Tổng thống Ferdinand Marcos Jr – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Mon, 31 Jul 2023 02:41:54 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 “Hướng dẫn bảo vệ Philippines ở Biển Đông” – Điểm nhấn trong chuyến thăm Mỹ của Tổng thống Marcos https://biendong.net/2023/05/05/huong-dan-bao-ve-philippines-o-bien-dong-diem-nhan-trong-chuyen-tham-my-cua-tong-thong-marcos/ Fri, 05 May 2023 02:37:20 +0000 https://biendong.net/?p=109876 Ngày 3/5/2023, Lầu Năm Góc công bố “Hướng dẫn phòng thủ song phương” Mỹ-Philippines (được một số chuyên gia gọi là “Hướng dẫn bảo vệ Phlippines ở Biển Đông”) sau khi Bộ trưởng Quốc phòng Lloyd Austin có cuộc gặp với Tổng thống Ferdinand Marcos, Jr. tại Washington nhân chuyến công du đầu tiên của một nhà lãnh đạo Philippines sau 10 năm.

Bản “Hướng dẫn phòng thủ song phương” dài 6 trang đã được hai bên nhất trí ở Washington ngày 3/5 sau nỗ lực thúc đẩy của Tổng thống Marcos nhằm cập nhật Hiệp ước phòng thủ chung giữa Philippines với Mỹ, vào thời điểm ngày càng nhiều có căng thẳng và đối đầu trên biển với Trung Quốc. Đây là lần đầu tiên hai nước có các hướng dẫn rõ ràng kể từ khi hiệp ước được ký kết vào năm 1951 và ra đời sau khi Philippines đưa ra hàng loạt các phản đối ngoại giao trong năm qua về các hành động và mối đe dọa “hung hãn” của Trung Quốc đối với lực lượng tuần duyên của Phillipines.

“Hướng dẫn phòng thủ song phương” chỉ ra những tình huống cụ thể như: các cam kết theo hiệp ước song phương sẽ được kích hoạt nếu một trong hai bên bị tấn công ở Biển Đông, bao gồm cả khi các tàu tuần duyên bị nhắm mục tiêu. Phần cập nhật trong bản hướng dẫn bao gồm các điều nói về các hình thức chiến tranh hiện đại, kể cả “chiến thuật vùng xám”. Trung Quốc thường bị cáo buộc sử dụng chiến thuật này để khẳng định yêu sách chủ quyền của họ ở Biển Đông.

Hợp tác chia sẻ thông tin tình báo là một nội dung chủ yếu của bản “Hướng dẫn phòng thủ song phương”, bên cạnh việc “hiện đại hóa năng lực quốc phòng” và tăng cường phối hợp diễn tập tác chiến và bảo vệ an ninh hàng hải. Hai bên cam kết “mở rộng chia sẻ thông tin về các dấu hiệu ban đầu liên quan đến các mối đe dọa đối với hòa bình và an ninh của cả hai quốc gia, để bảo đảm sẵn sàng giải quyết các thách thức chính mà liên minh phải đối mặt. Hai nước sẽ cố gắng chia sẻ thông tin theo thời gian thực, với sự cộng tác của các bộ và các ban ngành khác để tăng cường khả năng phối hợp hoạt động”.

Cùng với việc công bố bản “Hướng dẫn phòng thủ song phương”, Lầu Năm Góc nhấn mạnh: “Nhận thấy các mối đe dọa có thể phát sinh trong một số phạm vi, bao gồm đất liền, biển, bầu trời, vũ trụ và không gian mạng và ở dạng chiến tranh bất đối xứng, hỗn hợp và bất thường và các chiến thuật vùng xám, các hướng dẫn chỉ đạo vạch ra một hướng đi để xây dựng khả năng phối hợp hành động trong cả các phạm vi thông thường và phi thông thường”.

Tại cuộc họp trước khi bản hướng dẫn được công bố, Washington và Manila đã đạt thỏa thuận về mở rộng hoạt động “chia sẻ thông tin về các mối đe dọa và thách thức chính” đối với hòa bình và an ninh của 2 nước. Thỏa thuận này đòi hỏi “cách tiếp cận toàn chính phủ để điều phối hoạt động trong trường hợp xảy ra khủng hoảng hoặc tình huống khẩn cấp”. Để đạt được mục tiêu đó, hai bên sẽ phát triển “quy trình ra quyết định phù hợp và quy trình liên lạc hiệu quả để hỗ trợ các hoạt động phối hợp song phương linh hoạt, kịp thời, hiệu quả và tương ứng từng tình huống thông qua sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan”. Hai bên nhấn mạnh các nỗ lực của Mỹ và Philippines là nhằm tập trung vào “các mối quan tâm an ninh khu vực then chốt”, đồng thời thúc đẩy “hiểu biết chung về vai trò, nhiệm vụ và khả năng trong khuôn khổ liên minh để đối phó các thách thức an ninh khu vực và toàn cầu”.

Ngay sau khi “Hướng dẫn phòng thủ song phương” Mỹ-Philippines được công bố, giới phân tích và chuyên gia quân sự đã nhanh chóng đưa ra các đánh giá, Trung Quốc ngay lập tức lên tiếng phản đối. Ông Rommel Ong, cựu Phó Tư lệnh Hải quân Philippines và hiện là giáo sư tại Trường Nghiên cứu Chính phủ Ateneo, cho rằng các hướng dẫn này gửi đi “lời cảnh báo” tới Trung Quốc rằng chớ có nhắm mục tiêu vào lực lượng tuần duyên Philippines. Ông Julio Amador, người đứng đầu Tổ chức vì lợi ích quốc gia có trụ sở tại Manila tập trung vào các vấn đề chiến lược và an ninh, nhận định: “Rõ ràng là nó (bản hướng dẫn) sẽ khiến Trung Quốc phải khựng lại suy nghĩ”.

Ngày 4/5, Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho biết họ phản đối việc sử dụng các hiệp ước quốc phòng song phương để can thiệp vào Biển Đông, nơi này “không phải là bãi đi săn của các thế lực bên ngoài”. Giới quan sát cho rằng “Hướng dẫn phòng thủ song phương” Mỹ-Philippines ra đời sau chưa đầy 1 năm cầm quyền của Tổng thống Marcos với những nỗ lực xích lại gần Mỹ, tăng cường quan hệ đồng minh Mỹ-Philippines nhằm bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Phippines ở Biển Đông. Đây chính là hệ quả từ chính sách hung hăng, hiếu chiến của Trung Quốc ở Biển Đông và eo biển Đài Loan mà Philippines là một nạn nhân.

Trong năm qua, nhất là từ đầu năm 2023 tới nay, Manila liên tục nêu quan ngại về điều mà họ gọi là “chiến thuật hung hăng” của Trung Quốc đối với các tàu đánh cá của Philippines trong vùng biển tranh chấp. Tuần trước, Bộ Ngoại giao Mỹ cũng ra tuyên bố cáo buộc Bắc Kinh “đe dọa các tàu Philippines đang thực hiện các cuộc tuần tra thường lệ trong vùng đặc quyền kinh tế của họ”, đổng thời tái khẳng định cam kết về bảo vệ Philippines trong trường hợp xảy ra “một cuộc tấn công vũ trang ở Thái Bình Dương, bao gồm cả Biển Đông”.

Một ngày trước khi bản hướng dẫn được công bố, tại một cuộc họp báo hôm 2/5 Thư ký báo chí Lầu Năm Góc Patrick Ryder nhấn mạnh rằng Washington và Manila đang “đứng trước một thời điểm chuyển đổi”, đồng thời nói thêm rằng hai ông Austin và Marcos sẽ thảo luận về “một loạt chủ đề an ninh” bao gồm cả việc mở rộng hợp tác tác chiến ở Biển Đông.

Cùng với việc công bố “Hướng dẫn phòng thủ song phương” Mỹ-Philippines, Tổng thống Marcos đã cùng Bộ trưởng Austin thảo luận về kế hoạch vận hành 4 căn cứ quân sự mới mà Manila giao quyền sử dụng cho quân đội Mỹ theo thỏa thuận Thỏa thuận Hợp tác Quốc phòng Tăng cường (EDCA) ở đảo Palawan và phía Bắc đảo Luzon, cách đảo Đài Loan vài trăm km.  Chuyên gia Renato Cruz De Castro, làm việc tại Đại học De La Salle ở Manila, cho hay: “Quyết định của Manila, được đưa ra hồi tháng 2/2023, cho phép Washington sử dụng 4 căn cứ quân sự nói trên giúp tăng cường khả năng đối phó với một nước Trung Quốc ‘hiếu chiến và bành trướng’”.

Trước đó, trong cuộc hội đàm với Tổng thống Mỹ Joe Biden, Tổng thống Marcos đã mô tả mối quan hệ đồng minh Mỹ-Philippines là thiết yếu trong bối cảnh “có thể là tình hình địa chính trị phức tạp nhất trên thế giới hiện nay”. Mỹ đã nhấn mạnh cam kết “sắt đá” với Philippines trong bối cảnh căng thẳng gia tăng ở Biển Đông. Biden đã nói với Marcos rằng Mỹ vẫn “giữ vững cam kết bảo vệ Philippines, bảo gồm cả ở Biển Đông”. Một tuyên bố của Nhà Trắng được đưa ra sau cuộc đàm cho biết Biden và Marcos đã nhấn mạnh “cam kết vững chắc của họ đối với tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông”.

Tại cuộc họp báo  ngày 3/5, ông Daniel Kritenbrink, Trợ lý Ngoại trưởng phụ trách các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương tuyên bố Trung Quốc cần chấm dứt những hành động quấy rối “không thể chấp nhận được” đối với tàu thuyền của Philippines ở Biển Đông, nhắc lại cam kết rằng Washington sẽ sát cánh bên đồng minh để chống lại bất cứ sự uy hiếp nào của Bắc Kinh trong khu vực. Ông Kritenbrink cũng phản bác các tuyên bố của các giới chức Trung Quốc cho rằng Mỹ đang kéo Philippines vào một cuộc xung đột tiềm tàng về vấn đề Đài Loan khi Manila cho phép Mỹ tiếp cận nhiều hơn các căn cứ quân sự địa phương theo Thỏa thuận Hợp tác quốc phòng tăng cường (EDCA) năm 2014. Ông phát biểu: “Những người bạn ở Bắc Kinh có thể đưa ra tuyên bố bằng cách nào đó bày tỏ quan ngại nhưng tôi nghĩ việc làm này là không đáng và cũng có phần khó hiểu… Tôi tin tưởng rằng Mỹ và Philippines chia sẻ tầm nhìn về một khu vực hòa bình và ổn định. Chúng tôi ủng hộ việc duy trì hòa bình và ổn định ở khu vực Eo biển Đài Loan. Chúng tôi phản đối những nỗ lực đơn phương nhằm thay đổi hiện trạng bởi bất cứ bên nào và chúng tôi kiên quyết cho rằng những khác biệt của hai phía bên bờ eo biển này cần được giải quyết một cách hòa bình. Hòa bình và ổn định ở khu vực Eo biển Đài Loan là một vấn đề quốc tế quan tâm”.

Đánh giá về kết quả chuyến thăm Mỹ của Tổng thống Marcos với điểm nhấn là việc công bố “Hướng dẫn phòng thủ song phương” Mỹ-Philippines, giới phân tích cho rằng mặc dù bản hướng dẫn không nêu đích danh Trung Quốc, song rõ ràng Mỹ và Philippines đang phối hợp chặt chẽ củng cố nền tảng chống Trung Quốc. Việc thắt chặt quan hệ đồng minh Mỹ-Philippines với bản “Hướng dẫn phòng thủ song phương” sẽ là một yếu tố quan trọng kiềm chế sự hung hăng của Bắc Kinh ở Biển Đông và trong khu vực.

Qua chuyến thăm Mỹ của Tổng thống Marcos, Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ-Philippines đã được nâng cấp lên một bước. Cam kết bảo vệ Philippines ở Biển Đông lần đầu tiên được xác nhận ở cấp nguyên thủ hai nước, được đưa vào Tuyên bố chung và được cụ thể hóa trong “Hướng dẫn phòng thủ song phương”. Điều này cho thấy tranh chấp Biển Đông giữa Trung Quốc với Philippines đã được đưa vào phạm vi hợp tác giữa Mỹ và Philippines. Ngoài ra, Tuyên bố chung cũng đề cập tới hòa bình ổn định ở eo biển Đài Loan và mong muốn thiết lập mô hình hợp tác ba bên giữa Philippines-Nhật Bản-Mỹ và Philippines-Úc-Mỹ. Đây phải chăng là manh nha cho việc hình thành những liên kết tam giác mới ở khu vực để ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc?

Giới quan sát cho rằng việc Manila “không thể tránh khỏi” xoay trục về phía Washington nhiều khả năng sẽ có tác động hạn chế đối với cách các quốc gia khác trong khu vực xử lý vấn đề Đài Loan và Biển Đông. Theo nhà quan sát ngoại giao Charmaine Willoughby, ngày càng có nhiều sự thừa nhận rằng Philippines “chắc chắn sẽ bị tổn hại ngoài ý muốn” trong trường hợp xảy ra xung đột ở eo biển Đài Loan, qua đó giải thích cho những nỗ lực của Manila nhằm làm sâu sắc thêm quan hệ với Washington. Theo nhà quan sát Willoughby, cuộc gặp Biden-Marcos “chắc chắn là điềm báo tốt” cho liên minh, song cả hai bên vẫn còn nhiều việc phải làm.

Trong khi các quốc gia Đông Nam Á khác có thể hoan nghênh – và hưởng lợi từ – mối quan hệ mạnh mẽ hơn giữa Mỹ và Philippines, các nhà phân tích cho rằng điều đó sẽ không dẫn đến sự thay đổi đáng kể trong cách tiếp cận đối với Bắc Kinh, đặc biệt là về vấn đề Biển Đông và Đài Loan. Dylan Loh, Phó giáo sư về chính sách đối ngoại tại Đại học Công nghệ Nanyang ở Singapore, cho rằng có thể đoán trước việc Manila sẽ xích lại gần Washington dưới thời chính quyền Marcos. Ông Loh nói: “Đối với phần còn lại của Đông Nam Á, các nước này khó có thể thay đổi tính toán của họ đối với vấn đề Đài Loan và Biển Đông, và mỗi quốc gia trong khu vực sẽ đưa ra quyết định của riêng mình dựa trên những gì họ nghĩ là có lợi cho họ”. Những quốc gia này hiện chủ yếu cố gắng cân bằng mối quan hệ giữa Washington và Bắc Kinh khi sự cạnh tranh giữa hai cường quốc ngày càng gia tăng, vì hầu hết đều có quan hệ thương mại sâu sắc với Trung Quốc.

Aristyo Rizka Darmawan, chuyên gia luật quốc tế tại Đại học Indonesia, lưu ý rằng Philippines và Mỹ từng là đồng minh mạnh mẽ trong lịch sử và mối quan hệ gần gũi hơn “tất nhiên không phải là điều mới mẻ đối với khu vực”. Theo ông, thái độ đối với Trung Quốc sẽ không thay đổi “đáng kể”, song các quốc gia Đông Nam Á dường như đang ngả về phía Mỹ hơn trên mặt trận hàng hải, và mối quan hệ chặt chẽ hơn giữa Mỹ và Philippines cũng có thể đồng nghĩa với việc có nhiều sự can dự hơn giữa hải quân khu vực với quân đội Mỹ. Tuy nhiên, một số quốc gia trong khu vực, bao gồm Indonesia và Malaysia, sẽ thận trọng về sự hiện diện quân sự gia tăng của Mỹ trong khu vực này, do vậy Washington sẽ phải rất thận trọng để không làm các nước láng giềng cảm thấy khó chịu khi củng cố quan hệ chặt chẽ hơn với Manila.

Ông Ngeow Chow Bing, Giám đốc Viện Nghiên cứu Trung Quốc tại Đại học Malaya, cho rằng việc mở rộng hiệp ước phòng thủ giữa Philippines và Mỹ có thể có tác động đối với ASEAN. Tuy nhiên, các chính phủ Đông Nam Á nhận thức được rằng Philippines đang đi theo “con đường tương đối rủi ro, mặc dù có thể hiểu được”, nhưng họ có thể sẽ tiếp tục “vô cùng thận trọng” trong vấn đề Đài Loan và tôn trọng cái gọi là lằn ranh đỏ của Bắc Kinh liên quan đến Đài Loan. Tóm lại, những chuyển động mạnh mẽ trong quan hệ đồng minh giữa Mỹ và Philippines qua chuyến thăm Mỹ của Tổng thống Marcos chưa thể làm thay đổi cán cân quyền lực ở Biển Đông, song chắc chăn sẽ đem đến những ảnh hưởng nhất định tới cục diện Biển Đông và cạnh tranh địa chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc ở Biển Đông sẽ càng quyết liệt hơn trong thời gian tới.

]]>
Phải chăng sự hung hăng của Bắc Kinh đẩy Manila xích lại gần với Washington? https://biendong.net/2022/10/09/phai-chang-su-hung-hang-cua-bac-kinh-day-manila-xich-lai-gan-voi-washington/ Sun, 09 Oct 2022 03:27:44 +0000 https://biendong.net/?p=95937 Trong quá trình vận động bầu cử và trước khi ông Ferdinand Marcos Jr nhậm chức Tổng thống Philippines, dư luận tranh cãi nhiều về chính sách của chính quyền mới ở Manila. Nhiều ý kiến cho rằng chính quyền của tân Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr có thể đi theo đường lối của cựu Tổng thống Rodrigo Duterte ngả hẳn sang Trung Quốc gây khó khăn cho chính quyền của Tổng thống Mỹ Biden trong việc triển khai chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương nói chung và ở Biển Đông nói riêng.

Tuy nhiên, sau chưa đầy 3 tháng cầm quyền, Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr đã cho thấy chính quyền của ông không đi theo “vết xe đổ” của người tiền nhiệm. Mặc dù, luôn khẳng định coi trọng quan hệ với Trung Quốc, song trên thực tế ông Marcos Jr đã triển khai một chính sách cân bằng với 2 cường quốc Mỹ – Trung, thậm chí Tổng thống Marcos Jr đã có những bước đi mạnh mẽ để hàn gắn quan hệ với Mỹ sau 6 năm trục trặc dưới thời cựu Tổng thống Duterte.

Tổng thống Ferdinand Marcos Jr và Tổng thống Mỹ Joe Biden

Nếu như chuyến thăm nước ngoài trên cương vị Tổng thống Philippines của ông Duterte là Trung Quốc thì tân Tổng thống Marcos Jr không như vậy. Ông Marcos Jr đã chọn 2 nước Đông Nam Á là Singapore và Indonesia để thực hiện chuyến thăm đầu tiên trên cương vị Tổng thống và tiếp đó là chuyến đi tới New York dự họp Đại hội đồng Liên hợp quốc và có cuộc gặp đầu tiên với Tổng thống Mỹ Joe Biden.

Trong một sự khởi đầu quan trọng (cuộc gặp với Tổng thống Biden), trái ngược với thái độ chống Mỹ của người tiền nhiệm Rodrigo Duterte, nhà lãnh đạo mới của Philippines Marcos Jr đã ca ngợi vai trò của Mỹ như một “mỏ neo” cho sự ổn định ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương; nhấn mạnh đó là “điều được tất cả các quốc gia trong khu vực, đặc biệt là Philippines, đánh giá cao”. Được khuyến khích bởi định hướng chiến lược mới rõ ràng của Manila, Washington đang tăng cường gấp đôi hợp tác an ninh song phương. Đó là một mục tiêu chiến lược ngày càng trở nên quan trọng và cấp bách đối với Washington trong bối cảnh căng thẳng gia tăng ở eo biển Đài Loan và Biển Đông. Với vị trí địa lý chiến lược của mình, Philippines sẽ là trung tâm của bất kỳ cuộc xung đột lớn tiềm tàng nào giữa Mỹ và Trung Quốc trong khu vực. Do đó, 2  đồng minh sẽ tăng cường các hoạt động quân sự chung lên tới 500 hoạt động vào năm tới, với việc Mỹ dự kiến sẽ triển khai một lực lượng lớn lên tới 16.000 quân cho các cuộc tập trận “Balikatan” (Vai kề vai) hàng năm.   

Một tuần sau cuộc gặp giữa Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr với Tổng thống Mỹ Joe Biden tại New York, lần đầu tiên, các lãnh đạo quốc phòng hàng đầu của Mỹ và Philippines đã đích thân tham gia lập kế hoạch hoạt động chi tiết tại Bộ chỉ huy Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Mỹ ở Honolulu (Hawaii), trong một động thái nhằm củng cố liên minh Mỹ – Philippines. Trong cuộc họp chưa từng có này với Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Jose Faustino Jr tại trụ sở Bộ chỉ huy Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin nhấn mạnh Mỹ và Philippines “chia sẻ tầm nhìn về một Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương rộng mở, an toàn và thịnh vượng, không bị ép buộc hoặc bắt nạt”; khẳng định “Mỹ vẫn kiên định ủng hộ một Philippines mạnh mẽ và độc lập, có đủ khả năng bảo vệ chủ quyền của mình, đảm bảo sự thịnh vượng cho người dân và củng cố an ninh trong khu vực”. Về phần mình, Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Faustino nhấn mạnh: “Philippines và Mỹ đang làm việc cùng nhau để đạt được sự hiểu biết chung về tầm quan trọng của liên minh quốc phòng… trong việc thúc đẩy lợi ích của 2 nước cũng như hòa bình và thịnh vượng trong khu vực”.

Giới quan sát chỉ ra rằng trong vài tháng qua, 2 đồng minh Mỹ-Philippines đã thúc đẩy việc thực hiện đầy đủ Thỏa thuận tăng cường hợp tác quốc phòng (EDCA), cho phép quân đội Mỹ tiếp cận sâu rộng hàng loạt căn cứ quân sự quan trọng trên khắp đất nước Philippines. Đặc biệt, căn cứ hàng không Basa, nằm ở vị trí chiến lược ở Biển Đông và gần Đài Loan, là địa điểm của một số dự án chung lớn gần đây trong khuôn khổ EDCA. Mới đây nhất, từ ngày 3-14/10, đã diễn ra cuộc tập trận Kamandag với sự tham gia của 1.900 lính thủy đánh bộ Mỹ và 600 binh sĩ Philippines tại khu vực hướng ra Biển Đông ở đảo Palawan, miền Tây Philippines và dọc theo Eo biển Luzon ở phía Bắc nước này, gần đảo Đài Loan. Cuộc tập trận với nội dung mô phỏng tấn công đổ bộ và tác chiến đặc biệt, các bệ phóng pháo phản lực HIMARS và chiến đấu cơ của Mỹ tham gia nội dung bắn đạn thật trong cuộc tập trận lần này. Hàn Quốc và Nhật Bản lần đầu tiên cử binh sĩ tham gia Kamandag với tư cách quan sát viên.

Theo một số nguồn tin trong năm tới, Mỹ và Philippines dự kiến sẽ tiến hành các cuộc tập trận chung nhiều hơn bất kỳ thời điểm nào trong lịch sử và nhiều hơn bất kỳ liên minh nào trên khắp khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Theo đó, sự tham gia của Mỹ vào các cuộc tập trận Balikatan quy mô lớn được tổ chức trên bờ biển Philippines có thể sẽ tăng gấp đôi từ 300 hoạt động quân sự song phương trong năm 2022 lên tới 500 cuộc tập trận chung vào năm tới. Các cuộc tập trận chung Mỹ – Philippines dự kiến sẽ được mở rộng cùng với Australia và Nhật Bản để tiến hành các cuộc tập trận đổ bộ và bảo vệ đảo.

Giới phân tích nhận định 2 đồng minh lâu năm hiện đang chạy đua để bù đắp khoảng thời gian đã mất trong 6 năm ông Duterte cầm quyền nhằm nâng cấp liên minh theo Hiệp ước phòng thủ lẫn nhau năm 1951 (MDT).

Lý giải về việc chính quyền của tân Tổng thống Marcos Jr xích lại gần Mỹ và tập trung củng cố quan hệ đồng minh Mỹ – Philippines, giới phân tích cho rằng nguyên nhân là do chính sách cường quyền và sự hung hăng ngày càng gia tăng của Trung Quốc ở Biển Đông và trong khu vực, cụ thể là:

Thứ nhất, tân Tổng thống Marcos Jr rút ra bài học từ người tiền nhiệm là sự ngả theo Trung Quốc không đem lại lợi ích cao nhất cho Philippines mà ngược lại Bắc Kinh tiếp tục đẩy mạnh xâm lấn trên các vùng biển của Philippines. Trong suốt 6 năm cầm quyền ông Duterte luôn nhún mình, nhường nhịn trước lãnh đạo ở Bắc Kinh nhằm đạt được sự hỗ trợ kinh tế để phát triển đất nước, song cam kết hỗ trợ kinh tế của Trung Quốc chỉ dừng lại ở những lời “hứa hão huyền”. Trong khi đó, Bắc Kinh tiếp tục cho tàu chiến, tàu hải cảnh, tàu dân quân biển, tàu khảo sát xâm lấn vùng biển của Philippines ở Biển Đông, tiến hành các hoạt động gây hấn, thậm chí đâm chìm tàu cá của ngư dân Philippines hay phun vòi rồng cỡ lớn vào tàu công vụ của Philippines chở đồ tiếp tế cho binh lính trên bãi Cỏ Mây. Đây chính là nguyên nhân khiến chính quyền của Tổng thống Marcos Jr phải tìm kiếm sự hợp tác với Washington để làm đối trọng.

Việc tân Tổng thống Marcos Jr luôn khẳng định hết sức coi trọng và nỗ lực thắt chặt quan hệ với Bắc Kinh bởi lẽ Trung Quốc là một cường quốc với sức mạnh kinh tế, quân sự vượt trội nên duy trì mối quan hệ ổn định với Bắc Kinh là yêu cầu chiến lược đối với bất kỳ quốc gia nào trong khu vực và Philippines cũng vậy. Tuy nhiên, những phát biểu của ông Marcos Jr có lẽ chỉ là một thủ thuật ngoại giao để không làm “mất mặt” Bắc Kinh, còn trên thực tế chính quyền Manila đang nỗ lực thắt chặt quan hệ đồng minh với Mỹ.

Thứ hai, với vị trí địa lý nằm ở khu vực nối Biển Đông và Thái Bình Dương qua tuyến đường Sibutu ở phía Nam và kênh Bashi cũng như Eo biển Luzon ở phía Bắc, Philippines được coi là “điểm then chốt” trong cuộc cạnh tranh Trung-Mỹ ở Biển Đông và khu vực. Việc Philippines là nước sớm nhất ở châu Á trở thành đồng minh của Mỹ đã khẳng định rõ vị trí chiến lược của nước này trong bàn cờ cạnh tranh ở khu vực. Tân Tổng thống Marcos Jr nhận thức rõ điều này và muốn tranh thủ tận dụng vị thế địa chính trị của Philippines để phục vụ lợi ích quốc gia và phát huy vai trò của đất nước mình.

Trong suốt Chiến tranh Lạnh, việc Philippines là nơi hiện diện căn cứ nước ngoài lớn nhất của Mỹ là một thành phần quan trọng đối với các hoạt động của Mỹ trong khu vực, bao gồm cả các cuộc can thiệp quân sự trong chiến tranh ở bán đảo Triều Tiên và Đông Dương. Sự sao nhãng của Mỹ đối với khu vực trong 2 thập kỷ qua đã tạo điều kiện để Trung Quốc vươn lên mạnh mẽ và trở nên hung hăng hơn. Trong bối cảnh cạnh tranh Mỹ-Trung ngày càng gay gắt ở Biển Đông và trong khu vực, chính quyền Biden có kế hoạch củng cố vị trí của Philippines trong chiến lược “răn đe tổng hợp” ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, dựa trên một mạng lưới các căn cứ và liên minh rộng khắp trên các Chuỗi Đảo thứ nhất và thứ hai, trải dài từ Nhật Bản ở phía Bắc cho tới Australia ở phía Nam.

Thứ ba, việc Bắc Kinh không ngừng tuyên bố “sẵn sàng thống nhất Đài Loan bằng vũ lực” và tăng cường hoạt động của máy bay, tàu chiến xung quanh Đài Loan, nhất là sau chuyến thăm Đài Loan của Chủ tịch Hạ viện Mỹ Nancy Pelosi đầu tháng 8 vừa qua, gây tình hình căng thẳng leo thang trên eo biển Đài Loan. Điều này khiến chính quyền Manila hết sức lo ngại bởi đảo Mavulis ở cực Bắc của Philippines, nằm ở Eo biển Luzon, chỉ cách mũi cực Nam của Đài Loan khoảng 140 km. Một khi xung đột nổ ra ở eo biển Đài Loan sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới Philippines. Gần đây, ông Emmanuel Bautista, Cựu Tổng tư lệnh quân đội Philippines nói với giới truyền thông: “Chúng ta (Philippines) là đồng minh của Mỹ, chúng ta đang ở một vị trí chiến lược. Chúng ta ở gần đến mức nếu có bất cứ điều gì xảy ra ở Đài Loan, chúng ta sẽ tham gia”.

Mặc dù chính quyền của tân Tổng thống Marcos Jr cho đến nay đã cố gắng thể hiện “sự trung lập” trong vấn đề Đài Loan và liên tục kêu gọi quản lý cuộc khủng hoảng một cách hòa bình, song Manila cũng đã bày tỏ sự cởi mở mới trong việc cho phép Mỹ tiếp cận các căn cứ quan trọng của nước này ở phía Bắc trong trường hợp xảy ra một cuộc xung đột ở Đài Loan hoặc một sự cố bất ngờ khác.

Jose Manuel Romualdez – Cựu Đại sứ lâu năm của Philippines tại Washington và là một người thân cận của Tổng thống Marcos Jr (người được coi là kiến trúc sư quan trọng trong việc cài đặt lại mối quan hệ Philippines-Mỹ) nhấn mạnh: “Không ai muốn xảy ra bất kỳ loại chiến tranh hay đối đầu nào” và Philippines sẽ cho phép các lực lượng Mỹ tiếp cận các căn cứ của Philippines “nếu điều đó là quan trọng đối với chúng tôi, đối với an ninh của chính chúng tôi”. Cùng với quan điểm này, ông Gregory Poling, thành viên cấp cao tại CSIS bày tỏ: “Liên minh Mỹ-Philippines sẽ làm gì nếu người Mỹ chết cách bờ biển của Philippines 50 dặm? Đã là đồng minh thì không thể trung lập. Philippines có trách nhiệm với người Mỹ giống như người Mỹ có trách nhiệm với người Philippines”. Có thể nói, việc Manila đang xích lại gần Mỹ trong những tháng gần đây là xuất phát từ lợi ích lâu dài của Philippines mà nguyên nhân chính là do sự bất nhất giữa lời nói và hành động của Bắc Kinh. Việc Trung Quốc thường xuyên hành động hiếu chiến gây hấn ở Biển Đông và trong khu vực theo kiểu “nói một đằng làm một nẻo” trong quan hệ với các nước láng giềng đã làm mất lòng tin đối với chính quyền mới ở Manila khiến Tổng thống Marcos Jr phải tìm kiếm sự hợp tác chặt chẽ hơn với Mỹ.

]]>