bản này là những tư liệu gốc chứa đựng nhiều thông tin quý giá khẳng định các Nhà nước phong kiến Việt Nam đã xác lập và thực thi chủ quyền trên hai quần đảo này một cách liên tục, hòa bình, bằng các hoạt động do nhà nước tổ chức, với sự chỉ đạo trực tiếp của nhà Vua và nhà nước Việt Nam đã thụ đắc chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa theo đúng các quy tắc của luật pháp quốc tế áp dụng vào thời điểm đó.

Giáo sư Carlyle Thayer thuộc Học viện Quốc phòng Australia phân tích: “Trung Quốc cho rằng, họ có bằng chứng không thể chối cãi về việc Hoàng Sa thuộc chủ quyền nước này. Tuy nhiên, những tài liệu về Đội Hoàng Sa cho thấy, chủ quyền về Hoàng Sa mà Trung Quốc từng tuyên bố là vấn đề còn tranh cãi. Trong khi đó, quan điểm của Việt Nam có cơ sở vững chắc. Đội Hoàng Sa có chức năng kinh tế, quốc phòng. Vào thời điểm đó, cách thức để duy trì việc quản lý chủ quyền là thông qua các cuộc thăm viếng thường xuyên để quản lý các nguồn tài nguyên và bảo vệ đảo. Và Đội Hoàng Sa của Việt Nam đã thực hiện các chức năng này”. Rõ ràng, Nhà nước Việt Nam là Nhà nước đầu tiên trong lịch sử đã xác lập chủ quyền của mình tại 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Việc thực thi chủ quyền này là thực sự, liên tục, hoà bình, phù hợp với nguyên tắc của luật pháp và thực tiễn quốc tế.

Quần đảo Hoàng Sa còn sớm được thể hiện trên các bản đồ cổ của Việt Nam và quốc tế. Tấm bản đồ vẽ xứ Quảng Nam trong Toản tập thiên nam tứ chí lộ đồ thư do Đỗ Bá, tự Công Đạo, biên soạn vào năm 1686. Trên bản đồ này chú thích khá cụ thể về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của quần đảo này, cũng như chủ quyền của Chúa Nguyễn được xác lập ở đó. Bản đồ có có đoạn văn viết bằng chữ Hán: “Giữa biển có một dải cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm đứng dựng giữa biển. Từ cửa biển Đại Chiêm, đến cửa Sa Vinh mỗi lần có gió tây nam thì thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi giạt ở đây, đều cùng chết đói hết cả. Hàng hóa thì đều để nơi đó. Họ Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến đây lấy hàng hóa, được phần nhiều là vàng bạc tiền tệ súng đạn”. Hoàng Sa được thể hiện trong Đại Nam nhất thống toàn đồ là bản đồ được vẽ theo lệnh của vua Minh Mạng, hoàn tất vào năm 1838.Đại Nam nhất thống toàn đồ là bản đồ hành chính đầu tiên của triều Nguyễn được vẽ gần giống với các bản đồ Việt Nam sau này.

Trong khi đó, những bộ chính sử các triều đại Trung Quốc từ Nhà Hán (203TCN – 220) đến đời Thanh, chưa từng biên chép gì về quần đảo Hoàng Sa bởi trong lịch sử các triều đại này chưa từng xem nó thuộc về phần đất của họ. Đáng chú ý là các bản đồ do phương Tây và Trung Quốc phát hành trước thế kỷ XX, phản ánh một sự thực không thể chối cãi rằng chủ quyền thực sự của Trung Quốc chỉ đến cực Nam của đảo Hải Nam. Tất cả các bản đồ của Trung Quốc và các bản đồ phương Tây từ thế kỷ XX trở về trước cũng đều cho thấy cực Nam của Trung Quốc là ở đảo Hải Nam, trên vĩ tuyến thứ 18.

Hoàng Thanh nhất thống dư địa bản đồ do triều đình nhà Thanh ấn hành năm 1894 còn ghi rõ “lãnh thổ của Trung Quốc chỉ chạy đến đảo Hải Nam là hết”. Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ là một tấm bản đồ được đích thân các Hoàng đế nhà Thanh từ Khang Hy cho đến Quang Tự huy động lực lượng giáo sĩ và những người tài giỏi về thiên văn, toán pháp thực hiện trên cơ sở tập hợp tư liệu từ các đời Tần, Hán và được tiến hành liên tục trong gần hai thế kỷ (1708-1904), do Nhà xuất bản Thượng Hải in năm 1904, rồi đến Đại Thanh đế quốc toàn đồ vẽ năm 1905 (nhà xuất bản bản đồ Tây An tái bản năm 1995 trong Trung Quốc cổ địa đồ trân tập), cương giới phía nam của Trung Quốc trên hai bản đồ này chỉ tới đảo Hải Nam.

Bộ Atlas Trung Quốc như Atlas of the Chinese Empire – Trung Quốc địa đồ, xuất bản năm 1908 bằng tiếng Anh là tập Atlas chính thức được phát hành với sự trợ giúp của Tổng cục Bưu chính của nhà Thanh và hai tập Atlas Postal de Chine do Tổng cục Bưu chính thuộc Bộ Giao thông của Trung Hoa dân quốc xuất bản tại Nam Kinh vào các năm 1919 và 1933, in bằng 3 thứ tiếng Trung, Anh, Pháp (tức là để phổ biến rộng rãi cho cả thế giới biết), gồm một bản đồ tổng thể vẽ toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc và bản đồ Trung Hoa dân quốc phân tỉnh tân đồ do Vũ Xương Á Tân địa học xã xuất bản năm 1933, thì cực Nam Trung Quốc cũng chỉ dừng lại ở đảo Hải Nam.

Giới phân tích nhận định các bản đồ cổ của Trung Quốc, thậm chí một số bản đồ hiện đại cho đến giữa thế kỷ XX cũng chỉ thể hiện cực Nam của Trung Quốc kết thúc ở Đảo Hải Nam bởi vì nó phản ánh đúng thực tế lịch sử các triều đại phong kiến Trung Quốc chưa bao giờ có bất kỳ một hành động nào nhằm thể hiện quyền lực của mình đối với các quần đảo Hoàng Sa hay Biển Đông và chủ quyền thực sự của Trung Quốc chỉ đến cực Nam của đảo Hải Nam mà thôi.

Điều này cũng tương đồng với các tấm bản đồ của phương Tây từ thế kỷ XX trở về trước. Bộ Atlas thế giới Bruxelles gồm 6 tập khổ lớn do nhà Địa lý học Philippe Vandemaelen (1795-1869), người sáng lập Viện Địa lý Hoàng gia Bỉ xuất bản năm 1827. Điểm đán chú ý là Bộ Atlas không chỉ khẳng định cực Nam của Trung Quốc giới hạn ở đảo Hải Nam mà còn khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa một cách rõ ràng, chi tiết và chính xác.

Đáng chú ý là tấm bản đồ cổ mà Thủ tướng Đức Angela Merkel đã tặng cho Chủ tịch Tập Cận Bình cách đây 10 năm (vào tối 28/3/2014) nhân chuyến thăm châu Âu của lãnh đạo Trung Quốc, cũng không có quần đảo Hoàng Sa (theo bài “Một Merkel, một tấm bản đồ, một thông điệp” đăng trên tở FP ngày 02/4/2014). Điểm cực Nam cũng chỉ tới đảo Hải Nam. Đây là tấm bản đồ vẽ lãnh thổ Trung Quốc thời Càn Long (1736 – 1795) do nhà bản đồ học người Pháp là Jean-Baptiste Bourguignon d’Anville vẽ, được 1 nhà xuất bản ở Đức xuất bản năm 1735. Một số chuyên gia còn cho rằng việc bà Angela Merkel tặng Tập Cận Bình tấm bản đồ này là một “trò chơi ngoại giao” để nhắc nhở Bắc Kinh rằng những yêu sách của họ ở Biển Đông là phi lý và bất hợp pháp.

Năm 1885 tại Hội nghị về châu Phi giữa 13 nước châu Âu và Mỹ ở Berlin, các bên đã thông qua một định ước, trong đó đưa ra nguyên tắc “chiếm hữu thực sự” để công nhận một quốc gia có chủ quyền đối với một vùng lãnh thổ (gọi tắt là Định ước Berlin 1885). Theo đó, việc xác lập chủ quyền lãnh thổ phải do nhà nước tiến hành; việc chiếm hữu phải được tiến hành trên một vùng lãnh thổ vô chủ (Res-Nullius) hay trên một vùng lãnh thổ đã bị bỏ hoang (derelicto); quốc gia chiếm hữu phải thực thi chủ quyền của mình một cách hiệu quả, thích hợp với những điều kiện tự nhiên, dân cư ở trên vùng lãnh thổ đó; việc chiếm hữu và thực thi chủ quyền phải hòa bình, liên tục rõ ràng; dùng vũ lực để xâm chiếm là phi pháp, không được thừa nhận.

Dựa trên nguyên tắc “chiếm hữu thực sự” được quy định trong Định ước Berlin 1885 thì Trung Quốc hoàn toàn không thể tạo ra danh nghĩa chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa bất chấp việc họ chiếm đóng tại quần đảo này 51 năm bởi: thứ nhất, khi Trung Quốc có mưu đồ xâm chiếm Hoàng Sa (từ đầu thế kỷ XX) thì quần đảo này không còn là vùng đất vô chủ mà nó đã được các nhà nước phong kiến Việt Nam xác lập và thực thi chủ quyền một cách liên tục hoà bình từ hàng trăm năm trước (như các tư liệu lịch sử nói trên); thứ hai, Bắc Kinh chiếm đóng quần đảo quần đảo Hoàng Sa bằng vũ lực sau khi hải quân Trung Quốc gây ra cuộc chiến đẫm máu cho hải quân Việt Nam Cộng hoà – chính quyền đang quản lý và thực thi chủ quyền hợp pháp đối với quần đảo này, đây là sự chiếm đóng phi pháp, không được thừa nhận. 

Do vậy, giới chuyên gia luật pháp quốc tế đều cho rằng dù Trung Quốc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa 51 năm hay lâu bao nhiêu đi chăng nữa thì nước này cũng không thể tạo ra được danh nghĩa chủ quyền đối với quần đảo này bởi sự chiếm đóng của Bắc Kinh đối với quần đảo này là phi pháp, là vi phạm các quy định của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc về cấm sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực để chiếm đóng các vùng lãnh thổ.

Trần Duy HảiNguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Biên giới quốc gia

]]>
Nhìn lại mưu đồ xâm chiếm Hoàng Sa của TQ https://biendong.net/2025/01/19/nhin-lai-muu-do-xam-chiem-hoang-sa-cua-tq/ Sun, 19 Jan 2025 01:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=143648 Cách đây 51 năm, ngày 19/1/1974, Trung Quốc đã dùng vũ lực chiếm đoạt quần đảo Hoàng Sa sau trận hải chiến đẫm máu với hải quân Việt Nam Công hoà.

Việc làm của giới cầm quyền Bắc Kinh đã vi phạm nghiêm trọng Hiến chương Liên hợp quốc và không thể tạo ra danh nghĩa chủ quyền cho Trung Quốc. Nhân đây, chúng ta cùng nhìn lại mưu đồ xâm chiếm Hoàng Sa của nhà cầm quyền Bắc Kinh.

Một điều cần khẳng định theo các chứng cứ pháp lý và lịch sử, chưa bao giờ Hoàng Sa thuộc về Trung Quốc. Cho tới đời nhà Thanh các bản đồ được ấn hành từ thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 đều khẳng định điểm cực nam của Trung Quốc chỉ dừng ở phủ Quỳnh Châu tại vĩ tuyến 18,13 độ vĩ bắc. Hay nói cách khác cương giới của Trung Quốc từ cổ chí kim đều luôn được sử sách địa đồ của họ xác định chỉ nằm tại đảo Hải Nam và không thể vươn xa hơn nữa.

Báo chí Quảng Châu thời bấy giờ đưa tin vào tháng 6/1909, chính quyền Quảng Đông đã đưa hai pháo hạm loại nhỏ do đô đốc Lý Chuẩn dẫn đầu đi một vòng quanh các đảo nằm phía đông đảo Hải Nam, để rồi vào năm 1932 chính quyền Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch đã nâng cấp chuyến đi của đô đốc Lý Chuẩn là một dấu mốc thời gian để ấn định cái gọi là “chủ quyền” của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa một cách vô lý.

Chuyến đi của Lý Chuẩn được ghi ngắn gọn là “được lệnh của tổng đốc Quảng Đông và Quảng Tây lúc bấy giờ là Trương Nhân Tuấn, tháng 6/1909 đô đốc Lý Chuẩn dẫn đầu hai chiến hạm Phục Ba và Sâm Hạm cùng 170 quan binh đến “thu phục Tây Sa (cách Trung Quốc gọi quần đảo Hoàng Sa)”. Trên thực tế, chuyến đi của đô đốc Lý Chuẩn không phải là một chuyến khảo sát hay thị sát như phía Trung Quốc mô tả, cũng chẳng có chuyện thu phục Hoàng Sa như Trung Quốc từng tưởng tượng. Đó chỉ là chuyến đi mang tính chất “cưỡi ngựa xem hoa”, không hề lưu dấu hay để lại một dấu tích hoặc luận chứng lịch sử cụ thể trên những điểm mà họ đi qua“.

 Thế nhưng, người Trung Quốc cứ thổi phồng và ngụy tạo chứng cứ biến chuyến đi này thành chuyến đi lịch sử nên mỗi giai đoạn có một kiểu mô tả khác nhau. Tờ Đại Công Báo ở Thiên Tân ngày 8/10/1933, tức đến 24 năm sau, đã vẽ thêm rằng đô đốc Lý Chuẩn cùng đoàn đội của ông ta đến Hoàng Sa và đã đo, vẽ cũng như đặt tên cho 16 đảo ở đây. Song ai có thể tin chỉ chưa đầy 24 giờ thì Lý Chuẩn có thể làm hết từng ấy việc ở Hoàng Sa và vì sao phải đến 24 năm sau bút ký này mới được đưa ra? Chỉ có người Trung Quốc nói cho người Trung Quốc nghe.

Những chứng cứ do phía Trung Quốc đưa ra về quần đảo Hoàng Sa chưa bao giờ xác thực cả về mặt lịch sử lẫn pháp lý. Song mưu đồ xâm chiếm thì đã rõ ngay khi Trung Quốc đưa ra luận điểm để bảo vệ cho chuyến thị sát trái phép quần đảo Hoàng Sa năm 1909 của quan binh nước này, cho rằng quần đảo Hoàng Sa là “quần đảo hoang”, trong khi Việt Nam đã đưa ra những bằng chứng lịch sử và pháp lý chứng minh được chủ quyền ở Hoàng Sa từ thế 17.

Sau chuyến đi của Lý Chuẩn 12 năm, tháng 3-1921 chính quyền quân sự Quảng Đông đã ký một sắc lệnh bất hợp pháp sáp nhập Hoàng Sa vào huyện Châu Nhai, phủ Quỳnh Châu lúc bấy giờ. Rõ ràng hành vi xâm phạm chủ quyền có chủ ý của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa diễn ra ngay khi An Nam (tên gọi của Việt Nam lúc bấy giờ) đang trong thời kỳ Pháp thuộc bị Pháp và chính quyền bảo hộ Pháp đang đại diện cho Việt Nam quản lý và thực thi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa.

Sở dĩ Trung Quốc muốn xâm chiếm Hoàng Sa là vì trước đó trong chuyến thị sát vùng biển này, tàu quan binh nhà Thanh đã phát hiện một nhóm thương nhân người Nhật đang chiếm cứ đảo Pratas (sau này Trung Quốc gọi là Đông Sa) nằm gần Hoàng Sa. Trung Quốc không muốn quần đảo Hoàng Sa bị các nước mạnh thời đó quản lý nên đã bắt đầu triển khai mưu đồ cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa. Đây là mầm mống gây tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc với Pháp lúc này đang được xem là đại diện cho Việt Nam. Động thái của Trung Quốc năm 1921 đã khiến Pháp phải nhìn lại, dù tại thời điểm này Trung Quốc chỉ mới xâm phạm chủ quyền Hoàng Sa trên văn bản.

Trước âm mưu xâm chiếm của Trung Quốc và sự manh nha xuất hiện của người Nhật trên tuyến đường biển quan trọng “nối liền giữa Hong Kong và Sài Gòn”, liên tiếp từ năm 1925-1930 Pháp đã có những động thái khẳng định chủ quyền không chỉ ở Hoàng Sa. Trước hết, đầu tháng 3/1925 toàn quyền Đông Dương Pasquier đã ra tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc lãnh thổ của Pháp (tức thuộc về An Nam đang là thuộc địa của Pháp lúc bấy giờ). Ngày 20/3/1930, toàn quyền Đông Dương đã yêu cầu Bộ thuộc địa Pháp “Cần thừa nhận lợi ích của nước Pháp ẩn chứa trong việc thay mặt An Nam thực thi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa”.

Trong bối cảnh Nhật cũng nhăm nhe chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa, để ngăn chặn mối họa xâm chiếm của chính quyền Trung Hoa Dân quốc cũng như Nhật Bản, từ năm 1937 Pháp đã ủy thác cho kỹ sư trưởng Gauthier việc xây dựng một trạm hải đăng ở đảo nhỏ Hoàng Sa (đảo Pattle). Sau đó năm 1938-1939, theo nghị định số 3282 do toàn quyền Đông Dương Brievie ký, Pháp đã triển khai quân binh đến đảo Hoàng Sa xây dựng trạm hải đăng, trạm vô tuyến TFS và trạm khí tượng, song song đó cũng xây dựng thêm một trạm khí tượng khác trên đảo Phú Lâm.

Sau khi đánh đuổi quân Tưởng Giới Thạch rời khỏi đại lục chạy sang đảo Đài Loan năm 1949, Chính phủ Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa được thành lập ở Trung Quốc đại lục (gọi tắt là chính quyền Bắc Kinh) đã tiếp tục mưu đồ cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa.

Đầu tháng 9/1951, theo lời mời của Mỹ, 51 quốc gia đã từng tham gia hoặc có liên hệ với cuộc chiến chống Nhật đã tham gia Hội nghị San Francisco (Mỹ). Điểm đáng chú ý là cả chính quyền Bắc Kinh ở Trung Quốc đại lục và Trung Hoa Dân quốc ở Đài Loan đều không được mời dự. Chính quyền Bắc Kinh phản ứng với nội dung dự thảo Hòa ước San Francisco có liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa và đơn phương tuyên bố chủ quyền của mình tại hai quần đảo này.

Tuy nhiên, tuyên bố của Bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc Chu Ân Lai từ Bắc Kinh không tác động được gì đến các đại biểu dự Hội nghị quốc tế San Francisco. Một bằng chứng rõ ràng là tại hội nghị này, ngày 5/9/1951, đại diện Liên Xô là Andrei Gromyko (sau này là Ngoại trưởng Liên Xô), có lẽ do áp lực từ phía Trung Quốc, đã đưa ra đề nghị trao hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc. Nhưng, kết quả bỏ phiếu tại Hội nghị San Francisco là một minh chứng rất rõ ràng rằng quốc tế đã thẳng thừng bác bỏ đề nghị của đại diện Liên Xô: chỉ có 3 phiếu thuận, 1 phiếu trắng và có đến 47 phiếu chống lại việc trao Hoàng Sa – Trường Sa cho Trung Quốc. Giới phân tích nhận định kết quả này thể hiện sự nhìn xa trông rộng của cộng đồng quốc tế đối với mưu đồ bành trướng của Trung Quốc ở Biển khi bác bỏ yêu sách vô lý của chính quyền Bắc Kinh đối với quần đảo Hoàng Sa.

Hai ngày sau, ngày 7/9/1951, tại hội nghị này Trưởng phái đoàn quốc gia Việt Nam, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần Văn Hữu, đã lên tiếng tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Trong đó có đoạn: “Và để tận dụng không ngần ngại mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống bất hòa, chúng tôi khẳng định chủ quyền của chúng tôi trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ xưa đến nay vẫn thuộc cương vực Việt Nam”.

Lời tuyên bố này đã được Hội nghị San Francisco ghi vào biên bản. Và trong tất cả 51 phái đoàn các nước, không có phái đoàn nào phản đối, kể cả Liên Xô. Những sự kiện như thế đã minh chứng rằng cộng đồng quốc tế chưa bao giờ thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc ở hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa. Đây được coi là một chứng cứ mang tính pháp lý quốc tế hết sức quan trọng.

Tuy nhiên, bất chấp tất cả, Trung Quốc vẫn không từ bỏ mưu đồ xâm chiếm đánh chiếm Hoàng Sa. Lợi dụng lúc tranh tối tranh sáng khi Pháp rút khỏi Việt Nam, năm 1956 Trung Quốc ngang nhiên đưa hải quân xâm chiếm nhóm đảo phía đông quần đảo Hoàng Sa. Năm 1974, lợi dụng việc chính quyền Việt Nam Cộng hoà đang gặp khó khăn, Bắc Kinh đã cho lực lượng hải quân gây ra cuộc chiến đẫm máu cho binh sĩ Việt Nam Cộng hoà đánh chiếm nhóm đảo còn lại của quần đảo Hoàng Sa khi chính quyền Việt Nam Cộng hoà đang quản lý và thực thi chủ quyền đối với Hoàng Sa theo Hiệp định Geneve 1954 (hiệp định quy định chính quyền Việt Nam Cộng hoà quản lý phần lãnh thổ từ vĩ tuyến 17 xuống phía Nam, bao gồm quần đảo Hoàng Sa).

Như vậy có thể kết luận rằng cho đến đầu Thế kỷ 20, Trung Quốc chưa có liên quan gì tới quần đảo Hoàng Sa và chưa có yêu sách nào đối với Biển Đông, thậm chí họ còn tự cho rằng không liên quan gì tới quần đảo này. Xin nêu một dẫn chứng cụ thể qua sự kiện tàu buôn La Bellona của Đức bị chìm vì đá ngầm vào năm 1885 và tàu Himeji của Nhật bị đắm vào năm 1896 đều ở khu vực quần đảo Hoàng Sa đã bị nhà đương cục Trung Hoa ở đảo Hải Nam từ chối trách nhiệm cứu vớt với lý do những vùng này không thuộc lãnh hải và quyền quản hạt của Trung Hoa cho thấy chí ít đến cuối thế kỷ 19, nhà đương cục Trung Hoa xem quần đảo này không thuộc về Trung Quốc.

Một chứng cứ khác là sau khi thua trận trong chiến tranh Trung – Nhật, nhà Thanh đã ký Hiệp ước Shimonoseki ngày 17/4/1895 (Trung Quốc gọi là Hiệp ước Mã Quan). Theo đó, nhà Thanh nhượng cho Nhật Bản vĩnh viễn chủ quyền đầy đủ của quần đảo Bành Hồ, Đài Loan và phần phía đông vùng biển của bán đảo Liêu Đông cùng với tất cả các tài sản có trên đó như: công sự, kho vũ khí…và trong đó không đề cập tới quần đảo Hoàng Sa hay Biển Đông. Như vậy, có thể thấy trong tiềm thức của chính quyền nhà Thanh (Trung Quốc) và chính quyền Nhật Bản chưa hề có khái niệm về quần đảo Hoàng Sa cho đến đầu Thế kỷ 20.

Mưu đồ đánh chiếm Hoàng Sa của Trung Quốc được manh nha từ năm 1909 và được tiếp tục phát triển trong những năm tiếp theo. Mưu đồ này được lớn lên theo từng năm và được đánh dấu bằng việc sử dụng vũ lực xâm chiếm phía Đông quần đảo này năm 1956 và tiếp tục đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa bằng vũ lực năm 1974. Mưu đồ này không dừng lại ở đó mà ngày càng được mở rộng cùng với sự lớn mạnh về kinh tế, quân sự của Bắc Kinh. Giới chuyên gia nhận định mưu đồ đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa chỉ là một phần trong mưu đồ lâu dài là thôn tính Biển Đông của giới cầm quyền ở Bắc Kinh.

Dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa mới là bước khởi đầu trong chiến lược độc bành trướng độc chiếm Biển Đông của Bắc Kinh. Năm 1988, Trung Quốc sử dụng vũ lực đánh chiếm 6 thực thể thuộc quần đảo Trường Sa; năm 1995 Bắc Kinh tiếp tục đánh chiếm Đá Vành Khăn thuộc Trường Sa; năm 2012, Trung Quốc cưỡng chiếm Bãi cạn Scarborough ở phía Bắc Biển Đông. Trung Quốc còn đang mưu toan xâm lấn các vùng biển thuộc quyền chủ quyền, quyền tài phán của các nước ven Biển Đông, cản trở tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông khiến cộng đồng quốc tế hết sức lo ngại.

Trần Duy HảiNguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Biên giới quốc gia

]]>
Cảnh giác với mưu đồ của Bắc Kinh xây dựng radar do thám trên đảo Tri Tôn thuộc Hoàng Sa https://biendong.net/2024/11/03/canh-giac-voi-muu-do-cua-bac-kinh-xay-dung-radar-do-tham-tren-dao-tri-ton-thuoc-hoang-sa/ Sun, 03 Nov 2024 02:15:00 +0000 https://biendong.net/?p=140574 Thông qua các hình ảnh vệ tinh do hãng Maxar Technologies của Mỹ thu thập, các nhà nghiên cứu từ Viện Nghiên cứu Quốc tế Hoàng gia Anh (Chatham House) đã phát hiện việc xây dựng một hệ thống radar mới trên đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa, được gọi là hệ thống radar khẩu độ xung lực tổng hợp (SIAR).

Điềm nổi bật của SIAR là có thể phát hiện được máy bay và các thiết bị tàng hình. Điểm radar mới này sẽ góp mặt vào mạng lưới giám sát rộng lớn hơn vốn đã bao phủ phần lớn Biển Đông, biến đảo Tri Tôn thành một căn cứ gián điệp trọng yếu ở Biển Đông. 

Giới phân tích nhận định việc xây dựng hệ thống radar trên đảo Tri Tôn nằm trong kế hoạch lâu dài độc chiếm Biển Đông, trước đó Trung Quốc đã có nhiều radar trên các thực thể mà họ chiếm đóng ở Biển Đông. Vào năm 2018, một bài viết của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (IISS) cho biết Trung Quốc đã tập trung vào việc xây dựng hạ tầng quân sự trên các đảo mới được bồi đắp trên Biển Đông. Các cơ sở hạ tầng bao gồm đường băng, cảng và công sự. Trung Quốc cũng tăng cường sức mạnh do thám và tình báo với các mạng lưới radar có hình dạng và kích cỡ khác nhau. Riêng tại quần đảo Trường Sa vào năm 2018, đã có hơn 40 cơ sở radar trên 7 điểm đảo khác nhau.

Hệ thống radar chống tàng hình trên đảo Tri Tôn có cấu trúc hình bát giác, giống hệ thống SIAR cũng do Trung Quốc xây trên Đá Subi ở quần đảo Trường Sa hồi năm 2017. Một khi được hoàn thành, hệ thống radar trên đảo Tri Tôn sẽ góp mặt để hình thành một mạng lưới gồm ít nhất 3 hệ thống radar chống tàng hình trên Biển Đông mà Trung Quốc đã thiết lập trong thập kỷ qua, bao gồm đảo Hải Nam và Đá Subi ở Trường Sa.

Đảo Tri Tôn là một thực thể thuộc quần đảo Hoàng Sa và nằm gần Việt Nam nhất. Hòn đảo này chỉ cách đất liền của Việt Nam khoảng 136 hải lý và cách đảo Lý Sơn (tỉnh Quảng Ngãi) khoảng 121 hải lý. Năm 1974, tranh thủ lúc chính quyền Việt Nam Cộng hoà gặp khó khăn, Bắc Kinh đã dùng vũ lực gây ra cuộc hải chiến đẫm máu với quân đội Việt Nam Cộng hoà để cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa và cuộc cạnh tranh giành quyền tiếp cận vùng biển này đã gia tăng kể từ khi phát hiện ra trữ lượng dầu khí gần đây. Đảo Tri Tôn được Trung Quốc sử dụng làm điểm cơ sở để vẽ ra đường cơ sở thẳng xung quanh quần đảo Hoàng Sa để tiếp tục yêu sách những vùng biển xung quanh.

Trong những năm qua, Trung Quốc đã xây dựng nhiều công trình quân sự trên quần đảo Hoàng Sa, bao gồm các sân bay và cầu cảng lớn, biến một số đảo thành căn cứ quân sự . Hồi tháng 8/2023, các hình ảnh vệ tinh cho thấy dường như Trung Quốc đã tiến hành xây dựng đường băng trên đảo Tri Tôn. Giới chuyên gia nhận định đây có thể là đường băng dài hơn 600 mét, đủ cho các máy bay cánh quạt và drone cất-hạ cánh, không phải dành cho những máy bay chiến đấu hoặc máy bay ném bom.

Hình ảnh vệ tinh còn tiết lộ các dự án xây dựng khác trên đảo Tri Tôn gồm: một tòa tháp đang hoàn thiện một nửa cũng nằm gần radar SIAR trên đảo Tri Tôn, nơi có khả năng là trung tâm điều khiển; một bệ phóng lớn ở cuối mạng lưới đường bộ, có thể sẽ được sử dụng làm điểm phóng cho một hệ thống tên lửa chống hạm di động. Tòa nhà ở đầu phía Đông Bắc của con đường có thể là một tòa nhà lưu trữ các phương tiện vận chuyển tên lửa.

Trong khu vực quần đảo Hoàng Sa đã nhiều lần xảy ra các vụ việc lực lượng hải cảnh và dân quân biển Trung Quốc đã nhiều lần có các hành động hung hăng gây hấn với tàu cá, ngư dân Việt Nam như truy đuổi, phun vòi rồng, tấn công, đâm va khiến một số tàu cá của Việt Nam bị chìm. Mới đây nhất (cuối tháng 9/2024), lực lượng chấp pháp Trung Quốc đã tấn công đánh đập rã man ngư dân Việt Nam khiến nhiều người bị thương. Một vụ đụng độ lớn đã xảy ra cách đảo Tri Tôn về phía Tây khoảng 17 hải lý khi Trung Quốc cho hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế miến Trung Việt Nam. Vụ việc đã gây phẫn nộ đối với người dân Việt Nam khiến tâm lý “bài Hoa” lên cao, làm dấy lên một làn sóng phản đối mạnh mẽ của người dân Việt Nam cả ở trong và ngoài nước.

Nhằm thách thức các yêu sách phi lý và ngăn chặn hành vi hung hăng của lực lượng chấp pháp Trung Quốc, trong thập kỷ qua, lực lượng hải quân Mỹ, Anh và Australia đã tuần tra vùng biển này để duy trì trật tự dựa trên pháp luật ở Biển Đông. Tháng 1/2016, tàu khu trục trang bị tên lửa dẫn đường của Hải quân Mỹ USS Curtis Wilbur đã đi vào khu vực 12 hải lý xung quanh đảo Tri Tôn. Lầu Năm Góc tuyên bố việc di chuyển này là bác bỏ đường cơ sở thẳng của Trung Quốc, thách thức trước những tuyên bố hạn chế quyền tự do tiếp cận trên Biển Đông của Bắc Kinh. Bộ Ngoại giao Trung Quốc lúc bấy giờ cáo buộc Mỹ vi phạm luật pháp Trung Quốc “khi đi vào vùng lãnh hải của Trung Quốc mà không được cho phép trước”.

Ý đồ của Bắc Kinh khi lắp đặt hệ thống rada SIAR trên đảo Tri Tôn là gì đã được giới chuyên gia phân tích, trong khuôn khổ bài viết xin nêu một số điểm sau:

Trước hết, mục tiêu lâu dài không thay đổi của Bắc Kinh là khống chế, kiểm soát tiến tới thống trị Biển Đông. Để thực hiện mục tiêu đó, Bắc Kinh cần tăng cường các hoạt động do thám để nắm rõ các hoạt động của đối thủ ở Biển Đông. Đảo Tri Tôn nằm rìa phía Tây của yêu sách “Đường lưỡi bò”. Sau khi hoàn thành, hệ thống radar trên đảo Tri Tôn sẽ tăng đáng kể khả năng chặn thu tín hiệu và tác chiến điện tử của Trung Quốc trên khắp quần đảo Hoàng Sa đang có tranh chấp và bổ sung vào mạng lưới giám sát rộng hơn trải dài trên phần lớn Biển Đông, nhất là dọc phía Tây của “Đường lưỡi bò”.

Đảo Hải Nam cách Đá Subi khoảng 1.100 km, còn đảo Tri Tôn nằm ở giữa, cách đảo Hải Nam chừng 350 km và cách Đá Subi chừng 850 km, tạo thành một tam giác giám sát, thu thập thông tin tình báo trên biển Đông, trong đó trạm radar trên đảo Tri Tôn thu thập các thông tin dọc theo phía Tây Biển Đông. Ông J. Michael Dahm, nhà nghiên cứu cấp cao về hàng không vũ trụ và Trung Quốc tại Viện Mitchell, phân tích: “Các radar SIAR bị giới hạn tầm nhìn do độ cong của vỏ Trái Đất. Điều này có nghĩa là có một khoảng trống do thám không phận giữa Đá Subi và đảo Hải Nam. Hệ thống radar trên đảo Tri Tôn sẽ giúp lấp khoảng trống này”. Ông Michael Dahm cho rằng mục đích xây dựng radar mới trên đảo Tri Tôn là cung cấp cho Trung Quốc phạm vi phủ sóng radar chống tàng hình liên tục trên Biển Đông.

Đánh giá về hệ thống radar mới trên đảo Tri Tôn, nhà nghiên cứu Gregory B Poling, Giám đốc chương trình Đông Nam Á từ Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) của Mỹ, nhận định: “Hạ tầng do thám trên đảo Tri Tôn cũng giống như những gì Trung Quốc đã làm ở Biển Đông và cho thấy họ đang ngày càng áp đảo về năng lực radar trên tuyến hàng hải này. Trung Quốc là quốc gia duy nhất có thể giám sát hầu hết những chuyển động trên biển hoặc trên không ở Biển Đông và có thể đáp trả theo cách mà mình muốn”.

Thứ hai, việc Bắc Kinh xây dựng hệ thống radar SIAR trên đảo Tri Tôn có thể giúp Trung Quốc giành ưu thế trong hoạt động do thám ở phía Tây Bắc Biển Đông. Điều này có thể tác động rất lớn tới các đối thủ cạnh tranh trong khu vực và toàn cầu. Hệ thống radar mới và cơ sở vật chất được Trung Quốc xây dựng trên đảo Tri Tôn có khả năng sẽ tạo ra thách thức đối với các nước tranh chấp khác và đối thủ cạnh tranh của Trung Quốc trong cuộc cạnh tranh địa chiến lược ở Biển Đông.

Việc phát triển một hệ thống radar chống tàng hình mới và các cấu trúc chặn tín hiệu bị nghi ngờ khác trên đảo Tri Tôn cho thấy khả năng tình báo của Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa đã tăng lên đáng kể. Trung Quốc che dấu mục đích của công trình xây dựng trên đảo Tri Tôn, nhưng theo Bill Hayton – nghiên cứu viên liên kết tại Chương trình châu Á-Thái Bình Dương của Chatham House, tham vọng tăng cường kiểm soát toàn bộ Biển Đông đã thúc đẩy Trung Quốc củng cố cơ sở hạ tầng trên đảo Tri Tôn.

Cơ sở này cũng có thể cản trở nỗ lực của hải quân Mỹ, Anh và Australia nhằm thách thức yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc. Theo ông Hayton, các cơ sở mới trên đảo Tri Tôn có thể là nỗ lực của Trung Quốc khiến các hoạt động như vậy trở nên khó khăn hơn trong tương lai. Ở cấp độ chiến lược, việc mở rộng mạng lưới radar chống tàng hình của Bắc Kinh trên khắp Hoàng Sa sẽ góp phần làm xói mòn ưu thế về công nghệ mà các lực lượng quân sự của Mỹ và đồng minh có được ở khu vực trong 3 thập kỷ qua.

Tiến sĩ Benjamin J. Sacks, nhà nghiên cứu từ Rand Corporation,”Hệ thống SIAR có khả năng tích hợp với các hệ thống điện từ khác để tạo ra một mạng lưới răn đe đa miền linh hoạt. Hệ thống này có thể cho phép Trung Quốc tạo một hàng rào bao bọc ranh giới yêu sách đường 10 đoạn trên Biển Đông, một yêu sách rộng lớn điên rồ và thiếu căn cứ, xâm phạm UNCLOS và các luật quốc tế liên quan.”

Thứ ba, việc Trung Quốc xây dựng hệ thống radar SIAR và các công trình trên đảo Tri Tôn ảnh hưởng trực tiếp tới an ninh của Việt Nam. Theo đánh giá của Chatham House, việc Trung Quốc xây dựng các công trình do thám trên đảo Tri Tôn sẽ làm “giảm đáng kể khả năng hoạt động bí mật” của Việt Nam trong khu vực. Viện nghiên cứu Chatham House cho rằng hệ thống radar hiện hữu trên đảo Tri Tôn đã có khả năng theo dõi tàu bè trên biển. Sắp tới, với hệ thống radar mới, Trung Quốc sẽ có khả năng theo dõi các di chuyển trên không, phát hiện sớm nhất cử nhất động của Việt Nam trong khu vực này, bao gồm hoạt động tiếp cận các mỏ dầu khí trong khu vực. Điều này có thể tạo ra những khó khăn cho Việt Nam triển khai dự án Cá Voi Xanh khai thác khí trong vùng đặc quyền kinh tế miền Trung.

Ông Bill Hayton, nhà nghiên cứu chương trình châu Á-Thái Bình Dương của Chatham House, cho rằng việc Trung Quốc tăng cường hạ tầng trên đảo Tri Tôn cho thấy mưu đồ của Bắc Kinh gia tăng kiểm soát những nguồn tài nguyên này. Ông Bill Hayton nhận định: “Những diễn biến này có thể là lời cảnh báo cho thấy Trung Quốc đang lên kế hoạch tiến hành một đợt thăm dò dầu khí nữa”. Đây là điều mà Hà Nội cần hết sức cảnh giác.

Với hệ thống radar mới trên đảo Tri Tôn, Bắc Kinh không chỉ có thể kiểm soát các hoạt động trong vùng biển miền Trung Việt Nam mà còn có thể giám sát các hoạt động trên đất liền khu vực miền Trung Việt Nam. Giáo sư Alexander L Vuving từ Trung tâm nghiên cứu an ninh châu Á-Thái Bình Dương Daniel K. Inouye thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ đánh giá: “Tác động lớn nhất sẽ là việc Trung Quốc có khả năng phát hiện các động thái của Việt Nam trong một phạm vi rộng lớn hơn, bao trùm toàn bộ miền Trung của Việt Nam. Trước đây, trạm radar của Việt Nam ở bán đảo Sơn Trà cho Việt Nam một lợi thế về thông tin và quan sát tại khu vực giữa Biển Đông. Nay với trạm radar của Trung Quốc trên đảo Tri Tôn, lợi thế đó đã chuyển sang Trung Quốc”.

Tiến sĩ Benjamin J. Sacks, nhà nghiên cứu từ Rand Corporation, cho rằng hệ thống SIAR trên đảo Tri Tôn sẽ tạo một “chướng ngại đa miền” đáng kể giữa Việt Nam và quần đảo Hoàng Sa. Ông Benjamin J. Sacks cảnh báo: “Trung Quốc sẽ gia tăng khả năng giám sát đối với tất cả các tàu bè ra vào hoặc hiện diện tại Cảng Đà Nẵng, một cảng nước sâu chiến lược của Việt Nam và các tàu thuyền Việt Nam di chuyển giữa thành phố Hải Phòng ở miền Bắc và Thành phố Hồ Chí Minh ở miền Nam”. Tóm lại, việc Trung Quốc thiết lập hệ thống SIAR trên đảo Tri Tôn đe doạ nghiêm trọng an ninh của Việt Nam mà chính quyền Hà Nội cần tìm cách ứng phó.







































Tóm lại, việc Trung
Quốc thiết lập hệ thống
SIAR trên đảo Tri Tôn đe
doạ nghiêm trọng an ninh của Việt Nam mà chính quyền Hà Nội cần tìm cách ứng
phó.

Giới phân tích nhận định việc xây dựng hệ
thống radar trên đảo Tri Tôn nằm trong kế hoạch lâu dài độc chiếm Biển Đông, trước
đó Trung Quốc đã có nhiều radar trên các thực thể mà họ chiếm đóng ở Biển Đông.
Vào năm 2018, một bài viết của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (IISS) cho biết
Trung Quốc đã tập trung vào việc xây dựng hạ tầng quân sự trên các đảo mới được
bồi đắp trên Biển Đông. Các cơ sở hạ tầng bao gồm đường băng, cảng và công sự.
Trung Quốc cũng tăng cường sức mạnh do thám và tình báo với các mạng lưới radar
có hình dạng và kích cỡ khác nhau. Riêng tại quần đảo Trường Sa vào năm 2018,
đã có hơn 40 cơ sở radar trên 7 điểm đảo khác nhau.
Hệ
thống radar chống tàng hình trên đảo Tri Tôn có cấu trúc hình bát giác, giống
hệ thống SIAR cũng do Trung Quốc xây trên Đá Subi ở quần đảo Trường Sa hồi năm
2017. Một khi được hoàn thành, hệ thống radar trên đảo Tri Tôn sẽ góp mặt để
hình thành một mạng lưới gồm ít nhất 3 hệ thống radar chống tàng hình trên Biển
Đông mà Trung Quốc đã thiết lập trong thập kỷ qua, bao gồm đảo Hải Nam và Đá
Subi ở Trường Sa.Đảo
Tri Tôn là một thực thể thuộc quần đảo Hoàng Sa và nằm gần Việt Nam nhất. Hòn
đảo này chỉ cách đất liền của Việt Nam khoảng 136 hải lý và cách đảo Lý Sơn
(tỉnh Quảng Ngãi) khoảng 121 hải lý. Năm 1974, tranh thủ lúc chính quyền Việt
Nam Cộng hoà gặp khó khăn, Bắc Kinh đã dùng vũ lực gây ra cuộc hải chiến đẫm
máu với quân đội Việt Nam Cộng hoà để cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa và cuộc
cạnh tranh giành quyền tiếp cận vùng biển này đã gia tăng kể từ khi phát hiện
ra trữ lượng dầu khí gần đây. Đảo Tri Tôn được Trung Quốc sử dụng làm điểm cơ
sở để vẽ ra đường cơ sở thẳng xung quanh quần đảo Hoàng Sa để tiếp tục yêu sách
những vùng biển xung quanh.Trong
những năm qua, Trung Quốc đã xây dựng nhiều công trình quân sự trên quần đảo
Hoàng Sa, bao gồm các sân bay và cầu cảng lớn, biến một số đảo thành căn cứ
quân sự . Hồi tháng 8/2023, các hình ảnh vệ tinh cho thấy dường như Trung Quốc
đã tiến hành xây dựng đường băng trên đảo Tri Tôn. Giới chuyên gia nhận
định đây có thể là đường băng dài hơn 600 mét, đủ cho các máy bay cánh quạt và
drone cất-hạ cánh, không phải dành cho những máy bay chiến đấu hoặc máy bay ném
bom.Hình
ảnh vệ tinh còn tiết lộ các dự án xây dựng khác trên đảo Tri Tôn gồm: một tòa
tháp đang hoàn thiện một nửa cũng nằm gần radar SIAR trên đảo Tri Tôn, nơi có
khả năng là trung tâm điều khiển; một bệ phóng lớn ở cuối mạng lưới đường bộ,
có thể sẽ được sử dụng làm điểm phóng cho một hệ thống tên lửa chống hạm di
động. Tòa nhà ở đầu phía Đông Bắc của con đường có thể là một tòa nhà lưu trữ
các phương tiện vận chuyển tên lửa.Trong
khu vực quần đảo Hoàng Sa đã nhiều lần xảy ra các vụ việc lực lượng hải cảnh và
dân quân biển Trung Quốc đã nhiều lần có các hành động hung hăng gây hấn với
tàu cá, ngư dân Việt Nam như truy đuổi, phun vòi rồng, tấn công, đâm va khiến
một số tàu cá của Việt Nam bị chìm. Mới đây nhất (cuối tháng 9/2024), lực lượng
chấp pháp Trung Quốc đã tấn công đánh đập rã man ngư dân Việt Nam khiến nhiều
người bị thương. Một vụ đụng độ lớn đã xảy ra cách đảo Tri Tôn về phía Tây
khoảng 17 hải lý khi Trung Quốc cho hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng
đặc quyền kinh tế miến Trung Việt Nam. Vụ việc đã gây phẫn nộ đối với người dân
Việt Nam khiến tâm lý “bài Hoa” lên cao,
làm dấy lên một
làn sóng phản đối mạnh mẽ
 của người dân Việt Nam cả ở
trong và ngoài nước.
Nhằm
thách thức các yêu sách phi lý và ngăn chặn hành vi hung hăng của lực lượng
chấp pháp Trung Quốc, trong thập kỷ qua, lực lượng hải quân Mỹ, Anh và
Australia đã tuần tra vùng biển này để duy trì trật tự dựa trên pháp luật ở
Biển Đông. Tháng 1/2016, tàu khu trục trang bị tên lửa dẫn đường của Hải quân
Mỹ USS Curtis Wilbur đã đi vào khu vực 12 hải lý xung quanh đảo Tri Tôn. Lầu
Năm Góc tuyên bố việc di chuyển này là bác bỏ đường cơ sở thẳng của Trung Quốc,
thách thức trước những tuyên bố hạn chế quyền tự do tiếp cận trên Biển Đông của
Bắc Kinh. Bộ Ngoại giao Trung Quốc lúc bấy giờ cáo buộc Mỹ vi phạm luật pháp
Trung Quốc “khi đi vào vùng lãnh hải của Trung Quốc mà không được cho phép
trước”. Ý
đồ của Bắc Kinh khi lắp đặt hệ thống rada SIAR trên đảo Tri Tôn là gì đã được
giới chuyên gia phân tích, trong khuôn khổ bài viết xin nêu một số điểm sau:
Trước hết, mục tiêu lâu dài không thay đổi của Bắc Kinh là khống chế,
kiểm soát tiến tới thống trị Biển Đông. Để thực hiện mục tiêu đó, Bắc Kinh cần
tăng cường các hoạt động do thám để nắm rõ các hoạt động của đối thủ ở Biển
Đông. Đảo Tri Tôn nằm rìa phía Tây của yêu sách “Đường lưỡi bò”. Sau khi hoàn
thành, hệ thống radar trên đảo Tri Tôn sẽ tăng đáng kể khả năng chặn thu tín
hiệu và tác chiến điện tử của Trung Quốc trên khắp quần đảo Hoàng Sa đang có
tranh chấp và bổ sung vào mạng lưới giám sát rộng hơn trải dài trên phần lớn
Biển Đông, nhất là dọc phía Tây của “Đường lưỡi bò”.
Đảo
Hải Nam cách Đá Subi khoảng 1.100 km, còn đảo Tri Tôn nằm ở giữa, cách đảo Hải
Nam chừng 350 km và cách Đá Subi chừng 850 km, tạo thành một tam giác giám sát,
thu thập thông tin tình báo trên biển Đông, trong đó trạm radar trên đảo Tri
Tôn thu thập các thông tin dọc theo phía Tây Biển Đông. Ông J. Michael Dahm,
nhà nghiên cứu cấp cao về hàng không vũ trụ và Trung Quốc tại Viện Mitchell,
phân tích: “Các radar SIAR bị giới hạn tầm nhìn do độ cong của vỏ Trái
Đất. Điều này có nghĩa là có một khoảng trống do thám không phận giữa Đá Subi và
đảo Hải Nam. Hệ thống radar trên đảo Tri Tôn sẽ giúp lấp khoảng trống
này”. Ông Michael Dahm cho rằng mục đích xây dựng radar mới trên đảo Tri
Tôn là cung cấp cho Trung Quốc phạm vi phủ sóng radar chống tàng hình liên tục
trên Biển Đông.
Đánh giá về hệ thống radar mới trên đảo
Tri Tôn, nhà nghiên cứu Gregory B Poling, Giám đốc chương trình Đông Nam Á từ
Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) của Mỹ, nhận định: “Hạ tầng
do thám trên đảo Tri Tôn cũng giống như những gì Trung Quốc đã làm ở Biển Đông
và cho thấy họ đang ngày càng áp đảo về năng lực radar trên tuyến hàng hải này.
Trung Quốc là quốc gia duy nhất có thể giám sát hầu hết những chuyển động trên
biển hoặc trên không ở Biển Đông và có thể đáp trả theo cách mà mình muốn”.
Thứ hai, việc Bắc Kinh xây dựng hệ thống radar SIAR trên đảo Tri Tôn
có thể giúp Trung Quốc giành ưu thế trong hoạt động do thám ở phía Tây Bắc Biển
Đông. Điều này có thể tác động rất lớn tới các đối thủ cạnh tranh trong khu vực
và toàn cầu. Hệ thống radar mới và cơ sở vật chất được Trung Quốc xây dựng trên
đảo Tri Tôn có khả năng sẽ tạo ra thách thức đối với các nước tranh chấp khác
và đối thủ cạnh tranh của Trung Quốc trong cuộc cạnh tranh địa chiến lược ở
Biển Đông.
Việc
phát triển một hệ thống radar chống tàng hình mới và các cấu trúc chặn tín hiệu
bị nghi ngờ khác trên đảo Tri Tôn cho thấy khả năng tình báo của Trung Quốc tại
quần đảo Hoàng Sa đã tăng lên đáng kể. Trung Quốc che dấu mục đích của công
trình xây dựng trên đảo Tri Tôn, nhưng theo Bill Hayton – nghiên cứu viên liên
kết tại Chương trình châu Á-Thái Bình Dương của Chatham House, tham vọng tăng
cường kiểm soát toàn bộ Biển Đông đã thúc đẩy Trung Quốc củng cố cơ sở hạ tầng
trên đảo Tri Tôn. Cơ
sở này cũng có thể cản trở nỗ lực của hải quân Mỹ, Anh và Australia nhằm thách
thức yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc. Theo ông Hayton, các cơ sở mới
trên đảo Tri Tôn có thể là nỗ lực của Trung Quốc khiến các hoạt động như vậy
trở nên khó khăn hơn trong tương lai. Ở cấp độ chiến lược, việc mở rộng mạng
lưới radar chống tàng hình của Bắc Kinh trên khắp Hoàng Sa sẽ góp phần làm xói
mòn ưu thế về công nghệ mà các lực lượng quân sự của Mỹ và đồng minh có được ở
khu vực trong 3 thập kỷ qua.
Tiến sĩ Benjamin J. Sacks, nhà nghiên cứu
từ Rand Corporation,”Hệ thống SIAR có khả năng tích hợp với các hệ thống
điện từ khác để tạo ra một mạng lưới răn đe đa miền linh hoạt. Hệ thống này có
thể cho phép Trung Quốc tạo một hàng rào bao bọc ranh giới yêu sách đường 10 đoạn
trên Biển Đông, một yêu sách rộng lớn điên rồ và thiếu căn cứ, xâm phạm UNCLOS
và các luật quốc tế liên quan.”
Thứ
ba,
việc Trung Quốc xây dựng hệ thống
radar SIAR và các công trình trên đảo Tri Tôn ảnh hưởng trực tiếp tới an ninh
của Việt Nam.
Theo đánh giá của Chatham House, việc Trung Quốc xây dựng
các công trình do thám trên đảo Tri Tôn sẽ làm “giảm đáng kể khả năng hoạt
động bí mật” của Việt Nam trong khu vực. Viện nghiên cứu Chatham House cho
rằng hệ thống radar hiện hữu trên đảo Tri Tôn đã có khả năng theo dõi tàu bè
trên biển. Sắp tới, với hệ thống radar mới, Trung Quốc sẽ có khả năng theo dõi
các di chuyển trên không, phát hiện sớm nhất cử nhất động của Việt Nam trong
khu vực này, bao gồm hoạt động tiếp cận các mỏ dầu khí trong khu vực. Điều này
có thể tạo ra những khó khăn cho Việt Nam triển khai dự án Cá Voi Xanh khai
thác khí trong vùng đặc quyền kinh tế miền Trung.
Ông Bill Hayton, nhà nghiên cứu chương
trình châu Á-Thái Bình Dương của Chatham House, cho rằng việc Trung Quốc tăng
cường hạ tầng trên đảo Tri Tôn cho thấy mưu đồ của Bắc Kinh gia tăng kiểm soát những
nguồn tài nguyên này. Ông Bill Hayton nhận định: “Những diễn biến này có
thể là lời cảnh báo cho thấy Trung Quốc đang lên kế hoạch tiến hành một đợt
thăm dò dầu khí nữa”. Đây là điều mà Hà Nội cần hết sức cảnh giác. Với hệ thống radar mới trên đảo Tri Tôn,
Bắc Kinh không chỉ có thể kiểm soát các hoạt động trong vùng biển miền Trung Việt
Nam mà còn có thể giám sát các hoạt động trên đất liền khu vực miền Trung Việt
Nam. Giáo sư Alexander L Vuving từ Trung tâm nghiên cứu an ninh châu Á-Thái
Bình Dương Daniel K. Inouye thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ đánh giá: “Tác động lớn
nhất sẽ là việc Trung Quốc có khả năng phát hiện các động thái của Việt Nam
trong một phạm vi rộng lớn hơn, bao trùm toàn bộ miền Trung của Việt Nam. Trước
đây, trạm radar của Việt Nam ở bán đảo Sơn Trà cho Việt Nam một lợi thế về
thông tin và quan sát tại khu vực giữa Biển Đông. Nay với trạm radar của Trung
Quốc trên đảo Tri Tôn, lợi thế đó đã chuyển sang Trung Quốc”.Tiến sĩ Benjamin J. Sacks,
nhà nghiên cứu từ Rand Corporation, cho
rằng hệ thống SIAR trên đảo Tri Tôn sẽ tạo một “chướng ngại đa miền”
đáng kể giữa Việt Nam và quần đảo Hoàng Sa. Ông Benjamin J. Sacks cảnh báo:
“Trung Quốc sẽ gia tăng khả năng giám sát đối với tất cả các tàu bè ra vào
hoặc hiện diện tại Cảng Đà Nẵng, một cảng nước sâu chiến lược của Việt Nam và
các tàu thuyền Việt Nam di chuyển giữa thành phố Hải Phòng ở miền Bắc và Thành
phố Hồ Chí Minh ở miền Nam”.

]]>
Nhìn lại quá trình TQ gặm nhấm, thôn tính Hoàng Sa https://biendong.net/2024/03/01/nhin-lai-qua-trinh-tq-gam-nham-thon-tinh-hoang-sa/ Fri, 01 Mar 2024 01:30:00 +0000 https://biendong.net/?p=123708 Cho đến cuối Thế kỷ 19, Trung Quốc vẫn hiểu biết rất ít về quần đảo Hoàng Sa và có thái độ bàng quang, thờ ơ đối với quần đảo này. Điều đó thể hiện qua việc Tổng đốc Lưỡng Quảng (quan chức địa phương của Trung Quốc) trút bỏ trách nhiệm đối với vụ đắm tàu xảy ra tại quần đảo Hoàng Sa năm 1895 – 1896.

Đó là vụ đắm tàu của Đức Bellona và vụ đắm tàu của Nhật Imegi Maru. Hai chiếc tàu vận chuyển đồng này do các công ty Anh bảo hiểm. Hàng hóa trên tàu bị người đánh cá Trung Quốc lấy cắp và gặp phải sự lên án của công ty bảo hiểm. Tuy nhiên, các nhà chức trách Trung Quốc đã cãi lại và trút bỏ mọi trách nhiệm với lý do là quần đảo Hoàng Sa là các đảo đã bị bỏ rơi, không thuộc về Trung Quốc và đồng thời cũng không được sáp nhập vào bất cứ một huyện nào của đảo Hải Nam. Giới chuyên gia kết luận sự thờ ơ nói trên có thể coi như tuyên bố phủ quyết chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa.

Mãi đến đầu thế kỷ 20, Trung Quốc mới quan tâm tới Hoàng Sa và bắt đầu những động thái sơ khai trong yêu sách chủ quyền thể hiện tham vọng thôn tính Biển Đông, trong đó có quần đảo Hoàng Sa. Đầu tiên là chuyến tàu của Đô đốc Lý Chuẩn tới Hoàng Sa năm 1909 với tên gọi “thị sát Tây Sa”. Tại đây, Lý Chuẩn đã thượng cờ và bắn đại bác tuyên bố chủ quyền. Chính điều này cho thấy rằng từ trước đến nay Trung Quốc chưa hề có chủ quyền tại Hoàng Sa. Tuy nhiên, vào thời điểm này quần đảo Hoàng Sa đã thuộc về Việt Nam, các nhà nước phong kiến Việt Nam đã khai phá, thực thi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa từ thế kỷ 16-17 và lúc bấy giờ chính quyền bảo hộ Pháp đang thay mặt nhà nước Việt Nam quản lý và thực thi chủ quyền. Pháp đã thay mặt Việt Nam phản đối các hành động xâm phạm của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và nêu rõ chủ quyền của Hoàng Sa đã được xác lập bởi Việt Nam. Trước yêu sách của Trung Quốc đối với Hoàng Sa, ngày 18/2/1937 lần đầu tiên Pháp có công hàm gửi tới Trung Quốc đề nghị Trung Quốc giải quyết vấn đề bằng Trọng tài quốc tế, nhưng Trung Quốc đã từ chối.

Vào giữa thế kỷ 20, đặc biệt là giai đoạn sau Thế chiến 2, Trung Quốc dưới sự cầm quyền của Quốc Dân đảng đứng đầu là Tưởng Giới Thạch đã nhiều lần lăm le chiếm một số đảo thuộc cụm An Vĩnh. Lợi dụng tình hình rối ren khi Nhật đầu hàng đồng minh, giải giáp quân Nhật theo Hiệp định Postdam 1945 và Pháp dồn sức cho chiến trường Đông Dương, năm 1946, chính quyền Trung Hoa Dân quốc của Tưởng Giới Thạch tiến đã xâm nhập trái phép đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa. Năm 1947, Pháp đã ra tuyên bố phản đối sự xâm nhập này, yêu cầu hai bên tiến hành đàm phán và giải quyết tại cơ quan tài phán quốc tế, nhưng chính quyền Trung Hoa Dân quốc lại một lần nữa từ chối. Chính quyền Tưởng Giới Thạch sau đó đã rút khỏi đảo Phú Lâm.

Đến năm 1956, tranh thủ nhập nhèm giữa lúc Pháp bàn giao lại quần đảo Hoàng Sa cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa, Trung Quốc, lúc này do đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo sau khi đánh đuổi Quốc Dân đảng ra đảo Đài Loan, đã lén lút đổ quân lên đảo Phú Lâm, bắt đầu thực hiện sự chiếm đóng đối với cụm An Vĩnh và Linh Côn.

Bắc Kinh đã từng bước thực hiện việc gặm nhấm quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam trong giai đoạn sau Thế chiến 2 và mưu toan thôn tính hoàn toàn quần đảo này, tuy nhiên trong giai đoạn trước những năm 70, quần đảo Hoàng Sa do Việt Nam Cộng hòa quản lý (theo Hiệp định Geneve 1954 về phân chia lãnh thổ Việt Nam) nằm dưới sự bảo trợ của Mỹ với sự hùng mạnh về quân sự nên Trung Quốc không dám có các hành vi manh động. Sau khi ký Hiệp định Paris tháng 1/1973, quân Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam và từng bước bỏ rơi chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Đến đầu năm 1974, Trung Quốc nhận thấy cơ hội đã chín muồi cho một cuộc tấn công để chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.

Cơ hội đó chính là cái bắt tay giữa Trung Quốc với Mỹ, để nước Mỹ làm ngơ trước các động thái của Bắc Kinh tại biển Đông. Cơ hội đó còn là tình hình chiến sự tại Việt Nam, khi mà Việt Nam Cộng hòa, là chủ sở hữu hợp pháp duy nhất đối với quần đảo Hoàng Sa lúc bấy giờ, đang dần bị Mỹ bỏ rơi và đang gặp nhiều khó khăn trên chiến trường ở trong nước. Trong tình cảnh khá đơn độc, khả năng bảo vệ Hoàng Sa của chính quyền Việt Nam Cộng hòa suy giảm nghiêm trọng, dù họ vẫn sở hữu lực lượng hải quân và không quân có thể nói là khá mạnh.

Ngày 11/1/1974, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố “nhóm đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc mà Việt Nam Cộng hòa chiếm cứ bất hợp pháp”.  Để làm hậu thuẫn cho những lời tuyên bố vô căn cứ, Trung Quốc tung nhiều tàu đánh cá võ trang xâm nhập hải phận Hoàng Sa và đổ quân giả dạng ngư phủ lên các đảo không có lực lượng quân đội Việt Nam Cộng hòa đóng. Đến ngày 17/1/1974, tàu và quân lính Trung Quốc đã lởn vởn nhiều nơi quanh cụm Lưỡi Liềm và phía Việt Nam Cộng Hòa đã điều tàu và quân ra để bảo vệ Hoàng Sa.

Đêm 17 tháng 1 năm 1974Chu Ân Lai nhận báo cáo tình hình Hoàng Sa từ Trường Lý Lực, Cục phó Cục Tác chiến Bộ Tổng tham mưu Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Sau đó Chu Ân Lai cùng với Diệp Kiếm Anh viết báo cáo gửi Mao Trạch Đông đề nghị phái quân ra quần đảo Hoàng Sa. Mao Trạch Đông phê vào bản báo cáo của Chu Ân Lai, Diệp Kiếm Anh: “Đồng ý!” và nói rằng, “trận này không thể không đánh”; “xem ra không đánh một trận thì không bảo vệ được quyền và lợi ích của Trung Quốc trên biển”. Mao Trạch Đông giao cho Diệp Kiếm Anh và Đặng Tiểu Bình trực tiếp chỉ huy trận đánh tại quần đảo Hoàng Sa. Đây là trận đánh đầu tiên của Đặng Tiểu Bình khi mới được phục chức sau 7 năm đi “cải tạo”.

Ngày 18/1/1974, Chu Ân Lai triệu tập cuộc họp Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc để thảo luận về tình hình Hoàng Sa và lập ra ban chuyên trách năm người để đối phó với các diễn biến có thể xảy ra tại Hoàng Sa. Ban chuyên trách gồm: Diệp Kiếm Anh (chủ nhiệm ban chuyên trách), Vương Hồng VănTrương Xuân Kiều, Đặng Tiểu Bình và Trần Tích Liên. Ban chuyên trách nghe Phó Tư lệnh Hải quân Trung Quốc Tô Chấn Hoa báo cáo sau đó quyết định tấn công hạm đội Việt Nam Cộng hòa. Đồng thời, ban chuyên trách công bố bản hướng dẫn nhằm đánh lại các Tuần dương hạm của Việt Nam Cộng hòa. Căn cứ vào bản hướng dẫn này, Hải quân Trung Quốc lập kế hoạch chuẩn bị cho chiến dịch.

Ngày 19/1/1974, chính quyền Bắc Kinh đã đưa quân tấn công lực lượng đồn trú của Việt Nam Cộng hòa trên quần đảo Hoàng Sa, gây ra cuộc hải chiến Hoàng Sa đẫm máu, kiến 74 binh sĩ (sau này tìm ra danh tính một binh sĩ nữa tổng cộng là 75) Việt Nam Cộng hòa hy sinh. Trong khi chiến sự đang diễn ra tại Hoàng Sa, Diệp Kiếm Anh, Đặng Tiểu Bình và Tô Chấn Hoa báo cáo lên Mao Trạch Đông đề nghị cho phép quân đội Trung Quốc chiếm tất cả các đảo do Việt Nam Cộng hòa kiểm soát. Mao đã chấp thuận đề nghị này. Khi hải chiến Hoàng Sa kết thúc, sau khi nghe báo cáo, Đặng Tiểu Bình đã chỉ thị cho Quân khu Quảng Châu tiếp tục đánh chiếm các đảo Hoàng Sa, Hữu Nhật và Quang Ảnh.

Nhằm lên án hành động Bắc Kinh sử dụng vũ lực xâm chiếm Hoàng Sa, ngày 14/2/1974, chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã ra Tuyên cáo vạch trần hành vi vi phạm Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế của Trung Quốc. Tuyên cáo nhấn mạnh: “Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là những phần bất phân của lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa. Chính phủ và nhân dân Việt Nam Cộng hòa không bao giờ chịu khuất phục trước bạo lực mà từ bỏ tất cả hay một phần chủ quyền của mình trên những quần đảo này”. Từ cuộc hải chiến Hoàng Sa, có thể rút ra 2 điều sau:

Thứ nhất, Bắc Kinh đánh chiếm Hoàng Sa giữa lúc tình hình quốc tế, khu vực có những diễn biến phức tạp, Washington nhận thấy sự thất bại của chính quyền Việt Nam Cộng hòa trước quân đội Bắc Việt là không thể tránh khỏi hơn thế nữa lúc bầy giờ Trung Quốc và Mỹ có lợi ích song trùng trong việc chống lại Liên Xô nên Lầu Năm Góc đã nhắm mắt làm ngơ để Bắc Kinh đánh chiếm Hoàng Sa phục vụ yêu cầu chiến lược đó.

Theo các chuyên gia quân sự, quần đảo Hoàng Sa nằm khá gần các căn cứ hải quân và không quân Mỹ tại Philippines, việc Trung Quốc phái quân ra Hoàng Sa chắc chắn là không thoát khỏi sự phát hiện và theo dõi của Hải quân Mỹ. Tuy nhiên, việc các lãnh đạo Trung Quốc quyết định phái tàu ra Hoàng Sa mà không lo ngại sẽ dẫn tới xung đột với Mỹ, chứng tỏ rằng lãnh đạo cấp cao Mỹ – Trung Quốc đã ngầm có sự tán đồng với nhau trong việc Trung Quốc sẽ chiếm đánh Hoàng Sa, rằng khi nào Trung Quốc điều tàu thì hải quân Mỹ sẽ làm ngơ, coi như không biết chuyện đó. Cho tới năm 1974, Mỹ biết rằng họ sẽ thất bại ở Việt Nam nên đã ngầm “bật đèn xanh” cho Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa nhằm mượn tay Trung Quốc ngăn cản hạm đội Liên Xô hoạt động ở vùng Biển Đông.

Giới phân tích nhận định mâu thuẫn giữa Moscow và Bắc Kinh lên tới đỉnh điểm qua cuộc đụng độ biên giới năm 1969. Trung Quốc bắt đầu thực hiện sáng kiến đối ngoại mới bằng cách thúc đẩy quan hệ với Mỹ, cao trào là chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Richard Nixon tháng 2/1972, đưa Trung Quốc trở thành “đồng minh giai đoạn” của Mỹ để kìm chân và chống lại Liên Xô. Mỹ không muốn vụ Hoàng Sa ảnh hưởng tới mục tiêu chiến lược của mình là kéo Trung Quốc kiềm chế Liên Xô. Ngoài ra, Mỹ được cho là có một “toan tính” sâu xa hơn khi không can dự vào trận Hải chiến 1974 vì khi đó, Việt Nam và Trung Quốc đều đi theo con đường Xã hội chủ nghĩa. Việc Washington “làm ngơ” cho Bắc Kinh ngang nhiên chiếm Hoàng Sa sẽ tạo thù địch giữa Hà Nội và Bắc Kinh, dẫn đến chia rẽ giữa các nước cộng sản.

Trên vùng biển Đông ngoài khơi Việt Nam gần với đảo Hải Nam, Trung Quốc và quần đảo Hoàng Sa vào thời điểm đó có mặt Hải đoàn 77 (Task Force 77) của Hải quân Mỹ gồm hàng không mẫu hạm và các chiến hạm yểm trợ đủ khả năng hỗ trợ Hải quân Việt Nam Công hòa chống lại Bắc Kinh trong cuộc hải chiến Hoàng Sa. Tuy nhiên, Mỹ đã hoàn toàn đứng ngoài cuộc. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã nhiều lần thông báo tình hình trận Hoàng Sa với Đại sứ quan Mỹ nhưng Washington không hề có động thái hỗ trợ gì.

Nhiều tài liệu mật của Bộ Ngoại Mỹ giải mã trong thời gian qua đã chứng minh cho việc Washington ngầm “bật đèn xanh” cho Bắc Kinh đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974. Theo đó, từ năm 1970, Đô đốc Tham mưu trưởng Hải quân Mỹ Elmo Zumwalt tuyên bố tại Guam rằng Hoàng Sa và Trường Sa không nằm trong chiến lược phát triển các hải đảo của Hạm đội 7. Sau trận hải chiến Hoàng Sa, Đô đốc Thomas H. Moorer, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ, từng báo cáo với Ngoại trưởng Mỹ lúc bấy giờ là ông Henry Kissinger rằng: “Toàn vùng đó là cả vấn đề. Trường Sa, Hoàng Sa và các đảo khác có cùng vấn đề – đó là vùng lãnh thổ đang tranh chấp. Chúng tôi đã ra lệnh tránh khỏi vùng đó”. Ngày 23/1/1974, trong cuộc gặp với ông Hàn Tự, quyền trưởng phái đoàn liên lạc của Trung Quốc tại Washington, Ngoại trưởng Kissinger nói: “Mỹ không có lập trường trong việc ủng hộ tuyên bố chủ quyền của Nam Việt Nam tại các đảo này”.

Các chuyên gia quân sự nhận định không quân của Việt Nam Cộng hòa với thực lực F-5 lúc bấy giờ có thể giúp Việt Nam Cộng hòa giành lại được Hoàng Sa từ tay Trung Quốc sau cuộc hải chiến hôm 19/1, song chính quyền Tổng thống Thiệu đã không ra lệnh cho chiến đấu cơ xuất kích để oanh tạc tàu chiến Trung Quốc. Nhiều tài liệu quốc tế cho rằng chính Mỹ đã gây áp lực để chính quyền ông Thiệu không ra lệnh xuất kích vì không muốn đụng chạm đến Trung Quốc, lo ngại điều này sẽ làm ảnh hưởng đến kế hoạch rút quân của Mỹ, ảnh hưởng đến việc cải thiện quan hệ Mỹ-Trung.

Thứ hai, Trung Quốc đã dùng tàu cá và dân quân biển đội lốt tàu cá làm mồi nhử, khiêu khích để đối Hải quần Việt Nam Cộng hòa nổ súng trước và Trung Quốc lấy cớ để tấn công vũ lực gây ra trận hải chiến Hoàng Sa đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Lấy cớ đó, Bắc Kinh ngang nhiên tuyên truyền rằng cuộc tấn công vào khu vực quần đảo Hoàng Sa năm 1974 chỉ mang tính “tự vệ”, tuy nhiên giới quan sát quốc tế chỉ rõ, tuyên truyền của Bắc Kinh là bịa đặt trắng trợn về bản chất cuộc hải chiến.

Chiến thuật dùng tàu cá và dân quân biển để thúc đẩy các yêu sách về lãnh thổ này tiếp tục được Bắc Kinh sử dụng đến tận ngày nay. Trong vụ việc chiếm Bãi cạn Scarborough của Philippines năm 2012, Bắc Kinh cũng dùng chiêu bài này. Trung Quốc cho tàu cá và tàu dân quân biển giả danh tàu cá khiêu khích để Philippines điều tàu chiến đến bảo vệ ngư dân thì Bắc Kinh điều ngay tàu chiến đến để khống chế toàn bộ Bãi cạn này. Trong mấy năm trở lại đây Trung Quốc có lúc đã cho hàng trăm tàu cá và tàu dân quân biển tụ tập ở khu vực Đá Ba Đầu thuộc quần đảo Trường Sa, gây căng thẳng ở Biển Đông.

Thời gian gần đây, giới chuyên gia nhận định trong mục tiêu độc chiếm Biển Đông, Bắc Kinh đề ra chiến lược 3 bước gồm: 1. Kiểm soát (1970-2010); 2. Làm chủ (2011-2025) và 3. Độc chiếm (2026-2050). Cuộc hải chiến Hoàng Sa 1974 đánh dấu một trong những bước đầu tiên trong chiến lược ba bước của Trung Quốc đối với Biển Đông. Ngay sau khi trận hải chiến Hoàng Sa kết thúc, Đặng Tiều Bình (thành viên Ban chuyên trách đánh Hoàng Sa) đã nói “Sân bay Tây Sa (tức Hoàng Sa) sau này nhất định phải xây, chỗ đó vị trí quan trọng, có thể vươn tới Nam Sa (tức Trường Sa, đồng thời khống chế Nam Sa (Trường Sa)”. Phát biểu của Đặng Tiểu Bình thể hiện rõ tham vọng bành trướng ở Biển Đông của Bắc Kinh.

Như vậy, trận hải chiến Hoàng Sa là một bước ngoặt trong chiến lược bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông. Hiện Trung Quốc đang dùng mọi thủ đoạn để triển khai bước 2, trong đó tiến hành bồi đắp mở rộng các thực thể ở quần đảo Hoàng Sa và những thực thể Trung Quốc chiếm đóng ở quần đảo Trường Sa; quân sự hóa Biển Đông thông qua việc biến những thực thể này thành các đồn điền quân sự của chúng; đồng thời, Bắc Kinh đẩy mạnh chiến thuật “vùng xám” hòng từng bước làm chủ Biển Đông.

Sau khi đánh chiếm Hoàng Sa, Trung Quốc đã tiếp tục có nhiều hành động vi phạm luật pháp quốc tế để khẳng định chỗ đứng của mình như tự ý vạch đường cơ sở thẳng xung quanh quần đảo Hoàng Sa; quân sự hóa quần đảo Hoàng Sa; truy đuổi ngư dân Việt Nam ra khỏi khu vực quần đảo Hoàng Sa…. Trước những hành vi hung hăng của Trung Quốc, chính quyền Washington nhận thức rõ những sai lầm khi đã làm ngơ để Trung Quốc chiếm đóng Hoàng Sa. Thời gian gần đây, Hải quân Mỹ nhiều lần tiến hành tự do hàng hải (FONOP) ở khu vực Hoàng Sa và tuyên bố rõ ràng rằng mục tiêu của Hải quân Mỹ là bác bỏ các yêu sách phi lý của Trung Quốc bảo vệ luật pháp quốc tế. Tóm lại, Trung Quốc đã có ý đồ thôn tính Hoàng Sa từ đầu Thế kỷ 20, quá trình thực hiện âm mưu này được đánh dấu bằng cuộc tấn công vũ lực đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974 và tiếp tục được triển khai trong năm 50 năm qua. Đã có sự “đi đêm” giữa Bắc Kinh và Washington để Trung Quốc tấn công vũ lực quần đảo Hoàng Sa. Tuy nhiên, hành động sử dụng vũ lực của Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa như Người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định hôm 20/1/2024 “là hoàn toàn đi ngược lại các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế, không thể tạo ra danh nghĩa chủ quyền cũng như không làm thay đổi sự thật chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam”.

]]>
Quần đảo Hoàng Sa nhìn lại 50 năm đã qua https://biendong.net/2024/01/19/quan-dao-hoang-sa-nhin-lai-50-nam-da-qua/ Fri, 19 Jan 2024 04:13:34 +0000 https://biendong.net/?p=120874 Ngày 19/1/2024 là tròn 50 năm Trung Quốc sử dụng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa.

Tháng 1/1974, lợi dụng tình thế quân đội Việt Nam Cộng hòa đang phải tập trung đối phó với quân đội Bắc Việt và bị Mỹ bỏ rơi, Trung Quốc đã tập trung lực lượng hải quân để phát động cuộc tấn công vũ lực chống lại hải quân của quân đội Việt Nam Cộng hòa và đỉnh điểm là cuộc hải chiến đẫm máu ngày 19/1/1974 để chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa, khiến 64 sĩ quan và binh sĩ Hải quân Việt Nam Cộng hòa hy sinh. Như vậy, kể từ năm 1974 Trung Quốc đã chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.

Trong suốt 50 năm qua, Trung Quốc đã nỗ lực củng cố sự hiện diện phi pháp tại quần đảo Hoàng Sa. Sau khi đánh chiếm Hoàng Sa, ngay trong năm 1974 Trung Quốc ban hành “Quy tắc kỹ thuật kiểm tra theo luật định tàu biển trong các chuyến đi nội địa”, trong đó thành lập “Vùng hàng hải Hải Nam – Tây Sa” (tên Trung Quốc gọi quần đảo Hoàng Sa); năm 2020 Trung Quốc tiến hành sửa đổi bản quy tắc này, trong đó gọi vùng biển giữa Hải Nam và Hoàng Sa là “vùng ven biển” thay cho cụm từ “vùng biển ngoài khơi” nhằm biến vùng biển này thành nội thủy của Trung Quốc với 28 điểm cơ sở bao quanh quần đảo Hoàng Sa. Tháng 7/2012, Trung Quốc thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa”, đặt trụ sở trên đảo Phú Lâm với mưu đồ nhằm thâu tóm cả các đảo ở Biển Đông.

Trong những năm qua, Trung Quốc đã tiến hành bồi đắp mở rộng các thực thể ở Hoàng Sa, xây dựng các căn cứ quân sự với sân bay, đường băng cho máy bay chiến đấu và cầu cảng lớn cho tàu chiến các loại có thể neo đậu. Bắc Kinh đã triển khai máy bay chiến đấu, UAV tàng hình, bố trí tên lửa và các trang thiết bị quân sự trên các thực thể thuộc quần đảo Hoàng Sa, biến nơi đây thành các tiền đồn quân sự trên Biển Đông. Trung Quốc còn liên tục tiến hành diễn tập quân sự bắn đạn thật tại khu vực quần đảo Hoàng Sa.

Ngoài ra, Trung Quốc đã triển khai các tour du lịch ra quần đào Hoàng Sa, xây dựng siêu thị, các nhà hàng trên các thực thể ở Hoàng Sa, tập trung ở Phú Lâm nhằm dân sự hóa các hoạt động ở Hoàng Sa với mục tiêu hợp pháp hóa sự chiếm đóng bất hợp pháp của họ ở Hoàng Sa. Mặt khác, các lực lượng chức năng của Trung Quốc thường xuyên ngăn cản, uy hiếp tàu cá và ngư dân Việt Nam đánh bắt cá tại ngư trường truyền thống Hoàng Sa; tàu hải cảnh, tàu dân quân nhiều lần truy đuổi, đâm va, phun vòi rồng, thậm chí đâm chìm tàu cá của ngư dân Việt Nam tại khu vực Hoàng Sa này.

 Tuy nhiên, tất cả những nỗ lực kể trên của Trung Quốc đều là vô nghĩa bởi các hoạt động này đều là bất hợp pháp. Bắc Kinh sẽ không bao giờ có thể xác lập được chủ quyền đối với Hoàng Sa vì những lý do sau:

Thứ nhất, chủ quyền của một quốc gia đối với một vùng lãnh thổ (dù là các đảo hay quần đảo) phải được thực hiện theo các nguyên tắc pháp lý về thụ đắc lãnh thổ. Theo đó, việc xác lập chủ quyền đối với một vùng lãnh thổ phải đảm bảo các tiêu chí chính sau: (i) Việc xác lập chủ quyền lãnh thổ phải do Nhà nước tiến hành; (ii) Sự chiếm hữu phải được tiến hành một cách hòa bình trên một vùng lãnh thổ vô chủ (res nullius) hoặc là trên một vùng lãnh thổ đã bị từ bỏ bởi một quốc gia đã làm chủ nó trước đó (res derelictae). Việc sử dụng vũ lực để xâm chiếm lãnh thổ là hành động phi pháp; (iii) Quốc gia chiếm hữu phải thực thi chủ quyền của mình ở những mức độ cần thiết, tối thiểu thích hợp với các điều kiện tự nhiên và dân cư trên vùng lãnh thổ đó; (iv) Việc thực thi chủ quyền phải liên tục, hòa bình.

Chiểu theo những tiêu chí nói trên thì việc chiếm đóng của Trung Quốc ở Hoàng Sa là hoàn toàn bất hợp pháp. Trước hết, Trung Quốc đã chiếm đóng Hoàng Sa bằng vũ lực khi tấn công các tàu của Hải quân Việt Nam Cộng hòa vi phạm nghiêm trọng Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Nghị quyết của Đại Hội đồng Liên hợp quốc ngày 24/10/1970 ghi rõ, lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một sự chiếm đóng quân sự, kết quả của việc sử dụng vũ lực trái với các điều khoản của Hiến chương Liên hợp quốc. 

Cần phải nhấn mạnh rằng cho đến thời điểm Trung Quốc sử dụng vũ lực ở Hoàng Sa, Việt Nam Cộng hòa đang quản lý và thực thi chủ quyền hợp pháp ở Hoàng Sa theo Hiệp định Geneve năm 1954 (theo đó, Việt Nam Cộng hòa quản lý tất cả các vùng đất từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam tức là bao gồm quần đảo Hoàng Sa).

Trung Quốc đưa ra lập luận nước này phát hiện ra quần đảo Hoàng Sa bằng việc năm 1909 đô đốc Lý Chuẩn đã dẫn đầu 2 chiến hạm Phục Ba và Sâm Hạm cùng 170 quan binh đến “thu phục Tây Sa (tức quần đảo Hoàng Sa)”. Cần phải nhấn mạnh rằng khi đô đốc Lý Chuẩn cùng 2 chiến hạm tới Hoàng Sa thì lúc đó quần đảo này không phải còn là vô chủ bởi ít nhất từ thế kỷ 16-17, các nhà nước phong kiến Việt Nam đã xác lập và thực thi chủ quyền đối với Hoàng Sa. Hiện Việt Nam còn lưu giữ rất nhiều Châu bản của triều đình nhà Nguyễn chứng minh triều đình đã cử các đội tàu với tên gọi “Hải đội Hoàng Sa” ra quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa khảo sát, tiến hành đo đạc vẽ bản đồ, khai thác hải sản, cứu vớt tàu thuyền nước ngoài bị mắc cạn ở Hoàng Sa. Năm 1816, vua Gia Long sai quân lính ra quần đảo Hoàng Sa để cắm cờ, khẳng định chủ quyền. Như vậy, trước khi Lý Chuẩn tới Hoàng Sa thì nhà nước phong kiến Việt Nam đã quản lý thực thi chủ quyền ở quần đảo này từ 200 đến 300 năm trước đó.

Dưới thời Pháp thuộc, chính quyền bảo hộ Pháp đã thay mặt Việt Nam tiếp tục thực thi chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa. Hiện tại các trung tâm lưu trữ tại Pháp và Việt Nam còn lưu giữ nhiều văn bản của chính quyền bảo hộ Pháp về việc này. Đến năm 1956, Pháp rút khỏi Việt Nam chuyển giao quyền quản lý quần đảo Hoàng Sa cho Chính quyền Bảo Đại và sau này là chính quyền Việt Nam Cộng hòa theo các điều khoản của Hiệp định Geneve năm 1954.

Như vậy, theo nguyên tắc pháp lý về thụ đắc lãnh thủ thì các nhà nước Việt Nam từ thời phong kiến (thế kỷ 16-17) đã xác lập, thực thi chủ quyền và quản lý hợp pháp quần đảo Hoàng Sa một cách hòa bình, liên tục. Trung Quốc sử dụng vũ lực để đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa là hoàn toàn bất hợp pháp.

Thứ hai, trong 50 năm qua, bất chấp việc Trung Quốc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa, chính quyền Việt Nam luôn lên tiếng phản đối các hoạt động bất hợp pháp của Trung Quốc ở quần đảo này, do vậy mà danh nghĩa chủ quyền đã được xác lập đối với quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam không hề mất đi.

Từ sau khi Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa đến ngày 30/4/1975 Việt Nam hoàn toàn thống nhất, chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã ra nhiều tuyên bố phản đối hành động của Trung Quốc như: ngay trong ngày 19/1/1974 ra “Tuyên cáo của Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa về những hành động gây hấn của Trung Quốc trong khu vực đảo Hoàng Sa”; ngày 14/2/1974  ra “Tuyên cáo của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa về chủ quyền của Việt Nam Cộng hòa trên những đảo ở ngoài khơi bờ biển Việt Nam Cộng hòa”; năm 1974, Tổng cục Chiến tranh Chính trị, Cục Tâm lý chiến, Quân lực Việt Nam Cộng hòa xuất bản Tài liệu “Thế giới lên án Trung Cộng xâm lăng Hoàng Sa của Việt Nam Cộng hòa”; năm 1975, Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa ra “Sách trắng về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.

Việt Nam Cộng hòa cũng tổ chức nhiều cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa, phản đối hành động của Trung Quốc trước Liên hợp quốc; đề nghị các quốc gia đồng minh đưa vấn đề Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa ra Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. 

Ngày 20/1/1974, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cũng nhiều lần lên tiếng phản đối Trung Quốc, trong đó có việc ngày 20/1/1974 ra Tuyên bố phản đối hành động xâm lược Hoàng Sa của Trung Quốc. Sau ngày tiếp quản miền Nam (30/4/1975), Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã nhiều lần tuyên bố khẳng định Hoàng Sa là của Việt Nam. Vào ngày 5/6/1976, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Cộng hòa miền Nam Việt Nam lên tiếng khẳng định hai quần đảo này là thuộc chủ quyền Việt Nam, từ trước đến nay đều do người Việt Nam quản lý.

Chính quyền của nước Việt Nam thống nhất được thành lập trên cơ sở hợp nhất chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc và Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã tiếp tục khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và phản đối việc Trung Quốc xâm lược, chiếm đóng bất hợp pháp quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam; nhất mạnh bất cứ hoạt động nào của Trung Quốc ở khu vực quần đảo Hoàng Sa đều là bất hợp pháp và vô giá trị.

Ngoài ra, không chỉ có Việt Nam trong những năm gần đây, cộng đồng quốc tế cũng lên tiếng phản đối các hoạt động bất hợp pháp của Trung Quốc ở Hoàng Sa, nhất là việc Bắc Kinh bồi đắp mở rộng các thực thể và quân sự hóa Hoàng Sa. Mỹ đi đầu trong việc triển khai các chiến dịch tự do hàng hải (FONOP) ở Hoàng Sa với việc cho các các tàu chiến Mỹ đã nhiều lần đi cắt ngang qua quần đào Hoàng Sa nhằm phá bỏ “đường cơ sở thẳng” mà Trung Quốc ngang nhiên vạch ra ở quần đảo này, bảo vệ trật tự dựa trên pháp luật ở khu vực Hoàng Sa nói riêng và Biển Đông nói chung.

Tóm lại, dù hiện nay, Trung Quốc đang kiểm soát quần đảo Hoàng Sa, nhưng theo luật pháp quốc tế, việc dùng vũ lực để chiếm đóng, kiểm soát một vùng lãnh thổ đang thuộc chủ quyền của nước khác là không thể chấp nhận được. Trung Quốc không có cơ sở pháp lý để đòi hỏi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa. Trong suốt 50 năm qua, các nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ không ngừng phản đối việc chiếm đóng và các hành động Trung Quốc triển khai ở Hoàng Sa, điều này khiến danh nghĩa về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa không hề bị suy yếu đi mà sẽ trường tồn theo thời gian. Chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa vẫn được duy trì và không bị thay thế bởi sự chiếm đóng bằng vũ lực của Trung Quốc.

]]>
Công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa vẫn diễn ra hàng ngày, hàng giờ https://biendong.net/2024/01/19/cong-cuoc-dau-tranh-bao-ve-chu-quyen-cua-viet-nam-tren-quan-dao-hoang-sa-van-dien-ra-hang-ngay-hang-gio/ Fri, 19 Jan 2024 03:20:00 +0000 https://biendong.net/?p=120881 Hoàng Sa là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam trên Biển Đông. Đây là một sự thật không thể chối cãi. Việt Nam là quốc gia đầu tiên đã xác lập chủ quyền và là quốc gia duy nhất quản lý quần đảo này liên tục, hòa bình, và phù hợp với luật pháp quốc tế.

Về mặt lịch sử, sự thực thi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa đã được các nhà nước Việt Nam tiến hành một cách xuyên suốt ít nhất từ thế kỷ XV đến nay: từ nhà nước phong kiến Việt Nam, nhà nước thuộc địa Pháp ở Đông Dương, các nhà nước ở miền Nam Việt Nam trong thời đất nước bị tạm thời chia cắt (Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa), và nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Hoàng Sa từ Việt Nam Cộng hòa và chiếm đóng quần đảo này từ đó đến nay. Thời gian qua, một số người lo ngại rằng nếu Việt Nam không kiện ra tòa án quốc tế về vấn đề này thì 50 năm kể từ ngày toàn bộ Hoàng Sa bị chiếm đóng (tức là sau ngày 19 tháng 1 năm 2024), Việt Nam sẽ vĩnh viễn mất phần lãnh thổ này về tay Trung Quốc. Bài viết này phân tích, theo quy định của luật pháp quốc tế, việc Trung Quốc dùng vũ lực để đánh chiếm bất hợp pháp Hoàng Sa năm 1974 mãi mãi không làm thay đổi chủ quyền hợp pháp của Việt Nam trên quần đảo này và nhà nước Việt Nam vẫn đang liên tục có các động thái rõ ràng và kiên quyết để khẳng định và bảo vệ chủ quyền của mình tại đây.

Hành vi đánh chiếm bất hợp pháp Hoàng Sa không thể làm suy chuyển chủ quyền Việt Nam trên quần đảo này 

Luật pháp quốc tế nghiêm cấm việc một quốc gia sử dụng vũ lực để xâm chiếm lãnh thổ của một quốc gia khác. Điều 2 Hiến chương của Liên hợp quốc, một trong những văn kiện pháp lý toàn cầu quan trọng nhất, quy định “trong quan hệ quốc tế, các Thành viên không đe dọa sử dụng hay sử dụng vũ lực chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ hay độc lập chính trị của các quốc gia khác, hoặc theo cách thức khác trái với các Mục đích của Liên hợp quốc.” Trên thực tế, nghĩa vụ cấm sử dụng vũ lực và đe sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế đã trở thành một nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, mang tính bắt buộc đối với tất cả các quốc gia trên thế giới. Theo đó, việc Trung Quốc sử dụng vũ lực để đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam là một hành vi phi pháp, vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế.

Sử dụng vũ lực để xâm chiếm lãnh thổ quốc gia khác không đem lại chủ quyền hợp pháp cho quốc gia xâm chiếm. Theo Tuyên bố các nguyên tắc của luật pháp quốc tế liên quan đến quan hệ thân thiện và hợp tác giữa quốc gia theo Hiến chương Liên hợp quốc (Nghị quyết 26/25 năm 1970 của Liên Hợp Quốc), thì mọi hành vi thụ đắc lãnh thổ thông qua đe dọa sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực sẽ không được coi là hợp pháp. Tòa án Công lý Quốc tế, trong Ý kiến tư vấn liên quan đến sự kiện Israel xây tường trong các vùng lãnh thổ chiếm đóng của Palestine năm 2004, cũng khẳng định các quốc gia khác không được công nhận tình trạng phi pháp do Israel gây ra cũng như không được giúp đỡ duy trì tình trạng này.

Như vậy, việc Trung Quốc chiếm đóng toàn bộ Hoàng Sa từ năm 1974 (và một phần của quần đảo từ năm 1956 trước đó) không làm mất đi chủ quyền hợp pháp của Việt Nam đối với vùng lãnh thổ này. Bên cạnh đó, sẽ không một quốc gia nào trên thế giới công nhận tình trạng chiếm đóng cũng như các hoạt động phi pháp của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa.

Các quy định của luật pháp quốc tế về xác lập chủ quyền theo thời hiệu

Xác lập chủ quyền theo thời hiệu là phương thức thụ đắc lãnh thổ đối với các vùng đất không phải là vô chủ, đặc biệt là các vùng đất mà trước đó đã thuộc về quốc gia khác. Luật pháp quốc tế cho phép một quốc gia được xác lập chủ quyền đối với một khu vực lãnh thổ thuộc về một quốc gia khác bằng cách chiếm hữu lãnh thổ này một cách công khai, hòa bình, hợp pháp trong một thời gian kéo dài mà không bị phản đối, tranh chấp. Trong vụ tranh chấp đá Pedra Branca giữa Malaysia và Singapore năm 2008, Tòa án Công lý Quốc tế đã công nhận chủ quyền của Singapore đối với hòn đảo này mặc dù trước đó đá Pedra Branca thuộc chủ quyền của Malaysia. Sở dĩ Tòa đưa ra phán quyết như vậy là vì Singapore đã thực hiện các hoạt động chiếm hữu vùng lãnh thổ này trong một thời gian dài mà Malaysia không có bất kỳ hành động phản đối nào.     

Luật pháp quốc tế không quy định cụ thể về thời gian chiếm hữu cần thiết để một quốc gia có thể xác lập được chủ quyền của mình đối với vùng lãnh thổ theo thời hiệu. Thời hạn này có thể là 50 năm (như trong vụ phân định biên giới giữa Guiana thuộc Anh và Venezuela năm 1899, do các bên tự thống nhất với nhau), 73 năm (như trong vụ xác định chủ quyền trên đảo Palmas giữa Mỹ và Hà Lan năm 1928) hay khoảng 130 năm (như trong vụ xác định chủ quyền đối với Đá Trắng đã nói ở trên). Tóm lại, không có một thời hạn nào được quy định trước đối với xác lập chủ quyền theo thời hiệu mà sẽ thời hạn này sẽ thay đổi tùy vào hoàn cảnh cụ thể.

Liên quan đến việc Trung Quốc chiếm đóng Hoàng Sa, ngay từ năm 1974, hành vi dùng vũ lực để đánh chiếm quần đảo này đã là phi pháp nên không thể coi hành vi chiếm hữu ở đây của Trung Quốc là hòa bình và hợp pháp. Bên cạnh đó, Việt Nam vẫn luôn luôn có các động thái kiên quyết và kịp thời để khẳng định chủ quyền của mình và phản đối sự chiếm đóng phi pháp của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa.

 Việt Nam vẫn liên tục có các động thái thực thi, bảo vệ chủ quyền của mình đối với quần đảo Hoàng Sa

Lập trường của chính phủ Việt Nam đối với chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa (và quần đảo Trường Sa) là rất nhất quán; theo đó, Việt Nam là quốc gia đầu tiên đã xác lập chủ quyền và là quốc gia duy nhất quản lý quần đảo này liên tục, hòa bình, và phù hợp với luật pháp quốc tế.

Về mặt nội bộ, Hoàng Sa được đặt dưới sự quản lý của Ủy ban nhân dân huyện đảo Hoàng Sa, trực thuộc thành phố Đà Nẵng với Chủ tịch nhiệm kỳ 2021-2026 là ông Võ Ngọc Đồng, Giám đốc Sở Nội vụ Đà Nẵng. Ngoài việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, chính quyền huyện đảo Hoàng Sa vẫn thường xuyên thực hiện các hoạt động tuyên truyền, thông tin về quần đảo này như quản lý Nhà trưng bày Hoàng Sa, tham gia các diễn đàn và hỗ trợ cung cấp thông tin về lịch sử, pháp lý, thực tế quản lý liên quan đến chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa cho các nhà nghiên cứu, cơ quan thông tấn báo chí và các cơ quan, tổ chức có liên quan.

Về mặt đối ngoại, Bộ Ngoại giao Việt Nam luôn phản đối các hành vi của Trung Quốc cũng như bất cứ quốc gia, bên nào vi phạm chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa. Những phản đối này được thể hiện dưới nhiều hình thức: giao thiệp ngoại giao, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao phát biểu, thậm chí là gửi Công thư lên Liên hợp quốc. Chẳng hạn, ngày 25 tháng 9 năm 2023, trước việc Trung Quốc lắp đặt và đưa vào sử dụng 2 trạm nhận dạng tàu thuyền tự động tại Đá Bắc và Đá Bông Bay thuộc quần đảo Hoàng Sa, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng đã nêu rõ: “Việc Trung Quốc lắp đặt và đưa vào sử dụng hai trạm nhận dạng tàu thuyền tự động tại Đá Bắc và Đá Bông Bay thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam là vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa. Mọi hoạt động trên quần đảo Hoàng Sa mà không được phép của Việt Nam là vi phạm chủ quyền của Việt Nam và hoàn toàn không có giá trị. Việt Nam yêu cầu Trung Quốc tôn trọng đầy đủ chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, không tái diễn những vi phạm tương tự”.

Những thông tin trên cho thấy, chủ quyền hợp pháp của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa sẽ trường tồn cùng thời gian và Nhà nước Việt Nam vẫn luôn khẳng định, thực thi, bảo vệ chủ quyền quốc gia đối với phần lãnh thổ không thể tách rời này.

]]>
Sự kiện TQ đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974, bài học về bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay và tương lai https://biendong.net/2024/01/19/su-kien-tq-danh-chiem-hoang-sa-nam-1974-bai-hoc-ve-bao-ve-chu-quyen-bien-dao-hien-nay-va-tuong-lai/ Fri, 19 Jan 2024 03:17:00 +0000 https://biendong.net/?p=120878 Cách đây đúng 50 năm, ngày 19/1/1974, với dã tâm, tham vọng bành trướng lãnh thổ, giới cầm quyền tại Trung Quốc đã bất chấp luật pháp quốc tế và bỏ qua quan hệ “đồng chí anh em” vốn được xây đắp từ những năm tháng chiến tranh cách mạng của hai nước, trắng trợn dùng lực lượng Hải quân được vũ trang đầy đủ, tiến hành đánh chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

Nửa thế kỷ đã trôi qua, sự kiện “nhức nhối” đối với Việt Nam và đáng hổ thẹn này đối với Trung Quốc vẫn không thể nằm yên. Nhiều chuyên gia học giả, nhà nghiên cứu sẽ vẫn phải tốn nhiều giấy mực để tiếp tục nghiên cứu về sự kiện trên nhiều khía cạnh khác nhau nhằm luận giải, chiêm nghiệm hoặc là soi chiếu vào những gì đang xảy ra hiện nay. Bài viết này sẽ tiếp cận theo hướng tìm hiểu lý do, tại sao Trung Quốc lại hành xử như vậy và đạt được mục tiêu gì vào thời điểm đó, những bài học lịch sử nào cần rút ra từ sự kiện trên để giúp chúng ta đấu tranh, bảo vệ hiệu quả, vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc trong tình hình mới.

Bắc Kinh từ lâu đã có ý đồ thôn tính quần đảo Hoàng Sa, nhưng không có cơ sở pháp lý, buộc phải tính toán, chọn thời cơ thuận lợi nhất để đánh chiếm

Từ năm 1909, chính quyền của triều đại phong kiến Mãn Thanh ở Trung Quốc đã bắt đầu có dã tâm “nhòm ngó” đến một quần thể các đảo đá nhỏ kề cận nhau nổi lên ở góc phía Đông Bắc Biển Đông, phía Nam đảo Hải Nam mà được những người đi biển gọi là Hoàng Sa. Đến thời Quốc Dân Đảng của Tôn Trung Sơn, chính thể này bắt đầu âm thầm đưa quân ra đồn trú trên một số đảo để tạo ra “chuyện đã rồi”, đồng thời phát hành bản đồ “đường mười đoạn” để “đánh dấu” chủ quyền ở Biển Đông, trong đó có Hoàng Sa. Có thể gọi đó là hành động “xâm lăng bằng giấy mực”. Đến thời nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời, giới lãnh đạo chính thể này có mưu toan chiếm đoạt Hoàng Sa trên thực tế nhưng họ không có đủ cơ sở pháp lý nào để hành động, duy nhất chỉ có mỗi cách là “chiếm lấy” bằng vũ lực bởi vào thời điểm đó, Hoàng Sa đã là của Việt Nam, thuộc chủ quyền và quyền quản lý của Việt Nam từ lâu. Tuy nhiên, đánh chiếm được quần đảo này vào lúc nào và giữ được lâu dài thì còn phải phụ thuộc vào thời cơ và thực lực, khả năng hành động. Trong khi chờ đợi các yếu tố trên xuất hiện, Bắc Kinh “chơi bài” gặm nhấm lãnh thổ. Theo đó, năm 1956, Trung Quốc đánh chiếm nhóm đảo An Vĩnh ở phía Đông Hoàng Sa; Đài Loan chiếm đảo Ba Bình, đảo lớn nhất thuộc quần đảo Trường Sa. Năm 1959, một số lính Trung Quốc đóng giả ngư dân bí mật đổ bộ lên các đảo Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Hòa nhằm đánh chiếm nhóm đảo này nhưng bị quân đội Việt Nam Cộng hòa phát hiện và bắt giữ. Từ năm 1970 – 1971, quân đội Trung Quốc đã cho xây dựng các cơ sở hạ tầng quân sự bí mật ở nhóm An Vĩnh này để chiếm đóng.

Thời cơ mà Trung Quốc chờ đợi xuất hiện vào đầu năm 1974. Đó là lúc họ lợi dụng được sự hội tụ của các yếu tố thuận lợi để hành sự và đạt được ý đồ. Đó là:

Thứ nhất, Trung Quốc nghiên cứu và phán đoán chính xác khả năng Mỹ và Liên Xô sẽ không can thiệp nếu họ đánh chiếm Hoàng Sa.

Vào thời điểm đó, quan hệ Mỹ – Xô bước vào thời kỳ hòa dịu sau cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962. Hai nước tăng cường đối thoại và đàm phán giải trừ quân bị, giảm đối đầu, tập trung vào việc giải quyết các khó khăn nội bộ. Về phía Mỹ, do bị thất bại trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam và phải đối phó với các bất ổn chính trị trong nước do vụ bê bối Watergate gây ra, khiến nước này phải giảm can dự vào Đông Dương, từng bước bỏ rơi chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam. Theo đó, tháng 6/1973, Quốc hội Mỹ ban hành đạo luật Case-Church cấm chính phủ tái can thiệp quân sự vào ba nước Đông Dương trừ khi được Quốc hội chấp thuận; Mỹ cắt giảm hỗ trợ quân sự cho chính quyền Sài Gòn từ 1,4 tỷ USD năm 1972 xuống 1 tỷ USD năm 1973 và 700 triệu USD năm 1974. Về phía Liên Xô, nước này cũng đang phải vất vả đối phó với những rạn nứt nghiêm trọng trong nội bộ khối các nước xã hội chủ nghĩa, cũng như sự phân liệt Xô – Trung. Thập kỷ 70 cũng là giai đoạn chứng kiến cái “bắt tay” giữa Mỹ và Trung Quốc nhằm chống lại Liên Xô để từ đó hình thành nên tam giác quan hệ Mỹ – Xô – Trung.

Trên thực tế, sự không can thiệp của Mỹ vào tình hình Việt Nam đã được Trung Quốc bảo đảm bằng cách thỏa thuận trực tiếp trong khuôn khổ chuyến thăm tới Trung Quốc của Tổng thống Mỹ Richard Nixon năm 1972. Nếu không có sự làm ngơ của Mỹ thì Trung Quốc khó có thể tiến hành đánh chiếm Hoàng Sa bởi trước đó, trong suốt thời kỳ 1959 – 1973, xung quanh quần đảo này đều có Hải quân Mỹ hoạt động thường xuyên. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng chủ động xây dựng hình ảnh “sử dụng vũ lực vì mục đích tự vệ” để giảm nguy cơ can thiệp của Mỹ và Liên Xô, đó là ra lệnh cho Hải quân Trung Quốc không được nổ súng trước, đồng thời tiến hành các hoạt động khiêu khích như thả neo tại đảo Hữu Nhật, nhanh chân chiếm giữ và cắm cờ Trung Quốc lên các đảo Duy Mộng, Quang Hòa để khi quân của Việt Nam Cộng hòa đến thì nổ súng cảnh báo, không cho tiếp cận đảo… từ đó buộc quân đội của Việt Nam Cộng hòa phải nổ súng tấn công phía Trung Quốc để giành lại đảo, tạo cơ hội cho Trung Quốc hành sự.  

Thứ hai, tận dụng yếu tố thời tiết giao thời để đánh chiếm Hoàng Sa.

Thông thường, từ tháng 1 đến tháng 3 hàng năm, thời tiết ở Biển Đông rất thuận lợi, ít có mưa bão, nhưng sau đó thì sẽ chuyển sang giai đoạn diễn biến phức tạp. Trung Quốc đã nghiên cứu kỹ yếu tố này nhằm đảm bảo thành công cho việc đánh chiếm, bởi đây là trận đánh xa bờ đầu tiên của Hải quân Trung Quốc với một đối thủ bên ngoài. Từ nghiên cứu đó, quân đội Trung Quốc đã chủ động khiêu khích quân đội Việt Nam Cộng hòa trước vào đầu tháng 1/1974 để tấn công đánh chiếm Hoàng Sa, trước khi các cơn bão Đông Bắc nổi lên với tốc độ gió giật 40 hải lý/giờ, vì nếu xuất quân muộn hơn so với quãng thời gian trên sẽ gặp rất nhiều khó khăn.

Thứ ba, lợi dụng lúc Việt Nam Cộng hòa rơi vào tình thế suy yếu, bị cô lập và đang gặp nhiều bất lợi.

Trước khi đánh chiếm Hoàng Sa, Trung Quốc đã nhìn thấy được tình cảnh bi đát lúc đó của Việt Nam Cộng hòa là bị đồng minh Mỹ bỏ rơi, lại đang bị hạn chế về sức mạnh quân sự. Khi cuộc hải chiến Hoàng Sa diễn ra, mặc cho Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu nhiều lần kêu gọi yểm trợ, nhưng Mỹ đã “khoanh tay ngồi yên”, không có động thái nào hỗ trợ. Hạm đội 7 của Mỹ lúc đó đang ở Philippines đã nhận được lệnh không được có bất kỳ hành động can thiệp nào vào Hoàng Sa. Hải đoàn 77 của Hải quân Mỹ ở ngoài khơi Việt Nam, gần với Hoàng Sa cũng “giả điếc” dù đơn vị này có tàu sân bay và chiến hạm yểm trợ, đủ sức kiểm soát không phận, hải phận và hoạt động của các tàu ngầm trong Vịnh Bắc Bộ. Bản thân Việt Nam Cộng hòa tuy lúc đó vẫn đang chiếm đóng nhóm đảo Lưỡi Liềm ở phía Tây Hoàng Sa, nhưng đã phải rút dần lực lượng đồn trú tại đây để dồn về đất liền. Trang bị quân sự của Hải quân Việt Nam Cộng hòa lúc đó yếu kém, cũ kỹ, thiếu nhiên liệu, gây cản trở cho việc phối hợp giữa các lực lượng khi chiến đấu trên thực địa.

Thứ tư, phía Việt Nam dân chủ Cộng hòa đang giành ưu tiên cao hơn cho mục tiêu thống nhất đất nước.

Sau khi Hiệp định Paris được ký kết (27/1/1973), đất nước Việt Nam vẫn ở trong tình trạng bị chia cắt. Vào thời điểm đó, phía Việt Nam dân chủ Cộng hòa đang dồn sức chuẩn bị cho giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước. Đây là nhiệm vụ cấp bách hơn việc giành quyền kiểm soát thực tế đối với quần đảo Hoàng Sa. Bởi khi đó quần đảo này vẫn đang nằm dưới quyền kiểm soát của Việt Nam Cộng hòa.

Thứ năm, Trung Quốc có lợi thế về khoảng cách địa lý để tiếp cận, đánh chiếm Hoàng Sa.

Do đã chiếm đóng được nhóm đảo An Vĩnh ở phía Đông Hoàng Sa từ trước, nên Trung Quốc có thể dễ dàng lấy An Vĩnh làm điểm tựa để tấn công sang phía Tây Hoàng Sa. Bên cạnh đó, đảo Hải Nam của Trung Quốc cũng gần Hoàng Sa, nhờ đó có thể điều quân tiếp viện đến Hoàng Sa một cách nhanh chóng. Bằng chứng là ngày 16/1/1974, Bộ Tư lệnh Hạm đội Nam Hải của Trung Quốc đã ra lệnh cho hai tàu săn ngầm lớp Kronstadt đóng tại đảo Hải Nam chở lực lượng ra Hoàng Sa để tập trung binh lực. Trong cuộc đấu pháo ở đảo Quang Hòa với quân Việt Nam Cộng hòa, Trung Quốc cũng đã nắm ưu thế áp đảo nhờ lực lượng tăng viện là không quân triển khai từ đảo Hải Nam.

Thứ sáu, bất ổn chính trị nội bộ Trung Quốc gây sức ép buộc Bắc Kinh phải hành động để đẩy áp lực dư luận trong nước ra bên ngoài.

Vào thời điểm đó, cuộc khủng hoảng dầu lửa do các nước Trung Đông phát động năm 1973 đã khiến Trung Quốc gặp khó khăn và phải tìm đến nguồn dầu khí xa bờ, tức là hướng ra biển để khai thác. Từ tháng 12/1973, Trung Quốc đã cho khoan giếng dầu trên đảo Phú Lâm. Ngoài ra, cuộc Cách mạng văn hóa do Mao Trạch Đông phát động đã gây nên những hậu quả nặng nề cho nước này, làm cho các mâu thuẫn trong nội bộ càng thêm trầm trọng. Tình hình trên đòi hỏi Trung Quốc phải tìm được nguồn dầu khí mới đáp ứng cho phát triển và hướng sự chú ý của dư luận trong nước ra bên ngoài thông qua kích động chủ nghĩa dân tộc và tinh thần yêu nước bằng chiến tranh. Họ lấy Hoàng Sa ra để giải quyết bài toán “nhất cử lưỡng tiện”.

Thứ bảy, Đài Loan gián tiếp giúp đỡ Trung Quốc.

Trước khi khởi sự đánh chiếm Hoàng Sa, Trung Quốc đã đạt được thỏa thuận “ngầm” với Đài Loan. Theo đó, Vùng lãnh thổ này đã đồng ý hỗ trợ Trung Quốc trong cuộc chiến, bởi dù đối đầu nhau gay gắt, nhưng Trung Quốc và Đài Loan đều đồng thuận rằng, Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc. Trên thực tế, tàu ngầm của Trung Quốc đã được phép đi qua eo biển Đài Loan, con đường ngắn nhất dẫn đến Hoàng Sa, mặc dù trước đó, Đài Loan luôn phản đối điều này.

Sau khi nhận thấy những cơ hội thuận lợi đã đến, ngày 15/1/1974, chưa đầy một năm sau khi Hiệp định Paris về chiến tranh ở Việt Nam được ký kết, Bắc Kinh đã đổ quân lên các đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa. Bốn ngày sau đó, tức ngày 19/1/1974, Hải quân Trung Quốc tấn công và chiếm toàn bộ các hòn đảo trên quần đảo này mặc dù Hải quân Việt Nam Cộng hòa đã kháng cự quyết liệt, nhưng do “thế cùng lực tận” nên cũng phải rút lui, chấp nhận thất bại.

Trước hành động xâm lược trắng trợn của Trung Quốc, đại diện Việt Nam Cộng hòa tại Liên hợp quốc đã đưa vấn đề ra Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng gửi công hàm ngoại giao đến tất cả các bên ký kết Hiệp định Paris, yêu cầu mở một phiên họp đặc biệt của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc để xem xét hành động của Trung Quốc. Tuy nhiên, Trung Quốc với quyền phủ quyết của mình trong Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã ngăn chặn tất cả những nỗ lực của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Ngày 02/7/1974, đại diện của Việt Nam Cộng hòa đã đưa ra tuyên bố tại Hội nghị của Liên hợp quốc về Luật Biển để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa. Tiếp đó, ngày 14/2/1975, Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa công bố “Sách trắng về Hoàng Sa và Trường Sa”. Mặc cho những sự phản đối liên tiếp này của Việt Nam Cộng hòa, Trung Quốc vẫn chiếm giữ toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và tiếp tục phát triển cơ sở hạ tầng trên đó cho đến nay. 

Bài học lịch sử cần rút ra cho việc đấu tranh, bảo vệ hiệu quả, vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc trong tình hình mới

Đầu tiên, sự kiện Hoàng Sa ngày 19/01/1974 cho thấy, Trung Quốc đã công khai sử dụng vũ lực vào thời điểm khó khăn, phức tạp nhất của Việt Nam để đánh chiếm, đòi hỏi chủ quyền của họ ở đây. Mục đích của hành động này là nhằm biến vùng lãnh thổ hợp pháp của Việt Nam thành “vùng tranh chấp”, từ đó dựa vào sự chiếm đóng và sức mạnh nước lớn để cưỡng đoạt vĩnh viễn hoàn toàn. Năm mươi năm đã trôi qua, tuy Hoàng Sa vẫn nằm dưới sự chiếm đóng của Trung Quốc, nhưng dựa trên những bằng chứng pháp lý, chứng cứ lịch sử mà Việt Nam đưa ra trước thế giới, quần đảo này mãi mãi vẫn thuộc về chủ quyền của Việt Nam, không ai có thể phủ nhận. Nhà nước Việt Nam đã ban hành rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật, qua đó khẳng định Việt Nam có đầy đủ bằng chứng pháp lý, lịch sử về chủ quyền của mình đối với quần đảo Hoàng Sa, là quốc gia duy nhất đã chiếm hữu thật sự và quản lý quần đảo này một cách liên tục, hòa bình, phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế. Đồng thời, chính phủ và các cơ quan chức năng của Việt Nam đã kiên trì không mệt mỏi, nhiều lần phản đối cách hành động trái phép của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa, liên tục giao thiệp với các tổ chức quốc tế, nhất là các tổ chức quan trọng của Liên hợp quốc, các nước trên thế giới để thể hiện lập trường, quan điểm và chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ của các nước, các tổ chức đó; đồng thời, chứng minh rõ hành động “làm chủ” quần đảo Hoàng Sa của Trung Quốc là hành động sử dụng vũ lực để “ăn cướp” và chiếm đóng lãnh thổ của nước khác chứ không phải là hành động “chiếm giữ tự nhiên” nên không thể được luật pháp quốc tế công nhận. Năm mươi năm qua, chúng ta đã làm tốt việc bảo vệ danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa nên đã tạo được sự đoàn kết, thống nhất trong nhân dân trong và ngoài nước. Đây là bài học quý giá, cần tiếp tục làm tốt hơn nữa trong thời gian tới.

Hai là, vấn đề Biển Đông hiện đã trở thành vấn đề quốc tế, có liên quan đến các nước lớn, do đó trong khi quan hệ với các nước lớn để đấu tranh bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông, Việt Nam vẫn cần phải hết sức cảnh giác. Bởi vì hiện nay, hợp tác đan xen cạnh tranh giữa các nước lớn ngày càng quyết liệt và đều xoay quanh trục lợi ích, lấy lợi ích là thước đo cao nhất, khiến quan hệ quốc tế trở nên khó dự báo, tạo ra cơ hội lẫn thách thức đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Chính vì thế, nên khi quan hệ với các nước này phải lấy mục tiêu bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ tức là bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia – dân tộc, làm tiêu chuẩn cao nhất để quyết định mức độ quan hệ hợp tác. Ai ủng hộ và có việc làm phù hợp với mục tiêu này, Việt Nam ủng hộ; ai làm ngược lại, Việt Nam kiên quyết đấu tranh. Tuy nhiên, như trên đã nói, hợp tác và cạnh tranh giữa các nước lớn đều xoay quanh trục lợi ích. Do đó, rất có thể vì lợi ích và để thực hiện tham vọng nước lớn của mình, họ sẵn sàng trao đổi trên lưng Việt Nam để đạt được mục tiêu chiến lược. Sự kiện Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974 là bài học đắt giá về vấn đề này.

Ba là, hiện nay, Hoàng Sa vẫn bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép, trong khi ở Trường Sa, Việt Nam cũng có tranh chấp với một số nước trong khu vực, trong đó có Trung Quốc. Tất cả những nước này đều có quan hệ chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng – an ninh với Việt Nam. Như vậy, trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo ở Biển Đông, Việt Nam có cả đối tượng lẫn đối tác. Phương châm đặt ra là gặp đối tác thì hợp tác, còn khi trở thành đối tượng thì phải đấu tranh. Tuy nhiên, trong đấu tranh với đối tượng không có nghĩa là phân tuyến đối đầu, “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay” với nhau mà cần tranh thủ mọi cơ hội tìm hiểu, tạo lòng tin để đi đến tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau phù hợp luật pháp quốc tế, tìm biện pháp hòa bình để giải quyết các tranh chấp bất đồng và mở rộng hợp tác bình đẳng, cùng có lợi. Lời khuyên kinh điển của các nhà quân sự lỗi lạc rằng, “không đánh mà thắng mới là sự mẫn tiệp và khôn ngoan nhất của người cầm quân”, luôn luôn đúng.

Bốn là, qua sự kiện Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa và thực tế xảy ra trên Biển Đông thời gian qua đã chỉ ra bài học là không được mơ hồ, mất cảnh giác, né tránh, nhân nhượng vô nguyên tắc, không thụ động, không dựa dẫm, không trông chờ ỷ lại; không mắc mưu lôi kéo, kích động, khiêu khích của bất cứ thế lực nào; không chọn bên, không chọn phe nhóm, chỉ chọn theo chân lý, đứng về lẽ phải, dựa trên luật pháp quốc tế vì mục tiêu hòa bình, hợp tác và phát triển.

Năm là, “Phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ” để biết người, biết mình, luôn làm chủ tình thế. Bác Hồ đã chỉ rõ, trong quan hệ với các nước lớn, phải hiểu được các nước lớn, dù là đồng minh hay đối thủ, biết được mối quan tâm và chiến lược cơ bản của họ, hiểu bản chất sự vận hành nội trị và ngoại giao của từng nước lớn, quan hệ hợp tác và đấu tranh giữa các nước lớn cùng những giới hạn của các mối quan hệ đó. Chỉ khi “biết người” như vậy thì mới có thể độc lập, tự chủ trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền nhưng vẫn mềm dẻo linh hoạt trogn xử lý quan hệ với các nước.

Sáu là, Phải xây dựng đất nước ta thật vững mạnh về mọi mặt. Xây dựng và phát huy hơn nữa sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, thực hiện phương châm “vừa hợp tác, vừa đấu tranh” trên tinh thần “thêm bạn, bớxt thù”, tranh thủ tối đa sự đồng thuận, ủng hộ của các bên liên quan cùng các nước trong khu vực và trên thế giới để hạn chế những bất đồng, khắc phục sự khác biệt, triệt để khai thác các nhân tố có lợi từ bên ngoài, tạo thành sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Bác Hồ đã từng nhắc nhở: “Ta có mạnh thì họ mới đếm xỉa đến. Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ trong tay kẻ khác, dẫu kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy”. Những bài học rút ra từ sự kiện Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa cách đây 50 năm không thể bị lãng quên, xếp vào “tủ đá”, mà vẫn phải thường xuyên được “hâm nóng” để các thế hệ người Việt Nam, từ giới lãnh đạo cao nhất đến những người dân bình thường đều thấu hiểu, ghi nhớ. Từ đó có sự chủ động nhạy bén, dự báo chính xác, kịp thời đưa ra các đối sách phù hợp, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo trong mọi hoàn cảnh, không để rơi vào thế bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Làm được như vậy, không chỉ là thể hiện tình cảm, tình yêu Tổ quốc, mà còn là cách để chúng ta tri ân những người con ưu tú của đất nước đã hy sinh anh dũng trong công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo, đồng thời góp phần thực hiện lời căn dặn của Bác Hồ cách đây 63 năm (1961) khi Người về thăm Quân chủng Hải quân: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó”.

]]>
Những phát hiện mới về chủ quyền quần đảo Hoàng Sa https://biendong.net/2022/01/20/nhung-phat-hien-moi-ve-chu-quyen-quan-dao-hoang-sa/ Thu, 20 Jan 2022 03:30:00 +0000 https://biendong.net/?p=73263 Cách đây 48 năm, ngày 19/01/1974, Trung Quốc đã dùng vũ lực tấn công đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa khi đó đang do chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam, Việt Nam quản lý theo Hiệp định Geneve năm 1954.

Trong 48 năm qua, Trung Quốc đã tiến hành bồi đắp, mở rộng các cấu trúc thuộc quần đảo Hoàng Sa; xây dựng những sân bay chiến đấu, cầu cảng cho tàu chiến và bố trí nhiều thiết bị trên các cấu trúc này, biến chúng thành những đồn điền quân sự trên Biển Đông.

Tuy nhiên, theo quy định của luật thụ đắc lãnh thổ việc Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa bằng vũ lực cũng như những hoạt động bất hợp pháp của Bắc Kinh thời gian qua không thể tạo ra chủ quyền hay danh nghĩa chủ quyền của họ đối với quần đảo Hoàng Sa bởi trước đó hàng trăm năm, các nhà nước phong kiến Việt Nam đã xác lập và thực thi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa hàng trăm năm. Các tài liệu lịch sử có giá trị pháp lý đều chứng minh rằng quần đảo Hoàng Sa không thuộc Trung Quốc. Chúng ta cùng nhìn lại một số tài liệu được công bố gần đây để làm sáng tỏ vấn đề này.

Tại Hội thảo Khoa học quốc tế về Biển Đông lần thứ 13 được tổ chức tại Hà Nội tháng 11/2021, từ góc độ lịch sử, các chuyên gia Anh, Pháp, Việt Nam và Trung Quốc đã tranh luận thẳng thắn và thực chất về các sự kiện và bằng chứng lịch sử liên quan đến tranh chấp Biển Đông, cũng như ý nghĩa của các tư liệu lịch sử đối với chủ quyền quần đảo Hoàng Sa.

Một số tài liệu lịch sử mới được công bố qua quá trình nghiên cứu tài liệu lưu trữ cho thấy cho tới năm 1899, triều đình phong kiến Trung Quốc vẫn khẳng định Hoàng Sa không thuộc phạm vi quản lý của nước này. Ghi chép có giá trị chứng minh rất cao của thiền sư nổi tiếng Trung Quốc Xu Shillun được các học giả trao đổi, khẳng định Hoàng Sa thuộc quyền quản lý của triều đình nhà Nguyễn Việt Nam.

Cũng tại Hội thảo, ông Bill Hayton, một nhà nghiên cứu từng là nhà báo, đã cung cấp một tài liệu được sưu tầm tại Cơ quan Lưu trữ quốc gia Anh thể hiện bằng chứng cho thấy cho đến tận cuối thời nhà Thanh, chính quyền nhà nước Trung Quốc vẫn không xem quần đảo Hoàng Sa là một phần lãnh thổ của nước này.

Tài liệu là bản dịch một bức thư năm 1899, trong đó Tổng lý Nha môn của nhà Thanh (tương đương Bộ Ngoại giao) gửi ông Henry Bax-Ironside thuộc Cơ quan đại diện Anh ở Bắc Kinh, thông báo rằng chính quyền Trung Quốc không thể nhận trách nhiệm đối với việc cướp phá hàng hóa của một chiếc tàu xảy ra vào cuối những năm 1890 tại khu vực quần đảo Hoàng Sa.

Bức thư đề cập tới sự kiện được gọi là “Vụ tàu chở đồng Bellona” – một vụ việc liên quan tới tàu Bellona của Đức bị đắm ở khu vực quần đảo Hoàng Sa một vài năm trước đó và khối lượng đồng hàng hóa mà con tàu này vận chuyển đã bị các ngư dân Trung Quốc đánh cắp. Theo bức thư này, Chính quyền nhà Thanh Trung Quốc “từ chối bồi thường” cho khối lượng mặt hàng đồng đã được Anh quốc bảo hiểm bởi vì quần đảo này là thuộc “biển cả” và không thuộc lãnh thổ của Trung Quốc.

Bức thư gốc viết bằng tiếng Trung vẫn chưa được tìm thấy và có nhiều khả năng là nó đã bị thất lạc hoặc bị tiêu hủy. Vì vậy, cho đến nay, bản dịch này được coi là tài liệu bán chính thức bởi đây chính là bản sao đầu tiên và cùng thời với tài liệu bản gốc của Trung Quốc (tiếng Trung).

Trong quá trình tìm kiếm ở các trung tâm lưu trữ, ông Bill Hayton còn tìm thấy một bản phiên âm một bức thư khác của Tổng đốc Lưỡng Quảng gửi tới ông Byron Brenan, lãnh sự Anh quốc tại Quảng Châu vào ngày 14/4/1898 về cùng vụ việc. Tổng đốc Đàm Chung Lân viết rằng chính quyền Trung Quốc không thể bảo vệ các con tàu đắm bởi chúng ở tận nơi “biển xanh sâu thẳm” và vì vậy, Trung Quốc không thể chấp thuận các yêu cầu bồi thường.

Vụ tàu chở đồng Bellona cũng được nhắc tới trong một bức thư của Toàn quyền Đông Dương gửi tới Bộ trưởng phụ trách thuộc địa của Pháp vào năm 1930. Trong bức thư, Phó vương Quảng Đông được trích lời nói rằng quần đảo Hoàng Sa là “những đảo hoang” và “không thuộc về Trung Quốc hay Việt Nam” và “không cơ quan đặc biệt nào chịu trách nhiệm kiểm soát các đảo này”.

Phát hiện của ông Bill Hayton đã thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu về Biển Đông, khơi dậy cuộc tranh luận lâu nay xung quanh các tư liệu lịch sử về chủ quyền Hoàng Sa. Ông Stein Tonnesson – nhà sử học Na Uy đồng thời là nhà nghiên cứu Biển Đông nói rằng bức thư “có thể giúp khẳng định các nguồn tin khác cho rằng nhà Thanh khi đó không xem Hoàng Sa là lãnh thổ của Trung Quốc”.

Bức thư mà ông Bill Hayton phát hiện ra trùng khớp với các bản đồ do Trung Quốc phát hành cho đến đầu thế kỷ 20, trong đó lãnh thổ Trung Quốc kết thúc ở đảo Hải Nam. Đây là những bằng chứng khẳng định nhà nước Trung Quốc cho đến đời Thanh không quản lý hay thực thi chủ quyền đối với các quần đảo ở Biển Đông, bao gồm quần đảo Hoàng Sa.

Ông Nguyễn Nhã, một nhà sử học nổi tiếng của Việt Nam, người đã có nhiều năm nghiên cứu các văn bản chính thức của nhà nước phong kiến Việt Nam liên quan đến Hoàng Sa nhìn nhận rằng bức thư mới được ông Bill Hayton phát hiện là văn bản có giá trị khẳng định chủ quyền Hoàng Sa không phải của Trung Quốc. Mặt khác, ông Nguyễn Nhã khẳng định các Châu bản triều Nguyễn (văn bản chính thức của nhà nước phong kiến Việt Nam) đã khẳng định nhà nước Việt Nam đã thực thi chủ quyền trên quần đào Hoàng Sa ít nhất từ thế kỷ 17.

Theo đó, các Châu bản triều Nguyễn có bút phê của nhà vua đã đề cập đến nhiều khía cạnh liên quan đến các hoạt động của đội Hoàng Sa đi thực thi chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa. Các Châu bản này hiện đang được lưu giữ tại Trung tâm lưu trữ quốc gia tại Việt Nam. Điều này cho thấy nhà nước phong kiến Việt Nam đã xác lập và thực thi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa một cách liên tục, hòa bình thông qua các hoạt động của nhà nước với sự chỉ đạo trực tiếp của nhà vua.

Chẳng hạn như Châu bản ngày 27 tháng 6 năm Minh Mệnh thứ 11 (tức năm 1830) có nội dung dâng trình cứu nạn tàu nước ngoài bị nạn ở quần đảo Hoàng Sa, nội dung đó như sau:

“Thần Nguyễn Văn Ngữ chức Thủ ngự cửa biển Đà Nẵng chắp tay dập đầu trăm lạy kính cẩn tâu việc: Ngày 27 tháng này tiếp nhận được viên Tài phó người nước Pháp và 11 viên Phái viên, thủy thủ lái, lái thuyền cùng đi trên một chiếc thuyền ván nhỏ vào đậu tại bản tấn mà viên Tài phó thưa rằng nguyên thuyền (tức của họ) ngày 20 tháng này rời cảng này ra biển, đến giờ Tuất ngày 21 tháng này mới đến được các xứ sở Hoàng Sa, thì bị sóng cát, thuyền đắm, nước xô vào, viên thuyền trưởng Đô – ô – chi – ly cùng bọn phái viên đem 2 hòm bạc công cùng 15 viên thủy thủ, lái thuyền xuống chiếc thuyền đó đi sau, hiện nay chưa thấy về, vả lại nước ngọt trên chiếc thuyền đó đã hết.

Thần lập tức điều động và sức cho thuyền tuần tiễu ở tấn mang nước ngọt ra biển tìm kiếm bọn Phái viên, bảo vệ và đưa họ về tấn, còn bọn Tài phó cho ở lại tấn. Thần xin soạn tập tâu đầy đủ, kính cẩn tâu trình. Thần khôn xiết run sợ. Kính tâu.”

Có thể khẳng định một điều là trong khi chính quyền triều đại nhà Thanh Trung Quốc vào năm 1898 từ chối nghĩa vụ và trách nhiệm đối với các vụ việc xảy ra ở Hoàng Sa thì Châu bản đã cho thấy hơn 60 năm trước đó, chính quyền triều đình nhà Nguyễn Việt Nam đã rất quan tâm tới công tác cứu hộ, cứu nạn trên biển, bao gồm các tàu nước ngoài bị nạn ở Hoàng Sa. Ngoài ra, hiện còn rất nhiều Châu bản triều đình nhà Nguyễn đang còn được lưu giữ tại các trung tâm lưu trữ Việt Nam viết về các hoạt động của Đội Hoàng Sa do triều đình nhà Nguyễn cử ra thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa từ thế kỷ 17.

Nội dung các Châu bản cho thấy nhà Nguyễn không chỉ chú trọng đến công tác quản lý, khai thác các sản vật ở Hoàng Sa mà còn quan tâm tới việc thực hiện công tác cứu hộ cứu nạn trên biển đối với các tàu tuyền nước ngoài qua lại vùng biển quần đảo Hoàng Sa. Tiếp nối các hoạt động của triều đình nhà Nguyễn, sau khi đô hộ Đông Dương, chính quyền bảo hộ Pháp đã thay mặt nhà nước Việt Nam tiến hành các hoạt động khai thác, quản lý và thực thi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa. Nhiều tư liệu liên quan đến các hoạt động của chính quyền bảo hộ Pháp đối với Hoàng Sa vẫn đang được lưu giữ tại các trung tâm lưu trữ của Pháp và Việt Nam.

Đề cập tới những tư liệu lịch sử mới phát hiện cùng với việc nhắc lại một số tư liệu và sự kiện liên quan đến quần đảo Hoàng Sa vào những ngày tháng 1 này để khẳng định lại một điều rằng chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa chưa bao giờ thuộc về Trung Quốc. Việc chính quyền Bắc Kinh dùng vũ lực đánh chiếm Hoàng Sa và tiến hành nhiều hoạt động ở quần đảo này trong những năm qua là bất hợp pháp, trái với các quy định của luật pháp quốc tế, bao gồm Hiến chương Liên hợp quốc và các nguyên tắc về thụ đắc lãnh thổ.

]]>
Từ đảo Hải Nam đến quần đảo Hoàng Sa https://biendong.net/2021/12/17/tu-dao-hai-nam-den-quan-dao-hoang-sa-2/ Fri, 17 Dec 2021 08:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=70799 Vào đầu thế kỉ XX, báo chí quốc ngữ của nước ta còn đang phôi thai nhưng đã có những tờ lên tiếng về “chủ quyền Hoàng Sa của ta” rất quyết liệt. Dù chữ Quốc ngữ cũng như kỹ năng báo chí thời ấy còn hết sức mới mẻ, song tấm lòng yêu nước đầy trách nhiệm của những người làm báo đã giúp cung cấp những bài báo khẳng định chủ quyền đáng trân trọng. Rõ ràng ngay từ đầu thế kỷ XX, khi Trung Quốc và một thế lực Nhật đang lên đã “dòm ngó” thì không chỉ chính quyền thuộc địa mà báo chí nước ta đã quan tâm đến Hoàng Sa – Trường Sa. Đáng chú ý là gần như đại đa số đều khẳng định “Hoàng Sa là của Việt Nam” và chính quyền cần củng cố lực lượng để phòng thủ cho vùng đất ngoài khơi của mình. Tạp chí Phương Đông đăng tải lại một bài viết dài kỳ từ số 1432 đến số 1435 trên báo Sài Gòn tháng 7/1938 của tác giả Hoàng Văn Tiếp về chủ đề này. Tôn trọng tính lịch sử của ngôn ngữ, chúng tôi giữ lại nguyên văn bài viết mặc dù văn phong và chính tả không còn phù hợp với thời điểm hiện tại.

Bản đồ Quần đảo Hoàng Sa trên báo chí Pháp năm 1938.

“Tôi hoàn toàn hợp ý với ngày mà công nhận quyền lợi mà nước Pháp được hưởng, nếu nước Pháp nhơn danh nước Nam mà đòi chủ quyền những đảo Paracels”

Câu ấy là của quan cố Toàn quyền Pasquier đã viết trong bức thơ gởi cho quan thuộc địa Tổng trưởng Paul Reynaud ngày 20/3/1930 đặng phúc đáp thư của Tổng trưởng hỏi về những đảo Paracels.

Rồi thì…

1930 – 1938. Tám năm sau, nước Pháp mới chịu canh giữ những đảo ấy, như tin các vô tuyến điện đã truyền ra khắp thế giới ngày 4 tháng 7 vừa rồi.

Sự quan hệ của nó

Tuy trên trường ngoại giao, nước Pháp cần tuyên bố rằng sự chiếm cứ đảo Hoàng Sa – tức là đảo Paracels[1] – chỉ có mục đích để trông coi những đèn biển dựng ở đó, nhưng ai cũng phải thừa nhận rằng đảo Hoàng Sa có quan hệ mật thiết đến sự mất, còn của xứ Đông Dương.

Cũng như đảo Hải Nam, có là một nơi phòng thủ quan trọng của xứ nầy.

Cũng như đảo Hải Nam, nếu đảo Hoàng Sa bị Nhựt lấy, thì sự an ninh của Đông Dương, của Hương Cảng, của Phi Luật Tân sẽ khó mà giữ vững được.

Tuy là nhóm cù lao nhỏ những nó nhờ địa thế của nó mà dựng một phần trọng yếu về chiến lược, nếu xảy ra một cuộc chiến tranh ở Thái Bình Dương.

Cách tỉnh Quảng Ngãi (Trung Kỳ) 260 cây số và cách đảo Hải Nam 276 cây, đảo Hoàng Sa có thể thành một chỗ để coi chừng Vịnh Bắc Kỳ và kiểm soát những tàu chiến ở Hương Cảng, ở Saigon, ở Bangkok (Xiêm) ở Batavia, qua lại.

Riêng về địa thế, chúng ta có thể nói rằng nó quan hệ đến sự mất còn của xứ Đông Dương như bóng với người.

Tám năm trước

Hồi năm 1930, Bộ Thuộc địa do ông Paul Reynaud chủ trương đã để ý đến đảo ấy.

Nhưng ông Briaud làm Tổng trưởng Bộ Ngoại giao, ông già đã lập ra điều ước Briaud-Kellog, không muốn nước Pháp can thiệp vào đảo Hoàng Sa, e sẽ gây ra sự phản đối của Nhựt hay của Tàu.

Ông Pierre Pasquier hồi đó làm Toàn quyền Đông Dương, tuy công nhận sự quan hệ của đảo Hoàng Sa như lời trong thơ của ông mà tôi trích dịch trên kia, song ông theo chánh sách tùy thời: ông cho rằng chưa nên đả động đến nó vội.

Vì hồi đó, Đông Dương đang điều đình ký điều ước với Tàu về sự xuất cảng gạo sang Tàu, nên quan Toàn quyền Pasquier chưa muốn đem vấn đề quần đảo Hoàng Sa ra trước tấm khảm xanh của trường giao tế Trung – Việt.

Khi đó một nhà báo độc lập, ông Cucherousset, chủ nhiệm kiêm chủ bút Tạp chí Eveil Economique, hết sức công kích Chánh phủ Đông Dương về sự hững hờ với đảo Hoàng Sa. Tiếc thay, người ta không cho ý kiến ông là phải. Người ta lại… khám nhà và khép ông vào tội tàng trữ những tài liệu của Chánh phủ (vì ông Cucherosset biết được nhiều điều bí mật hồi đó).

Thế rồi ngày tháng qua. Thời gian – nó là ông quan Tòa công bình nhưng bao giờ cũng tuyên án trễ quá – Thời gian đã đem phần thắng lợi cho nhà viết báo Cucherousset, đã công nhận ông ta nói có lý.

Vì ngày nay nước Pháp đã thấy rõ sự quan hệ của đảo Hoàng Sa và đã cho binh lính đến canh giữ.

Bộ hải quân Pháp đối với đảo Hoàng Sa

Nếu quan Thuộc địa Tổng trưởng Paul Reynaud hồi năm 1930 còn hờ hững với đảo Hoàng Sa, thì trong nghị trường và ngoài dư luận Pháp quốc, còn nhiều người khác chú ý đến nó. Ông thượng nghị viên Albert Sarrant và ông thân sĩ Nam Kỳ Ernest Outrey đã can thiệp vào vấn đề ấy ở hai Nghị viện.

Ông Bergeon, phó chủ tịch ủy ban hải quân, viết một bài kịch liệt trong tạp chí “Capital” ra ngày 17-9-1031. Sau ông lại viết một bài nữa cũng về vấn đề đảo Hoàng Sa trong trong báo “Petit Var”[2].

Tôi xin trích một đoạn sau đây:

“Đảo Hoàng Sa vẫn là những đảo vô thừa nhận trước năm 1816. Đến năm ấy, Hoàng đế Gia Long chiếm cứ lấy và đem ngọn cờ Nam Kỳ ra cắm ở đảo ấy. Sự chiếm cứ ấy có những tài liệu còn giữ trong tàng thư của Chánh phủ Nam triều, chứng thực”.

“Hiện giờ[3] nước Nam không có sự liên lạc với quần đảo Hoàng Sa. Năm 1909 khi nước Pháp đòi quyền lợi ở Trung Hoa, đáng lẽ ra nên đòi cả chủ quyền của nước bảo hộ của mình về những đảo nói trên đây”.

“Trong những trường hợp hiện giờ, người ta có thể không biết đến sự quan trọng về chiến lược của đảo Hoàng Sa. Nếu trong cuộc chiến tranh mà một cường quốc nào chiếm lấy, thì thật là một điều nguy hại lớn cho quyền lãnh thổ của Đông Dương”.

“Những đảo Hoàng Sa nối tiếp với đảo Hải Nam, đối với một nước cứu địch bất ngờ, sẽ là một nơi căn cứ hải quân rất mạnh…”.

“Nếu có một đoàn tàu ngầm đóng ở đảo ấy, nó sẽ có thể phá tan cửa biển Tourane ở Trung Kỳ và ngăn cản hết đường thủy”.

“Sự liên lạc Nam Kỳ với Bắc Kỳ lúc đó chỉ còn trông ở đường xe lửa là đường có thể bị tàn phá vì nó ở gần ngay bờ biển, làm cho nó có thể bị các tàu chiến của bên địch ở xa chĩa súng vào mà bắn”.

“Vả lại, sự giao dịch của Đông Dương với các nước trên Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương sẽ bị ngưng lại, bởi hải quân của bên địch đóng ở đảo Hoàng Sa”.

Đó là một đoạn trong bài báo của ông Phó Chủ tịch Ủy ban Hải quân Pháp.

Vậy quần đảo Hoàng Sa là nơi trọng yếu lắm. Sau khi Pháp cho binh lính lên canh giữ, Nhựt phản đối. Nhựt nhận là của mình. Tàu cũng phản đối, nhận là của Tàu.

Vậy những đảo Hoàng Sa của ai?

Của Nhựt? Của Pháp? Hay của Tàu?

Với những tài liệu của lịch sử, tôi sẽ trả lời câu ấy trong những đoạn sau. Trong bài trước tôi đã đăng bản đồ của xứ Đông Dương vẽ từ năm Minh Mạng thứ 14, trích trong Hoàng Việt địa dư, để cho độc giả thấy rằng trong bản đồ hồi đó đã có ghi đảo Hoàng Sa cũng thuộc quyền sở hữu của Đông Dương rồi.

Lúc nước Pháp cho quân lính lên canh giữ đảo Hoàng Sa (Paracels) thì hãng Đồng minh thông tín của Nhựt bữa 4 tháng 7 đăng tin rằng M. Sueji Harata, một nhà kỹ nghệ ở nước Nhựt xin Chánh phủ Đông Kinh phản đối, lấy cớ rằng ông ta đã tìm ra những đảo ấy (Xem tin vô tuyến điện của “Saigon” số trước).

Đại sứ Tàu là Cô Duy Quân cũng phản kháng Bộ Ngoại giao Pháp ở Paris. Và theo báo “Le Journal” thì không chừng vụ “Hoàng Sa” phải đem ra Tòa án quốc tế La Haye phân xử.

Muốn tìm xem quyền sở hữu quần đảo ấy thuộc về ai, chúng ta hãy đi tìm ánh sáng của lịch sử.

Nguồn gốc chữ “Paracels”

Giở cuốn từ điển “Larousse pour tous” chúng tôi thấy rẵng chữ “Paracels” là danh từ chung (nom commun). Nghĩa nó là: “Một dãy cù lao nhỏ, những chỏm đá cách xa nhau bởi những đường mà tàu chiến qua lại được”. (Riêng nghĩa chữ “Paracels” cũng đủ cho ta thấy sự quan trọng của nó về quân sự rồi.)

Thoạt kỳ thủy nó là một danh từ chung nhưng vì thông dụng rồi, nên ngày nay nó lại thành một danh từ riêng (nom propre).

Nhà thông thái Krempf, Giám đốc Viện Hải học ở Nha Trang, đã tìm ra rằng chữ “Paracels” có liên lạc với tên một nhà bác học thụy sĩ: Von Hohenheim Paracelse, sống vào hồi thế kỷ 16 (1493-1541). Ông Kempf nói rằng có lẽ một nhà thủy Âu châu hồi thế kỷ XVI đã đi qua đảo ấy và cho nó cái tên “Paracels” để kỷ niệm nhà bác học Paracelse mà anh ta mến phục.

Ngày nay trong bản đồ Đông Dương của nhà truyền giáo Van Langren, về năm 1595 (nửa thế kỷ sau khi nhà bác học Paracelse qua đời), người ta cũng thấy những đảo ở gần bờ biển Trung Kỳ (tức đảo Hoàng Sa) với cái tên: Hes de Pracel. Và bờ biển ở đó kêu là Costa de Pracel.

Trong bản địa đồ của Mercator về năm 1613, tác giả cũng cho những quần đảo ấy cái tên “Pracel” và bờ biển gần đó cái tên “Costa de Pracel”.

Trong cuốn “Le Siam ancien” của Fournereau, người ta lại thấy một bản đồ Đông Dương của một người Bồ Đào Nha vô danh vẽ từ năm 1580 và cũng lấy tên “Côte de Pracel” mà kêu miền duyên hải gần đảo Hoàng Sa.

Trong bản đồ của Danville vẽ năm 1755 cũng lại thấy tên “Pracel” nữa.

Vậy có thể nói rằng đảo Paracels trước kia tên là Pracel.

Paracels trong lịch sử

Trong bộ Hoàng Việt địa dư về đời Minh Mạng năm thứ 14, có bản đồ về Đông Dương với dãy quần đảo “Hoàng Sa” ở chỗ những đảo “Paracels” bây giờ.

Vậy hồi đó, triều đình nước Nam khi vẽ bản đồ ấy đã cả quyết rằng đảo “Paracels” thuộc về quyền sở hữu của xứ Đông Dương rồi.

Và nhà viết địa dư hồi ấy lấy cái tên tốt đẹp Hoàng Sa (cát vàng) mà gọi dãy quần đảo ấy.

Năm 1927, viên lãnh sự Nhựt ở Hà Nội cũng không để ý gì tới đảo Hoàng Sa và coi nó như là thuộc quyền của nước Nam. Nguyên năm ấy, ông viết thơ hỏi Chánh phủ Đông Dương và muốn định liệu minh bạch về quyền hạn và luật lệ thi hành trên những đảo nhỏ ở biển Trung Hoa: riêng có đảo Hoàng Sa, thì lãnh sự Nhựt không đả động hỏi tới.

Vậy mà ngày nay một nhà kỹ nghệ Nhựt đứng ra nói rằng mình đã tìm ra đảo Paracels thì thật là vô lý.

Một mớ sử liệu

Trong cuốn “Géographie de la Cochinchine” của ông Chaigneau, có đoạn sau đây:

“Xứ Nam Kỳ gồm có…. (tên những tỉnh) và quần đảo Paracels là những cù lao nhỏ, những chỏm đá, những hốc đá, không có người ở. Mãi đến năm 1816, Hoàng đế mới chiếm cứ quần đảo ấy”.

Vì lâu năm rồi nên bổn thảo cuốn “Địa dư Nam kỳ” của Chaigenau khó mà kiếm được. Song Tạp chí “Bulletin des Amis du Vienx Huế” tháng Bốn – Sáu năm 1923 đã đem cuốn sách của Chaigneau ra mà bình phẩm và trích đoạn trên kia.

Cuốn thứ 5 của bộ “Đại Nam Nhứt Thống Chí” ấn hành hồi triều Tự Đức cũng nói về đảo Hoàng Sa như sau đây:

“Những cù lao Hoàng Sa gồm có tới 130 chỏm đá, cách xa nhau phải đi nghe chừng một ngày mới tới. Ở giữa những đảo ấy, có một dải cát dài có tới vạn lý, nên người ta thường gọi là “Vạn lý trường sa”…

“Những thổ sản ở đó rất nhiều: hải sâm, đồi mồi…”.

“Hồi nhà Nguyễn mới lên cầm quyền, có một nhóm 70 người ở làng Vĩnh An lập thành hội “Hoàng Sa”. Mỗi năm vào tháng ba, họ đi ghe tới quần đảo Hoàng Sa đánh cá và tháng tám đem về.

“Đến thời Minh Mạng, triều đình thường cho tàu thủy ra những cù lao nầy đặng thám hiểm đường biển…”.

“Đến năm thứ 16 triều Minh Mạng, Vua cho tàu chở gạch và đá ra đó để dựng một ngôi chùa; ở phía bên trái chùa nầy có làm một cái bia đá kỷ niệm”.

Thêm vào sử liệu của bộ “Đại Nam nhứt thống chí” còn tàng trữ tại trường Bác Cổ Viễn Đông ở Hà Nội, bữa trước chúng tôi đã đăng bản đồ “Đại Nam nhứt thống toàn đồ” từ năm 14 đời Minh Mạng, trích trong bộ Hoàng Việt địa dư”. Bản đồ ấy gồm cả đảo Hoàng Sa trong phạm vi của nước “Đại Nam”.

Vậy quần đảo Hoàng Sa của ai?

Nhựt đã không có quyền gì ở đó, mà Tàu lại đã “từ” quần đảo “Hoàng Sa” không muốn nhận nó là của Tàu nữa. Đó là điều mà tôi sẽ nói trong bài sau.

Trung Hoa với đảo Hoàng Sa

Nước tàu đối với quần đảo Hoàng Sa đã không có dấu tích quan hệ gì mà Tàu lại còn có dịp công bố không chịu nhận đảo ấu thuộc về mình.

Nguyên là có hai chiếc tàu chở đồng cho mấy công ty Anh bị đắm ở gần quần đảo Hoàng Sa: chiếc tàu “Le Bellona” của Đức, đắm năm 1895 và tàu “Imeze Maru” của Nhựt đắm năm 1893.

Sau đó, bọn giặc biển Tàu cướp những đồng trong hai chiếc tàu đặng đem bán. Chánh phủ Anh phản đối với Chánh phủ Tàu về việc cướp bóc ấy.

Nhà đương cuộc Tàu không chịu trách nhiệm và tuyên bố rằng quần đảo Hoàng Sa (Paracels) không ăn nhập gì đến đảo Hải Nam hết.

Vậy vào cuối thế kỷ XIX, Chánh phủ Tàu đã công khai không chịu nhận đảo Hoàng Sa rồi.

Mãi đến tháng Năm năm 1909, mới có hai chiếc tàu ở Quảng Đông đi thám hiểm quần đảo Hoàng Sa, nhưng là một cuộc thám hiểm do một nhóm tư nhân tổ chức. Hai chiếc tàu ấy, tàu Fon-Po và tàu Tchen Mang, bữa 6 tháng 6 đến một cù lao trong quần đảo Hoàng Sa, thăm vài nơi khác, rồi 4 giờ chiều nữa 7 tháng 6 lại trở về Quảng Châu.

Đông Dương vẫn kiểm soát Hoàng Sa

Sau cuộc thám hiểm trên đây, quần đảo Hoàng Sa sống 1 quãng đời êm tịnh, không lịch sử, không tiếng tăm…

Ngoài làn sóng rạt rào, có chăng chỉ có những tàu của sở Thương chánh Đông Dương thỉnh thoảng thăm quần đảo Hoàng Sa để khám xem có bọn nào dùng nơi đó làm chỗ chứa đồ lậu, hoặc khí giới chăng?

Đã có lần, quan tư chiếc tàu “Espadon” của nhà Đoan bắt chiếc tàu “Akibobo Maru” của Nhựt chở đầy “phốt phát” (phosphate) lấy ở cù lao Boisée (một cù lao của quần đảo Hoàng Sa).

Xét hồi thì chiếc tàu Nhựt nói rằng công ty “Mitsui Bussan Kaisha” ở Nhựt trước khi khai khẩn những mỏ “phốt phát” ở quần đảo Hoàng Sa, năm 1920 đã xin phép trước với bộ Hàng hải Đông Dương và quan tư Hải quân Sài Gòn đã cho phép họ, vì ổng thấy không có quan hệ gì đến quân sự Đông Dương.

Xem như vậy thì đủ thấy rằng nước Nhựt hồi năm 1920 đã chịu nhận chủ quyền của xứ Đông Dương trên quần đảo Hoàng Sa.

Thổ sản của quần đảo Hoàng Sa

Ngoài sự quan hệ của quần đảo Hoàng Sa về mặt quân sự, đảo nầy còn là một nguồn lợi quan trọng về kinh tế nữa.

Viện Hải học Đông Dương năm 1926 phái chiếc tàu “De Lanessan” ra quần đảo ấy để nghiên cứu về thổ sản của nó.

Bác sĩ A. Krampf là Giám đốc viện ấy đã làm một bản tường thuật rõ ràng về thổ sản của đảo Hoàng Sa.

Đại ý, ông nói rằng thổ sản chánh ở đó là “phốt phát”.

Người Nhựt đã đến khai khẩn mỏ “phốt phát” ở đảo Roberts, và năm 1926 bỏ dở, rồi khai khẩn đến đảo Boisée (Hai đảo cùng thuộc về nhóm cù lao Hoàng Sa).

Trong cù lao Boisée, người Nhựt đã đặt một đường sắt và những toa xe nhỏ đặng chuyên chở “phốt phát”. Họ lại còn xây một cái bến dài 300 thước nữa.

Trong công việc khai khẩn ở cù lao Boisée, người Nhựt dùng nhơn công tàu do một viên đốc công Phi Luật Tân cai quản.

Và theo lời bác sĩ Krampf kết luận, nếu một ngày kia, công ty Nhựt lấy hết “phốt phát” thì trong đảo không còn gì nữa. Những rừng cây cối bị họ tàn phá hết đặng khai mỏ, nên sau khi họ đi, lâm sản cũng không còn gì.

Còn về hải sản thì người ta nói rằng quần đảo Hoàng Sa có những trai có ngọc. Những năm 1909, hồi hai chiếc tàu của Trung Hoa đến thám hiểm, họ có đem một mớ trai về, nhưng khi mở ra thì không có ngọc như lời đồn.

Ngoài ra Hoàng Sa còn có san hô, đồi mồi và những dân đánh cá thường đến đây bắt rùa.

Lời kết luận của quan ba Lapicque

Muốn kết luận bài nầy, chúng tôi xin trích lời của quan ba P.A. Lapicque, là người đã để ý quan sát về quần đảo Hoàng Sa từ lâu năm rồi. Ông Lapicque nói:

“Sự khai khẩn những thổ sản của quần đảo Paracels, không hy vọng có nhiều lời. Sự khai khẩn phốt phát đến nay mới làm thì trễ quá, còn sự đánh cá bằng tàu lớn thì không được, vì đáy biển có nhiều tảng đá. Chỉ còn cách đánh cá bằng ghe, nhưng nó chỉ đủ nuôi sống người đánh cá mà thôi”.

“Vậy xứ Đông Dương có nên buông bỏ khoảng đất ấy không? Không nên”.

“Quần đảo Paracels đối với Đông Dương rất quan trọng”.

“Những chỏm đá của nó làm cho tàu bè đi lại rất nguy hiểm: mỗi khi một chiếc tàu nào bị đắm thì sở “Merchant Service Guild” ở Hương Cảng lại yêu cầu Chánh phủ Anh phải dựng ít ra hai cái đèn pha ở quần đảo Paracels, đặng soi sáng cho tàu bè qua lại”.

“Chánh phủ Đông Dương phải lãnh lấy cái trách nhiệm mà làm cái công việc ích chung ấy. Chúng ta không nên để cho người khác làm, thay thế cho ta”.

“Ngày này với vô tuyến điện, ta có thể để ý đến các trận bão, những việc dự tính lập đường thủ phi cơ và tìm kiếm những tàu ngầm, vì vậy quần đảo Paracels đối với Đông Dương quan trọng lắm.”

T.P

]]>