Trung Quốc – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Mon, 15 Dec 2025 16:14:31 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 Thấy gì từ cọ xát, tranh chấp trên thực địa giữa TQ với Philippines từ đầu 2025 tới nay? https://biendong.net/2025/10/29/thay-gi-tu-co-xat-tranh-chap-tren-thuc-dia-giua-tq-voi-philippines-tu-dau-2025-toi-nay/ Wed, 29 Oct 2025 02:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=159036 Các vụ việc cọ sát nổi gần đây cho thấy tranh chấp giữa hai nước Trung Quốc và Philippines từ đầu 2025 tới nay tiếp tục diễn biến hết sức gay gắt, phức tạp  và  không dễ lắng xuống trong thời gian tới.

       1. Các vụ việc cọ sát nổi gần đây cho thấy tranh chấp giữa hai nước Trung Quốc và Philippines từ đầu 2025 tới nay tiếp tục diễn biến hết sức gay gắt, phức tạp  và  không dễ lắng xuống trong thời gian tới. Từ đầu 2025 tới nay, theo thống kê chưa đầy đủ, dư luận thế giới, khu vực ghi nhận xảy ra 8 vụ việc cọ sát, tranh chấp, có 6 vụ việc cọ sát lớn giữa hai bên khiến dư luận khu vực hết sức quan tâm, trong đó từ tháng 8 tới nay có 3 vụ việc xảy ra liên tiếp trong các tháng 8, 9, 10.

Cụ thể: ngày 11/8/2025, tàu cảnh sát biển Trung Quốc có hành vi xua đuổi quyết liệt, nguy hiểm không ngại đâm va tàu của Philippines. Các hành vi hung hăng, cuỡng ép điên cuồng đã khiến chính các tàu công vụ của Trung Quốc đâm va với nhau khiến tàu CCG 3104 bị hư hại nặng, làm mấy binh lính Trung Quốc rơi xuống biển ở gần bãi cạn Scarborough, sự kiện chưa từng có. Tiếp theo, cũng ở khu vực Scarborough, trong các ngày 15-16/9, Trung Quốc dùng vòi rồng xua đuổi đâm va, đẩy lùi tàu Philippines làm vỡ kính tàu Philippines, một nhân viên bị thương nhẹ. Rồi mới đây nhất, ngày 12-13/10, tàu cảnh sát biển Trung Quốc cố tình đâm va tàu Philippines (BRP Datu Pagbuaya) ở gần khu vực chưa đến 2 hải lý gần Thị Tứ, khiến tàu này bị hư hại nhẹ ở phần đuôi. Trung Quốc đổ lỗi cho Philippines huy động có tổ chức, có ý đồ cho một số lượng lớn tàu thuyền khiêu khích ở các vùng biển liên quan của Trung Quốc, khẳng định đảo Thị Tứ, bãi Sandy Cay, đá Subi thuộc “cái gọi là” Nam Sa của Trung Quốc; đổ lỗi nguợc cho Philippines thực hiện các thao tác nguy hiểm gây ra va chạm. Philippines lên án hành động của Trung Quốc là bắt nạt, vi phạm các quy định về ứng xử hàng hải và tuyên bố sẽ áp dụng các biện pháp ngoại giao phù hợp.

        2. Từ đầu 2025 tới nay, khu vực Scarborough và Sandy Cay –  Thị Tứ chiến truờng cọ sát chính.

          Nếu như trong các năm 2023-2024, cọ sát giữa Trung Quốc và Philippines hết sức căng thẳng, nóng cả ở khu vực bãi cạn Second Thomas Shoal và hình thành điểm cọ sát mới ở khu vực bãi Sabina Shoal (xảy ra 3 vụ cọ sát vào cuối 2024 ) thì đáng chú ý, trong 2025, tình hình bãi cạn Second Thomas và Sabina có vẻ tạm lắng dịu hơn; chỉ ghi nhận một vài vụ nhỏ tàu hải cảnh Trung Quốc đến ‘giám sát tàu dân sự Philippines’ tiếp tế cho quân đồn trú trên chiếc tàu chiến cũ BRP Sierra Madre, hoặc tàu tuần duyên Philippines bị quấy nhiễu khi tiếp tế ngư dân song không xảy ra vụ việc cọ sát lớn, căng thẳng. Tuy nhiên, từ đầu 2025 tới nay, cọ sát nổi lên nhiều ở khu vực Sandy Cay đồng thời tiếp tục cọ sát gay gắt ở khu vực Scarborough vốn đã nóng lên từ cuối năm 2024. Theo thống kê sơ bộ, từ tháng 01/2025, các vụ cọ sát lớn, đáng kể của hai bên đều tập trung nhiều vào hai khu vực Sandy Cay và Scarborough, trong  8 vụ lớn, nhỏ giữa hai nuớc ở khắp khu vực Biển Đông giữa hai nuớc từ đầu 2025 tới nay, có 6 vụ khá nghiêm trọng bao gồm 3 vụ ở Sandy Cay, 3 vụ ở Scarborough.

          Căng thẳng ở bãi cạn Scarborough ngày càng gay gắt là hệ lụy tiếp diễn của các sự việc liên quan nóng lên gay gắt từ nửa cuối 2024 khi hai bên đều tìm cách khẳng định chủ quyền của mình, nhất là từ phía Bắc Kinh với những động thái pháp lý, thực địa hết sức cứng rắn, sẵn sàng chơi tới cùng với con bài vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, hải cảnh đi truớc, tàu chiến theo sau. Theo Phán quyết của Tòa Trọng tài vụ kiện Biển Đông năm 2016 (Phán quyết 2016), Bãi cạn Scarborough là một thực thể luôn nổi, nằm cách đảo Luzon của Philippines khoảng 220-240 km, hoàn toàn trong vùng EEZ của nước này, song bị “đuờng luỡi bò” của Trung Quốc “liếm mất” từ 2012. Năm 2024, Trung Quốc có điều chỉnh cơ bản lập truờng pháp lý đối với khu vực này khi công bố thiết lập đuờng cơ sở đối với Scarborough, gây phản ứng mạnh mẽ của Philippines. Chưa dừng lại, tháng 9/2025, Trung Quốc “phê duyệt khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia” ở Scarborough, thiết lập vùng lõi, thử nghiệm sinh thái nhằm bảo vệ cái gọi là ‘bảo vệ đa dạng sinh học”, thực chất là tiến thêm một buớc khẳng định chủ quyền, ngăn chặn tuyệt đối tàu bè Philippines vào khu vực này, củng cố thế chiếm đóng trên thực địa, triệt để đẩy Philippines khỏi khu vực này bằng cả pháp lý và trên thực địa. Còn Philippines phản ứng mạnh, cho đây là cách mà Trung Quốc hợp thức hóa và quân sự hóa tiền đồn chiếm đóng bất hợp pháp ở Scarbrough. Philippines cũng cố gắng duy trì đuợc sự hiện diện tối thiểu bằng tàu công vụ và ngư dân nhằm khẳng định chủ quyền của mình. Mỹ cũng hỗ trợ về ngoại giao và trên thực địa song sức cùng lực kiệt.

          – Bãi Sandy Cay nổi lên trở thành điểm nóng đáng chú ý. Đáng chú ý, từ đầu năm tới nay đã xảy ra 3 vụ việc cọ sát khá quyết liệt trong các tháng 1, tháng 5 và này 12-13/10 vừa qua giữa Trung Quốc với Philippines. Sandy Cay là tên tiếng Anh được dùng để chỉ 3 thực thể gần nhau gồm Đá Hoài Ân, Tri Lễ và Cái Vung, chủ yếu gồm các cồn cát nhỏ, bãi cát nổi, chìm theo thủy triều nằm sát đảo Thị Tứ, (cụm Thị Tứ). Các thực thể này nằm cách cách đảo Thị Tứ khoảng 2-3 hải lý song khác với đảo Thị Tứ về tính chất địa lý, địa vị pháp lý và tình trạng kiểm soát.  Việt Nam cũng tuyên bố có chủ quyền đối với cụm Thị Tứ bao gồm Sandỵ Cay. Ngày 16/10, Nguời phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng lên tiếng về vụ cọ sát ngày 12/10, tỏ hết sức quan ngại, đề nghị các bên tôn trọng chủ quyền của Việt Nam, kiềm chế, tuân thủ luật pháp quốc tế, Công ước Luật biển 1982, tôn trọng quy tắc hàng hải, tạo không khí cho việc xây dựng Bộ quy tắc ứng  xử ở Biển Đông (COC) hiệu lực, thực chất và phù hợp với luật pháp quốc tế nhất là UNCLOS.

       3. Tại sao từ khu vực Scarobough và Sandy Cay lại trở nên nóng lên liên tục từ đầu năm tới nay?

        Thứ nhất, hai khu vực này là hai bãi chiến truờng phản ánh khá toàn diện cuộc chiến tranh chấp chủ quyền, quyền tài phán khó khoan nhuợng giữa Trung Quốc với Philippines, riêng khu vực Sandy Cay có liên quan đến Việt Nam. Tham vọng độc chiếm biển Đông bất chấp luật pháp quốc tế của Trung Quốc là không có dư địa dung hòa với lập truờng tuân thủ Công uớc về luật biển 1982 theo chủ truơng của phía Philippines. Chắc chắn chung cuộc sẽ dẫn đến một bên phải nhuợng bộ, hoặc bị mất chủ quyền, quyền chủ quyền. Trên thực tế, nuớc lớn như Trung Quốc với dã tâm như vậy làm sao mà nhuợng bộ nuớc bé, yếu như Philippines?. Philippines cũng không thể từ bỏ chủ quyền của mình đuợc Luật pháp quốc tế công nhận, đuợc đại đa số các nuớc ủng hộ. Từ nhiều thập kỷ qua, Trung Quốc sử dụng nhiều sách luợc, chiến thuật tinh vi, lắt léo, thô thiển như kiểu ‘con tằm ăn lá dâu’, ‘tuớc dần lá bắp cải’, ‘luộc ếch’ hay  “vùng xám”, đã thành công trong việc xâm chiếm, khống chế nhiều vùng biển và các thực thể của Philippines. Cả hai khu vực Scarobough và Sandy Cay nổi lên hơn như một ví dụ điển hình cho việc giành giật, thể hiện dã tâm bành truớng mới của Trung Quốc ở Biển Đông trong thời gian gần đây của “thời đại Tập Cận Bình”. Philippines là đối tuợng dễ bị Trung Quốc xử lý nhất trong các nuớc có tranh chấp với Trung Quốc; đồng thời nó cũng làm phức tạp thêm tình hình tranh chấp thực địa ở khu vực Trường Sa liên quan tới 5 nước 6 bên; đối với khu vực Thị Tứ là giữa 3 nước Việt Nam, Philippines và Trung Quốc, song cọ sát chủ yếu là giữa Philippines với Trung Quốc vì Philippines đang chiếm giữ thực tế Thị Tứ và coi Sandy Cay thuộc lãnh hải của Thị Tứ.

        Thứ hai, mấy năm gần đây, chiến luợc của Trung Quốc trên thực địa từ khống chế vùng biển chuyển sang mở rộng tăng cường thế khống chế, thế kiểm soát thực thể. Sau khi tôn tạo phi pháp trên các thực thể từ 2013-2016, từ 2017 tới nay, sau khi đã hình thành xong thế trận khống chế trên biển,  không cho các nuớc triển khai các hoạt động khai thác tài nguyên biển, mấy năm gần đây, Trung Quốc tập trung khống chế các nuớc có ‘ý đồ’ mở rộng, củng cố yêu sách đối với các thực thể, tự cho mình một ‘chủ nhân ông’ thực thi ‘quyền hành’ đối với các nuớc trên thực địa, duờng như chỉ có Trung Quốc mới có quyền tôn tạo, kiểm soát, cấm cản các hoạt động thực thi chủ quyền của các nuớc khác ở khu vực Biển Đông. Trung Quốc đang tìm cách kiểm soát, khống chế không cho các nước liên quan tiến hành kiểm soát, tôn tạo các cấu trúc ở Trường Sa, nhất là đối với các cấu trúc chưa có sự hiện diện, chiếm đóng của bên nào.

        Thứ ba, gây sức ép buộc các bên liên quan chấp nhận COC theo nguyên trạng mà Trung Quốc áp đặt phi lý, có lợi cho họ trong giai đoạn tới. Việc Trung Quốc tăng cuờng gây sức ép với Philippines có thể nhằm ngăn chặn Phi-li-pin tiến hành cải tạo Thị Tứ trong đó có hoạt động nhằm khẳng định chủ quyền trên thực địa, về pháp lý ở khu vực Sandy Cay, từ đó tạo sức ép trên thực địa, hỗ trợ buộc Philippines phải chấp nhận ký kết một COC theo ý của Trung Quốc trong thời gian tới. Về pháp lý, Philippines coi Sandy Cay là thực thể thuộc lãnh  hải Thị Tứ mà nước này đã quản lý thực tế. Thị Tứ là trung tâm hành chính và căn cứ lớn nhất của Philippines ở Truờng Sa trong khi Trung Quốc lại lập luận phi lý, coii Sandy Cay thuộc đảo nhân tạo Xu bi của họ. Subi là một trong 3 tiền đồn lớn nhất của Trng Quốc ở Truờng Sa. Đây cũng là hành động thực tế của Trung Quốc nhằm phủ định Phán quyết 2016. Theo Phán quyết 2016, Sandy Cay là  một thực thể luôn nổi trên rạn san hộ phía Tây của Thị Tứ. Bên cạnh đó, các vụ việc đối với bãi cạn lúc chìm lúc nổi The Second Thomas Shoal, Sabina cũng thể hiện ý đồ gây sức ép để các bên liên quan kết thúc đàm phán, chấp nhận một kịch bản COC kiểu Trung Quốc, kể cả việc phản đối Việt Nam tôn tạo trên Truờng Sa cũng nằm trong ý đồ này.

         Thứ tư, đối với Trung Quốc, bản thân tính chất của hai khu vực này, về chiến luợc, ý nghĩa chính trị, quan trọng phức tạp hơn so với khu vực khác. Khu vực Scarborough có vị trí chiến luợc ở Biển Đông bị Trung Quốc khống chế từ tay Philippines từ 2012, năm bắt đầu lên cầm quyền của Tập Cận Bình. Đây là “thành tựu”  bành truớng của Tập nên Trung Quốc cứng rắn, quyết tâm giữ bằng đuợc và sẵn sàng dùng vũ lực. Còn Sandy Cay có vị trí chiến lược, là “vùng đệm tự nhiên” giữa đảo Thị Tứ và đá Xu bi; ai kiểm soát được Sandy Cay có thể giám sát, uy hiếp được Thị Tứ và Xu bi. Trung Quốc có ý đồ mở rộng phạm vi kiểm soát từ Xu bi ra tới Sandy Cay nhằm tạo vùng đệm chiến luợc khống chế đảo và các tuyến đuờng biển xung quanh, kể cả các đảo của Việt Nam như Trường Sa lớn chỉ cách đó có 25 hải lý. Do vậy, Trung Quốc ra sức uy hiếp, đe dọa bất cứ sự hiện diện nào của  Philippines tại khu vực trên, không cho Philippines có ý đồ hiện diện trên Sandy Cay,  càng không để Philippines hiện thực hóa việc coi Sandy thuộc Thị Tứ.

       Thứ năm, các khu vực the Second Thomas sau một thời gian cọ sát gay gắt, hai bên duờng như đã xây dựng một “công thức” xử lý, tạm đông kết thực tế nguyên trạng mà không bên nào giành lợi thế rõ ràng nhằm tạm thời hạ nhiệt điểm nóng khu vực này. Đáng lưu ý là chưa rõ vai trò của một “thỏa thuận quân tử” duới thời của Tổng thống Dutete, một văn bản miệng nhằm giữ ‘hòa khí, tránh xung đột’ với Trung Quốc của ông này, gây nhiều mâu thuẫn, phê phán trong nội bộ Philippines. Theo đó, Trung Quốc không cản trở các chuyến tiếp tế nhân đạo nếu Philippines không vận chuyển vật liệu xây dựng hoặc sửa chữa lớn con tàu chiến cũ Sierra Madre. Còn đối với khu vực Sabina hoặc một số thực thể khác chưa có bên nào chiếm đóng thì cả Trung Quốc và Philippines đều cảnh giác lẫn nhau, sợ đối phuơng tìm cách hiện diện, chiếm đóng khi có thời cơ, song truớc mắt ít có khả năng Trung Quốc đơn phuơng chiếm đóng, còn Philippines thì không dám, do không có lực chiếm, chỉ tìm cách giữ nguyên trạng dù có ưu thế pháp lý. Trong bối cảnh hiện nay, các bên tiếp tục giữ nguyên trạng, nhất là trong bối cảnh đang huớng tới xây dựng COC vào năm 2026. Khu vực Scarborough thì tính chất có khác hơn, Trung Quốc đã nuốt chửng ngon lành từ 2012 thì nay họ không thể nhả ra. Còn Philippines thì quyết không chịu mất, song sức yếu không làm đuợc gì nhiều. Hai bên rất găng nhau vì không có dư địa lùi buớc, nhuợng bộ. Còn đối với Sandy Cay thì liên quan trực tiếp tới Thị Tứ và Subi, hai tiền đồn chính của Philippines và Trung Quốc ở rất gần nhau có tính chất chiến luợc, vai trò kiểm soát lẫn nhau quan trọng và phức tạp hơn một số khu vực khác như The Second Thomas, Sabina…ít nhất trong giai đoạn hiện nay.         Thứ sáu và cuối cùng không thể không liên quan tới bối cảnh cạnh tranh chiến luợc các nuớc lớn. Trung Quốc muốn “nhất cử đa tiện” nhân xảy ra tranh chấp thì cố gắng tìm cách trả đũa, dằn mặt việc Phi-li-pin điều chỉnh chính sách duới thời Marcos quyết tâm dựa vào Mỹ, cho Mỹ đặt thêm căn cứ quân sự, liên kết các đồng minh lôi kéo bên ngoài vào khu vực Biển Đông, quyết tâm thực thi phán quyết, pháp lý hóa các vùng biển của Phi-li-pin, quốc tế hóa vấn đề Biển Đông nên Trung Quốc  càng cay cú, quyết ra tay “giết gà, dọa khỉ”. Tuy nhiên, có thể thấy, nhân tố Mỹ chỉ là nhân tố phụ, bổ sung không phải là nguyên nhân chính khiến Trung Quốc có thái độ cứng rắn đối với Philippines trong các cọ sát ở Biển Đông duới thời của Tổng thống Marcos.

]]>
Việc Trung Quốc triển khai máy bay không người lái (UAV) tại Biển Đông và những ảnh hưởng đối với an ninh khu vực https://biendong.net/2025/10/29/viec-trung-quoc-trien-khai-may-bay-khong-nguoi-lai-uav-tai-bien-dong-va-nhung-anh-huong-doi-voi-an-ninh-khu-vuc/ Wed, 29 Oct 2025 01:53:00 +0000 https://biendong.net/?p=159031 Để hiện thực hóa tham vọng bành trướng và kiểm soát Biển Đông và từng bước thực hiện “Giấc mộng Trung Hoa”, Trung Quốc đang áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp từ chính trị, ngoại giao, kinh tế đến quân sự, gây sức ép lên các nước Đông Nam Á nhất là những nước chịu ảnh hưởng bởi yêu sách đường “đứt đoạn” và “Tứ Sa” phi pháp.

Trong lĩnh vực quân sự, ngoài việc triển khai các loại vũ khí và trang thiết bị hiện đại như tàu ngầm, tàu chiến đấu mặt nước, tàu sân bay, vệ tinh, các lực lượng không quân và hải quân,v.v…, Bắc Kinh gần đây còn chú trọng phát triển thiết bị bay không người lái (UAV) nhằm phục vụ cho hoạt động do thám, trinh sát, thu thập thông tin tình báo, cũng như sẵn sàng tấn công các mục tiêu đối phương khi cần thiết. Động thái này không chỉ làm gia tăng căng thẳng với các nước láng giềng, mà còn gây ra những lo ngại sâu sắc về an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không trong khu vực.

Chính sách triển khai và các loại UAV chủ chốt của Trung Quốc tại khu vực Biển Đông trong thời gian gần đây

Trong những năm gần đây, đặc biệt từ năm 2019, Trung Quốc đã tiến hành đầu tư nghiên cứu, phát triển và ứng dụng hệ thống UAV như một phần trong quá trình hiện đại hóa quân đội, cũng như tăng cường năng lực kiểm soát tại các vùng biển tranh chấp, trong đó có Biển Đông. Sự phát triển này bao gồm việc mở rộng sản xuất, nâng cao công nghệ UAV, tập trung tích hợp, cải thiện các tính năng như tàng hình, tốc độ bay, phạm vi hoạt động, thời gian bay và khả năng mang vũ khí. Mục đích nhằm giám sát và trinh sát vùng biển rộng, tăng cường phòng thủ, khẳng định “chủ quyền” tại khu vực tranh chấp, đồng thời tận dụng lợi thế chi phí và giảm rủi ro so với máy bay có người lái. Quân đội Trung Quốc có thể thực hiện hiệu quả nhiều nhiệm vụ như tình báo, giám sát, trinh sát (ISR), tấn công mục tiêu, tiếp tế và cứu thương.

Nhờ vào tiềm lực tài chính và công nghệ quân sự, Trung Quốc đã sớm sở hữu nhiều thế hệ UAV khác nhau và triển khai sử dụng tại Biển Đông với nhiều nhiệm vụ đa dạng. Các hoạt động này đã dẫn đến những phản ứng mạnh mẽ từ các quốc gia trong khu vực, trong đó có Việt Nam, liên quan đến vấn đề chủ quyền và an ninh. Ví dụ là, vào ngày 12/9/2019, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã đưa ra phản đối về việc vào ngày 10/9/2019, Cục Nam Hải thuộc Bộ Tài nguyên Trung Quốc triển khai mạng lưới UAV ở Biển Đông để giám sát các thực thể trên biển và vùng biển xa bờ mà phía Trung Quốc cho là “nằm trong phạm vi chủ quyền” của mình. Tuy nhiên, các khu vực này là những vùng biển thuộc chủ quyền hợp pháp và không thể tranh cãi của Việt Nam. Mạng lưới UAV này gồm các thiết bị được tích hợp camera có độ phân giải cao, phạm vi quan sát rộng, truyền hình ảnh chất lượng cao theo thời gian thực tới các cơ sở thu, phát tín hiệu trên mặt đất. Trả lời báo Thanh Niên (Việt Nam), tiến sỹ Koh Swee Lean Collin – chuyên gia quốc phòng tại Trường Nghiên cứu quốc tế S.Rajaratnam, Singapore, nhận định: “Các UAV là một phần quan trọng của mạng lưới ISR của Trung Quốc trên Biển Đông. Mạng lưới này không chỉ dựa vào nền tảng của một vài loại cảm biến đơn thuần vốn dễ bị cản trở, ví dụ như vệ tinh bị mây che phủ, mà còn có nhiều tính năng vượt trội giúp khắc phục những khoảng trống mà các phương tiện khác chưa làm được. Hơn nữa, việc thực hiện ISR bằng UAV có chi phí rẻ hơn nhiều so với triển khai máy bay có người lái”.

Giữa năm 2022, Thời báo Hoàn Cầu (Trung Quốc) đưa tin các học viện và cơ sở đào tạo của quân đội Trung Quốc đã đưa UAV và robot vào chương trình huấn luyện kỹ năng đổ bộ dành cho học viên sĩ quan; trong đó, việc sử dụng UAV được xác định là một phần quan trọng để thực hiện tác chiến ở những khu vực xa đất liền như eo biển Đài Loan và Biển Đông. Theo các nguồn tin gần đây, nhiều UAV hoạt động ở phía bắc Biển Đông khi Trung Quốc tiến hành các hoạt động quân sự liên quan đến Đài Loan.

Hiện nay, Trung Quốc đang triển khai nhiều loại UAV với các tính năng da dạng, phục vụ chiến lược của nước này ở Biển Đông. Dưới đây là một số loại UAV nổi bật:

(1) UAV WZ-9: Đây là loại UAV giám sát tầm xa tiên tiến nhất của Trung Quốc, có thể hoạt động ở độ cao 25.000m và bay liên tục trong 35 giờ. Radar của WZ-9 có thể “nhìn” xa tới 500km. Được vận hành tại căn cứ ở Hải Nam, WZ-9 có thể giám sát các vùng biển rộng lớn trên Biển Đông.

(2) UAV siêu vượt âm MD-19: Loại UAV này xuất hiện vào cuối năm 2024. Khác với các mẫu vũ khí siêu thanh sử dụng một lần như Kinzhal hay Zircon của Nga, MD-19 là phương tiện trinh sát, được tái sử dụng nhiều lần; có thể hạ cánh ngang trên đường băng truyền thống, một kỳ tích mà ngay cả các chương trình thử nghiệm các loại UAV có tốc độ siêu vượt âm nổi tiếng của Mỹ như X-51A Waverider hay Talon-A vẫn chưa làm được. UAV MD-19 dài 2,5 – 3,5m, có hình dáng khí động học kiểu mũi nêm, cánh tam giác và đuôi thon, tốc độ bay đến Mach 5 (hơn 6.000km/h). Loại UAV này có thể giảm tốc, chuyển sang bay tốc độ dưới âm và hạ cánh như máy bay thông thường. Đây là bước tiến vượt bậc so với những phương tiện siêu thanh khác vốn cần hệ thống thu hồi chuyên biệt hoặc chỉ dùng một lần. Vì vậy, MD-19 có thể bay sâu vào khu vực tranh chấp như eo biển Đài Loan hoặc Biển Đông để trinh sát thời gian thực. Một báo cáo năm 2023 của Trung tâm Đánh giá Ngân sách và Chiến lược (CSBA) của Mỹ đã cảnh báo rằng, MD-19 có thể gây áp lực lớn lên các nhóm tác chiến tàu sân bay hoặc căn cứ tiền phương của Mỹ tại Guam và Okinawa. Theo giới chuyên gia quân sự thế giới, MD-19 đang gây “choáng” cho Quân đội Mỹ.

(3) UAV S-100: Là loại drone cất hạ cánh thẳng đứng (VTOL) do Áo sản xuất, được Trung Quốc mua lại vào năm 2010. Loại UAV này có trần bay 18.000 feet, thời gian hoạt động hơn 6 giờ và hơn 10 giờ nếu có thêm bình nhiên liệu ngoài, tầm hoạt động 100-200km; rất lý tưởng cho các hoạt động ISR. UAV S-100 có thể được trang bị nhiều loại cảm biến như radar khẩu độ tổng hợp (SAR), radar hàng hải, tình báo tín hiệu (SIGNIT) và tình báo liên lạc (COMINT). Mặc dù chưa có dấu hiệu Trung Quốc sẽ cải tiến loại UAV này để mang vũ khí, nhưng bản thân S-100 đã có khả năng mang được vũ khí. Nó có thể được triển khai từ các tàu khu trục Type 054/054A ở bất cứ đâu trên biển Hoa Đông và Biển Đông. Các thực thể do Trung Quốc kiểm soát ở Biển Đông cũng có thể là địa điểm hỗ trợ triển khai UAV loại này.

 (4) UAV BZK-005: Là loại UAV tầm trung, trần bay 26.247 feet (8.000m), tầm hoạt động tối đa 1.491 dặm (2.400km), thời gian hoạt động 40 giờ. Chức năng chính của BZK-005 là tiến hành hoạt động ISR, nên nó được trang bị các cảm biến quang điện, hồng ngoại, khẩu độ tổng hợp và tình báo tín hiệu, cùng với hệ thống liên lạc vệ tinh. UAV loại BZK-005 có thể bay qua Biển Đông nếu được phóng từ các đảo nhân tạo và tự nhiên do Trung Quốc kiểm soát như đá Subi, đá Vành Khăn, đá Chữ Thập…

(5) UAV GJ-1 (Wing Loong I): Đây là loại UAV tầm trung, có mô hình rất giống với loại UAV Predator của Mỹ, đã được xuất khẩu ra nước ngoài. UAV GJ-1 có tải trọng 200kg, được trang bị 8 loại vũ khí, chủ yếu là tên lửa không đối đất cùng bom đường kính cỡ nhỏ, tầm hoạt động 4.000km. Phương tiện này có tầm hoạt động bao phủ toàn bộ khu vực biển Hoa Đông nếu xuất phát từ các căn cứ thuộc Bộ Tư lệnh Chiến khu miền Đông, cũng như bao phủ Biển Đông nếu xuất phát từ các căn cứ thuộc Bộ Tư lệnh Chiến khu miền Nam của Trung Quốc. Khi được phóng từ đường băng Ling Shui trên đảo Hải Nam, GJ-1 giúp mở rộng phạm vi giám sát của Hải quân Trung Quốc tại khu vực Biển Đông.

Những ảnh hưởng đối với an ninh khu vực từ hoạt động triển khai UAV của Trung Quốc ở Biển Đông

Việc ứng dụng các loại UAV tiên tiến có thể giúp Trung Quốc nâng cao năng lực giám sát, trinh sát và thu thập thông tin trên Biển Đông. Những UAV này có khả năng hoạt động trong thời gian dài, ở độ cao lớn và phạm vi rộng, qua đó liên tục cung cấp dữ liệu thời gian thực về các hoạt động biển trong khu vực. Nhờ đó, Trung Quốc nắm rõ tình hình Biển Đông một cách toàn diện, đồng thời, hỗ trợ các hoạt động thực địa nhằm khẳng định “chủ quyền” và “lợi ích quốc gia” của mình tại Biển Đông. Ngược lại, việc Trung Quốc triển khai UAV tạo ra nhiều thách thức đối với an ninh khu vực, làm dấy lên sự quan ngại của các quốc gia liên quan, cụ thể bao gồm:

Một là, do thường bay gần hoặc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của các nước khác, hoạt động của các UAV Trung Quốc được xem là mang tính khiêu khích, đe dọa chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các nước trong khu vực. Ví dụ, ngày 02 và 07/8/2024, một UAV WZ-10 của Trung Quốc đã cất cánh từ đảo Hải Nam, sau đó bay dọc bờ biển Việt Nam đến tận Phan Rang. Vì diễn ra trong bối cảnh Việt Nam và Philippines vừa kết thúc các cuộc diễn tập chung của lực lượng cảnh sát biển, các nhà phân tích nhận định đây là động thái khẳng định sự hiện diện và răn đe của Trung Quốc, vi phạm luật pháp quốc tế, gây căng thẳng, làm xói mòn lòng tin và tiềm ẩn nguy cơ xung đột trong khu vực. Hành động này đẩy các nước ASEAN vào tình thế phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc bảo vệ không phận và vùng biển thuộc chủ quyền của mình trước sự hiện diện ngày càng tăng của các loại UAV của Trung Quốc.

Hai là, gây bất ổn và làm gia tăng căng thẳng khu vực. Sự xuất hiện của các loại UAV tiên tiến, đặc biệt là UAV tàng hình, có tốc độ siêu vượt âm của Trung Quốc hoạt động trên biển, sẽ làm thay đổi cán cân quân sự trong khu vực. Dựa trên sức mạnh của mình, Trung Quốc có thể sử dụng các UAV này để thiết lập các vùng cấm bay hoặc hạn chế hoạt động tự do hàng hải và hàng không. Tình trạng này có thể dẫn đến việc môi trường an ninh trở nên bất ổn, khiến các nước ASEAN phải gia tăng ngân sách quốc phòng và tìm kiếm các đối tác an ninh bên ngoài nhằm ứng phó. Hệ quả là Biển Đông ngày càng bị quân sự hóa, kéo theo chạy đua vũ trang và gia tăng nguy cơ xung đột.

Ba là, thách thức đối với năng lực phản ứng và quốc phòng của các nước. UAV hiện đại của Trung Quốc có khả năng tàng hình, tốc độ cao và tầm hoạt động rộng, khiến việc phát hiện, theo dõi và đánh chặn trở nên khó khăn với các nước khu vực. Do thiếu năng lực công nghệ và quân sự, nhiều quốc gia trong khu vực buộc phải gia tăng đầu tư vào phòng không, tác chiến điện tử và phát triển chiến lược đối phó, gây tốn kém nguồn lực và thời gian.

Bốn là, gây ảnh hưởng đến các nỗ lực ngoại giao và hợp tác khu vực. Việc Trung Quốc liên tục triển khai và sử dụng UAV tiến hành các hoạt động trinh sát, thu thập thông tin trong các khu vực biển có tranh chấp sẽ làm phức tạp thêm các nỗ lực ngoại giao và hợp tác giữa Trung Quốc và ASEAN. Nó làm suy yếu các cam kết về kiềm chế gây xung đột và giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình. Dù Trung Quốc có biện minh kiểu gì đi chăng nữa, thì các nước có tranh chấp tại Biển Đông nhận thấy chủ quyền của mình đang bị đe dọa, mất niềm tin vào thiện chí của Trung Quốc, gây cản trở cho tiến trình đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) đang diễn ra và các sáng kiến hợp tác khác nhằm duy trì hòa bình, ổn định, cùng hợp tác và cùng phát triển trong khu vực.

Có thể thấy, việc Trung Quốc nghiên cứu, phát triển và triển khai các loại UAV là một phần quan trọng trong nỗ lực quân sự hóa của nước này nhằm gia tăng khả năng kiểm soát và củng cố chủ quyền phi pháp tại Biển Đông. Với sự đa dạng về chủng loại và khả năng vượt trội về tính năng kỹ, chiến thuật, các loại UAV giúp  Trung Quốc  tạo ra lợi thế đáng kể  trong hoạt động giám sát, trinh sát và tác chiến đa tầng ở Biển Đông. Điều này đặt ra thách thức nghiêm trọng tới an ninh khu vực, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường hòa bình, ổn định ở Biển Đông, cản trở các hoạt động hợp pháp của các nước ven biển, gia tăng quân sự hóa và làm xói mòn các nỗ lực ngoại giao và hợp tác khu vực.

]]>
Chiến lược dài hạn của Philippines ở Biển Đông https://biendong.net/2025/10/22/chien-luoc-dai-han-cua-philippines-o-bien-dong/ Wed, 22 Oct 2025 03:39:43 +0000 https://biendong.net/?p=159021 Trong bối cảnh căng thẳng Biển Đông không ngừng leo thang và tình hình nội bộ Philippines khá phức tạp, ông Eduardo Año – Chủ tịch Hội đồng An ninh Quốc gia và là Cố vấn An ninh Quốc gia Philippines – cho biết Philippines đang xây dựng một chiến lược dài hạn để bảo vệ các yêu sách ở Biển Đông nhằm duy trì lập trường rõ ràng, nhất quán của mình cho cả thời kỳ hậu chính quyền của Tổng thống Ferdinand Marcos Jr.

Giới quan sát nhận định rằng động thái này có thể giúp Manila tránh được sự dao động theo kiểu “con lắc” khiến chính sách đối ngoại của nước này liên tục thay đổi giữa Washington và Bắc Kinh trong những năm gần đây, và thay vào đó là xây dựng một cách tiếp cận nhất quán hơn bắt nguồn từ lợi ích quốc gia.

Tại một diễn đàn an ninh hôm 6/5/2025, ông Eduardo Año nhấn mạnh rằng sáng kiến này là phản ứng trực tiếp đối với “các yêu sách lãnh thổ vô căn cứ, quá đáng, bành trướng, quân sự hóa và đối đầu của Trung Quốc với các nước láng giềng”. Ông Eduardo Año đã viện dẫn các hoạt động của Bắc Kinh tại Bãi cạn Scarborough – Philippines gọi là Bajo de Masinloc – nơi các tàu hải cảnh và dân quân biển Trung Quốc đã duy trì sự hiện diện để khống chế kể từ cuộc đối đầu năm 2012.

Ông Eduardo Año nhấn mạnh sự hiện diện của Bắc Kinh “là sự tương phản rõ ràng đối với những gì chúng ta thúc đẩy trong nỗ lực chung hướng tới một trật tự trên biển ổn định, công bằng và dựa trên luật lệ. Thậm chí còn đáng lo ngại hơn, các vùng lãnh thổ hợp pháp khác của chúng ta, không chỉ Bãi cạn Scarborough, đã phải chịu những bất lợi, sự chiếm đóng hoặc kiểm soát bất hợp pháp”. Biển Đông từ lâu đã là nguồn gây căng thẳng giữa Philippines và Trung Quốc do các yêu sách lãnh thổ và biển chồng lấn. Manila gọi phần yêu sách của mình là Biển Tây Philippines và cáo buộc Bắc Kinh ngày càng hung hăng trong các chiến thuật vùng xám – các biện pháp gây hấn không dẫn đến xung đột quân sự – để khẳng định quyền kiểm soát đối với vùng biển này trong những năm gần đây.

Ông Eduardo Año cũng cho biết căng thẳng hiện tại giữa Philippines và Trung Quốc là “thực tế chúng ta không thể bỏ qua”. Ông nói: “Philippines thừa nhận rằng những thách thức ở Biển Đông khó có thể giảm bớt trong thời gian tới. Tình hình sẽ trở nên phức tạp hơn nữa do các điểm nóng tiềm tàng trong khu vực, tiếp tục phát triển trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị và địa kinh tế gia tăng cũng như động lực an ninh toàn cầu thay đổi”.

Giới phân tích cho rằng động thái thúc đẩy chính sách dài hạn trên vấn đề Biển Đông của Manila là rất đáng hoan nghênh và cần thiết cho công cuộc đấu tranh với Bắc Kinh nhằm bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và các lợi ích trên biển của đất nước. Tuy nhiên, để chiến lược dài hạn đạt được hiệu quả, Philippines phải áp dụng “nghệ thuật quản lý nhà nước toàn diện” hơn, vượt ra ngoài các chiến dịch truyền thông và phản đối ngoại giao.

Ông Joshua Espeña – giảng viên quan hệ quốc tế tại Đại học Bách khoa Philippines – lưu ý rằng hoạt động “minh bạch quyết đoán” hiện tại của chính phủ Philippines, bao gồm ghi lại và chia sẻ công khai các hoạt động hàng hải của Trung Quốc thông qua các cuộc tuần tra của lực lượng bảo vệ bờ biển tại các cuộc họp báo và qua các cơ quan truyền thông, trang mạng, có hiệu quả trong việc nâng cao nhận thức nhưng vẫn chưa đủ. Ông Espeña cho biết: “Mặc dù những thông tin thông qua sự minh bạch quyết đoán của Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines được đánh giá cao, nhưng chính phủ Philippines phải bổ sung bằng các công cụ quyền lực khác. Điều này bao gồm việc tăng cường chuỗi cung ứng của đất nước thông qua quan hệ đối tác công tư, kết nối và quản trị dựa vào cộng đồng, cũng như sự ủng hộ của quốc hội đối với ngân sách quốc phòng để phân bổ kinh phí cho chương trình hiện đại hóa Lực lượng vũ trang Philippines (AFP)”.

Ông Chester Cabalza – người sáng lập kiêm chủ tịch của tổ chức nghiên cứu Hợp tác an ninh và Phát triển quốc tế có trụ sở tại Manila – cho biết một chính sách dài hạn ở Biển Tây Philippines sẽ có nghĩa là một “chính sách nhất quán và liên tục bất kể sự thay đổi trong chính quyền sau khi Tổng thống Marcos Jr. rời nhiệm sở vào năm 2028”. Theo ông Cabalza, “đây là tuyên bố táo bạo sau khi Manila thay đổi lập trường chính sách Biển Tây Philippines, thay đổi từ Washington sang Bắc Kinh rồi lại sang Washington (một lần nữa)”.

Mặc dù Philippines từ lâu đã là đồng minh hiệp ước của Mỹ, nhưng nước này đã chuyển sang lập trường ủng hộ Bắc Kinh hơn dưới thời cựu Tổng thống Rodrigo Duterte, người đã tuyên bố “tách biệt” khỏi Mỹ vào năm 2016 trong chuyến thăm Trung Quốc. Năm 2024, ông Duterte tiết lộ rằng ông đã thực hiện một thỏa thuận bất thành văn với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình để duy trì nguyên trạng ở Biển Tây Philippines – một tiết lộ đã gây ra phản ứng dữ dội của công chúng và bị cáo buộc phản quốc.

Ông Chester Cabalza nhấn mạnh rằng, một chiến lược bền vững sẽ cần ưu tiên lợi ích của Philippines hơn hết. Ông nói: “Con lắc sẽ phải dừng lại ở giữa hoặc nên nghiêng về Manila hơn để duy trì lợi ích quốc gia của riêng mình trong bối cảnh cạnh tranh bá quyền của hai siêu cường ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”. Cố vấn an ninh quốc gia Eduardo Año cho rằng cách tiếp cận dài hạn đang được xây dựng này sẽ được cố định trong một “hệ thống phòng thủ mạnh mẽ, đáng tin cậy và tự lực” có khả năng ứng phó với các mối đe dọa đối với chủ quyền và quyền hàng hải của Philippines.

Ông Sherwin Ona – nghiên cứu viên quốc tế tại Viện Nghiên cứu Quốc phòng và An ninh Đài Loan – cho biết, Manila có khả năng theo đuổi một chiến lược toàn diện kết hợp các công cụ ngoại giao, quân sự, kinh tế và truyền thông. Điều này có thể bao gồm một mạng lưới liên minh được tăng cường thông qua các thỏa thuận về lực lượng viếng thăm bao gồm hợp tác trong các lĩnh vực như phòng thủ mạng, ngăn chặn thông tin sai lệch và phát triển ngành công nghiệp quốc phòng. Philippines có khả năng sẽ ưu tiên “các mặt hàng chủ lực” như máy bay chiến đấu đa năng, tàu ngầm và các chương trình khinh hạm, cùng với việc xây dựng các hệ thống chống tiếp cận/chống xâm nhập khu vực (A2/AD) cũng như năng lực nhận thức về lĩnh vực hàng hải.

Những nhà quan sát khác cũng chia sẻ quan điểm tương tự. Ông Cabalza lưu ý rằng các thỏa thuận quốc phòng gần đây của Philippines với Úc, Nhật Bản và New Zealand đóng vai trò là “khuôn mẫu tốt” cho các hiệp ước quân sự khác đang được xem xét, bao gồm cả với Pháp và Anh. Ông Cabalza nói: “Sức hấp dẫn của Manila chắc chắn sẽ được các nước láng giềng Đông Nam Á sao chép. Nhưnhg điều mà Manila có thể mang lại một cách tự nhiên chính là tầm quan trọng về mặt địa chiến lược của nước này”. Trong khi đó, ông Joshua Espeña nói thêm rằng các quan hệ đối tác chiến lược trong tương lai nên vượt ra ngoài việc chỉ mua sắm các nền tảng và bao gồm “hỗ trợ kỹ thuật, các gói bảo trì và các hệ thống hậu cần tích hợp”.

Lý do Manila cần xây dựng một chiến lược dài hạn trên vấn đề Biển Đông được giới chuyên gia chỉ ra là:

Trước hết, cần phải nhận thức rõ mưu đồ kiểm soát, độc chiếm Biển Đông của Bắc Kinh là xuyên suốt, không thay đổi, vì vậy nếu không có một chiến lược dài hạn sẽ không thể đối phó với mưu đồ này của Trung Quốc. Việc thiếu một chiến lược dài hơi sẽ dẫn tới việc thiếu nhất quán trong chính sách và khiến sức mạnh quốc gia giảm sút trong việc đối phó với sự hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông.

Hai là, việc có một chiến lược nhất quán tạo điều khiện cho Philippines có thể đầu tư nâng cao năng lực quốc phòng để có thể phối hợp có hiệu quả với các đồng minh, đối tác trong việc bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Philippines trên Biển Đông, đồng thời tạo thuận lợi cho các đồng minh, đối tác trong việc hỗ trợ Manila trong việc nâng cao năng lực quốc gia.

Ba là, Philippines đã giành thắng lợi trong vụ kiện trọng tài Biển Đông và có được một phán quyết bác bỏ hầu hết các yêu sách biển của Trung Quốc ở Biển Đông. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để Manila đấu tranh với Trung Quốc ở Biển Đông. Philippines là một nước nhỏ cần xây dựng một chiến lược dài hạn trên tinh thần thượng tôn pháp luật để có thể khai thác Phán quyết năm 2016 của Toà Trọng tài, đồng thời vận động các nước khác ủng hộ việc tuân thủ Phán quyết.

Giới chuyên gia cho rằng chiến lược dài hạn của Philippines đối với Biển Đông cần thể hiên một tầm nhìn quốc gia vượt lên trên sự thay đổi chính quyền, đồng thời kết nối hiệu quả giữa an ninh quốc gia, lợi ích kinh tế biển và vai trò trong cấu trúc khu vực, cụ thể chiến lược dài hạn này cần giải quyết một số vấn đề sau:

Thứ nhất, cần khẳng định quyết tâm bảo vệ vững chắc quyền chủ quyền và quyền tài phán dựa trên luật pháp quốc tế. Theo đó, coi Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) 1982 và Phán quyết Trọng tài Biển Đông năm 2016 là nền tảng pháp lý không thể đảo ngược trong bất kỳ cuộc đàm phán nào.

Thứ hai, nâng cao năng lực quốc phòng của đất nước, trong đó tập trung tăng cường năng lực thực thi pháp luật biển, củng cố năng lực phòng thủ trên biển biển và kiểm soát không gian biển. Theo đó, cần ưu tiên xây dựng năng lực phòng thủ trên biển và bảo vệ đảo, bao gồm radar giám sát, tàu tuần tra tầm xa, máy bay không người lái và hệ thống phòng thủ ven biển; tăng cường hiện diện thường xuyên tại các điểm tiền tiêu, như Bãi Cỏ Mây, Bãi Cỏ Rong, và Bãi Cạn Scarborough; xây dựng hệ thống giám sát biển tích hợp.

Thứ ba, Philippines không thể đơn độc bảo vệ lợi ích ở Biển Đông mà cần dựa vào chiến lược liên kết nhiều tầngvới các đối tác quốc tế và khu vực. Theo đó, cần tiếp tục củng cố liên minh quân sự với Mỹ; mở rộng hợp tác an ninh biển với các đối tác khác như Nhật Bản, Úc, Hàn Quốc, Ấn Độ, và EU, bao gồm viện trợ quốc phòng, huấn luyện và chia sẻ tình báo; tăng cường phối hợp chặt chẽ với các nước ven Biển Đông khác; Thúc đẩy đoàn kết ASEAN trong vấn đề Biển Đông, tạo mặt trận thống nhất trong đàm phán với Trung Quốc về Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).

Thứ tư, ngư dân là lực lượng tuyến đầu bảo vệ chủ quyền và sinh kế biển là nền tảng cho an ninh kinh tế biển, do vậy chính phủ cần có biện pháp bảo vệ và phát triển sinh kế biển bền vững cho người dân. Theo đó, cần củng cố hạ tầng hỗ trợ ngư dân, bao gồm trung tâm hậu cần, tàu hỗ trợ hậu cần và các điểm tránh, trú bão gần khu vực tranh chấp; thực thi chính sách bảo vệ ngư dân theo luật pháp quốc tế, kêu gọi quốc tế hỗ trợ khi ngư dân bị đe dọa trên vùng biển hợp pháp; phát triển bền vững nghề cá, ngăn ngừa khai thác quá mức, kết hợp với bảo vệ môi trường sinh thái biển.

Thứ năm, cần chủ động thúc đẩy tiến trình ngoại giao, pháp lý. Theo đó, kiên trì sử dụng các công cụ ngoại giao đa phương lẫn song phương; sẵn sàng triển khai các vụ kiện pháp lý mới nếu cần; đề xuất sáng kiến về bảo vệ an ninh hàng hải trong khuôn khổ ASEAN, ADMM+ và APEC, nhằm quốc tế hóa vấn đề Biển Đông một cách tích cực; sử dụng ngoại giao nhân dân, học thuật và truyền thông quốc tế để tạo sự ủng hộ rộng rãi từ cộng đồng quốc tế đối với lập trường hợp pháp của Philippines. Trên đây là những phân tích về tính cấp thiết của Philippines phải có một chiến lược dài hạn đối với Biển Đông và một số gợi ý chính về những vấn đề cần được nêu rõ trong chiến lược này để tránh sự đứt gãy chiến lược trong việc bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và các lợi ích trên biển của Manila dù dưới bất cứ chính quyền của Tổng thống nào.

]]>
Hành động leo thang nguy hiểm mới của TQ ở Biển Đông https://biendong.net/2025/10/08/hanh-dong-leo-thang-nguy-hiem-moi-cua-tq-o-bien-dong/ Wed, 08 Oct 2025 01:24:00 +0000 https://biendong.net/?p=158988 Ngày 09/9/2025, Quốc vụ viện Trung Quốc nhất trí với đề xuất của Bộ Tài nguyên thiên nhiên nước này về việc thành lập Khu Bảo tồn Thiên nhiên Quốc gia Đảo Hoàng Nham (Bãi cạn Scarborough). Điều này làm dấy lên nhiều lo ngại với cộng đồng quốc tế bởi hành động này sẽ dẫn đến nguy cơ căng thẳng sẽ gia tăng ở mức cao hơn trong quan hệ giữa Trung Quốc và Philippines trong vấn đề Biển Đông vốn đã rất phức tạp trong thời gian gần đây.

Bãi cạn Scarborough được tạo thành từ một chuỗi rạn san hô và đá có hình tam giác với chu vi 55 km và tổng diện tích (gồm cả vùng đầm phá) khoảng 150 km². Đầm phá nông có diện tích 130 km² và độ sâu 15 m. Bãi cạn nhô lên từ đồng bằng biển thẳm sâu 3.500 m. Một vài hòn đá, trong đó có đá mà Trung Quốc gọi là Nam nham, cao từ 0,5 đến 3 m; nhiều rạn đá ngầm chìm dưới nước khi thủy triều lên. Gần cửa vào của đầm phá có một phế tích của tháp sắt cao 8,3 m do Hải quân Philippines dựng lên vào năm 1965.

Về vị trí địa lý, Bãi cạn Scarborough nằm cách Hải Nam của Trung Quốc khoảng 530 hải lý; nằm giữa bãi Macclesfield (Trung Quốc gọi là Trung Sa) và đảo Luzon của Philippines ở Biển Đông, cách Vịnh Subic 123 hải lý (198 km) và đảo Luzon 137 hải lý (220 km) về phía Tây, nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý của Philippines. Theo Phán quyết của Tòa trọng tài Vụ kiện Biển Đông năm 2016 giữa Philippines và Trung Quốc, Bãi Scarborough được xác định là cấu trúc nổikhông có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng (tức là chỉ có 12 hải lý lãnh hải) và ngư dân từ Philippines, cũng như Trung Quốc và các nước khác, đã đánh cá tại bãi Scarborough có quyền đánh cá truyền thống tại khu vực này.

 Một số diễn biến chính liên quan đến bãi cạn Scarborough

Cũng như đối với các thực thể khác ở Biển Đông, Trung Quốc nêu yêu sách chủ quyền với Bãi cạn này, gọi tên là Hoàng Nham. Nếu như trước đây Trung Quốc yêu sách Bãi cạn này với tính chất là một thực thể thì từ 2019, Trung Quốc coi Hoàng Nham là một bộ phận của Trung Sa (Macclesfield). Nhận xét về yêu sách này, học giả người Anh của Viện Chatham, Bill Hayton chỉ ra rằng “những hiểu lầm về bản đồ và tên gọi trong những năm 1930 đã khiến Trung Hoa Dân Quốc tuyên bố rằng “Bãi Macclesfield”, một loạt các thực thể dưới nước ở trung tâm Biển Đông, là các đảo. Trung Quốc vẫn giữ nguyên tuyên bố này cho đến ngày nay, mặc dù những hòn đảo này không tồn tại.”

Tháng 4/2012, Hải quân Philippines phát hiện 08 tàu cá của Trung Quốc hoạt động đánh bắt trong khu vực này. Philippines điều tàu chiến BRP Gregorio del Pilar đến để kiểm tra và phát hiện các tàu cá Trung Quốc tiến hành khai thác san hô, sò tai tượng và cá mập bất hợp pháp. Phía Trung Quốc điều tàu hải giám đến cản trở việc bắt giữ tàu cá và căng thẳng gia tăng. Cả 2 bên đều điều thêm tàu quân sự và dân sự đến khu vực. Sau 2 tháng căng thẳng trên biển, dưới sự trung gian của Mỹ về việc 2 bên rút tàu của mình ra khỏi khu vực. Philippines tuân thủ và tiến hành rút tàu, tuy nhiên, Trung Quốc đã không rút tàu và tiến hành kiểm soát trên thực tế thực thể ngầm này thông qua việc xua đuổi, dựng rào nổi/phao chắn cản trở tàu của Philippines tiến hành tiếp cận thực thể này cũng khu vực lòng hồ của thực thể để đánh cá nhưng không tiến hành đồn trú hoặc xây dựng công trình phục vụ việc đồn trú trên cấu trúc này. Việc Trung Quốc chiếm giữ và quản lý trên thực tế là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến việc Philippines khởi kiện Trung Quốc năm 2013.

Sau khi Chính quyền Duterte nắm quyền và “tạm gác” Phán quyết sang một bên để cải thiện quan hệ với Trung Quốc, Trung Quốc đã “tạo thuận lợi” để ngư dân Philippines được đánh cá ở lòng hồ phía trong Bãi cạn cũng như khu vực có xung quanh. Tuy nhiên, sau này, mỗi khi quan hệ giữa hai nước căng thẳng, Trung Quốc thường hạn chế ngư dân Philippines đánh bắt ở khu vực này. Đồng thời, Trung Quốc duy trì liên tục tàu Cảnh sát biển giám sát khu vực này (năm 2024 là 313/365 ngày).

Năm 2022-2024, Trung Quốc thả phao để ngăn toàn bộ các lối vào Bãi cạn. Philippines cho lực lượng Cảnh sát biển cắt một số đoạn phao và cộng đồng quốc tế cũng đã chứng kiến rất nhiều vụ việc các lực lượng chấp pháp Trung Quốc phun vòi rồng, truy đuổi, đâm va, đánh đập ngư dân Philippines khi họ đánh cá tại khu vực này. Tháng 11/2024, Trung Quốc cho công bố đường cơ sở của Bãi Scarborough và ngày 11/8 vừa qua, trong quá trình xua đuổi tàu cảnh sát biển của Philippines tại đây, tàu khu trục của Trung Quốc đã va chạm với tàu Cảnh sát biển củaTrung Quốc khiến tàu Cảnh sát biển Trung Quốc hư hỏng nặng. Ngay sau đó 3 hôm, tàu chiến Mỹ thực hiện FONOP tại khu vực này.

Theo thông báo của phía Trung Quốc, Quốc vụ viện Trung Quốc đồng ý thành lập Khu Bảo tồn Thiên nhiên Quốc gia Đảo Hoàng Nham. Việc thành lập Khu Bảo tồn Thiên nhiên Quốc gia Đảo Hoàng Nham là biện pháp bảo đảm quan trọng nhằm duy trì tính đa dạng, ổn định và bền vững của hệ sinh thái tự nhiên Đảo Hoàng Nham. Các sở, ban, ngành và địa phương liên quan phải nghiêm túc thực hiện “Quy định của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về Khu Bảo tồn Thiên nhiên” và các quy định khác về xây dựng và quản lý khu bảo tồn thiên nhiên, nghiêm túc thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường và sinh thái, tăng cường lãnh đạo và phối hợp tổ chức, hoàn thiện thể chế quản lý, tăng cường giám sát và thực thi pháp luật đối với mọi hoạt động bất hợp pháp và trái phép liên quan đến khu bảo tồn thiên nhiên, đảm bảo thực hiện đầy đủ các biện pháp quản lý và không ngừng cải thiện việc xây dựng và quản lý khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia.

Khu vực Trung Quốc thiết lập Khu Bảo tồn Thiên nhiên có diện tích khoảng 3523,67 ha (3,5 km2), ở phía Đông Bắc của Bãi cạn Scarborough và án ngữ cửa chính mà tàu thuyền lớn có thể ra vào Bãi cạn[M1]  (sơ đồ kèm theo), trong đó khu vực lõi là 1.242,55 ha và diện tích thực nghiệm là 2.281,12 ha. Đối tượng bảo vệ chính là hệ sinh thái rạn san hô.

Phản ứng của các nước:

Ngày 11/9/2025, Bộ Ngoại giao Philippines ra thông cáo phản đối một cách mạnh mẽ” việc phía Trung Quốc thành lập “Khu bảo tồn thiên nhiên đảo Huangyan”, đồng thời khẳng định Bãi cạn Scarborough là “một phần từ lâu đời và không thể tách rời của Philippines”. Thông cáo cũng khẳng định phía Philippines sẽ có công hàm phản đối hành động “phi lý và trái phép của Trung Quốc”, kêu gọi Trung Quốc tôn trọng chủ quyền và quyền tài phán của Philippines đối với thực thể này, tuân thủ Công ước Liên hơp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982), Phán quyết Tòa trọng tài quốc tế 2016 và Tuyên bố về ứng xử của các bên trên biển Đông (DOC) 2002. Cố vấn Hội đồng An ninh Quốc gia Eduardo Año cáo buộc hành động của Trung Quốc đi ngược lại Công ước Luật biển 1982, Phán quyết của Tòa Trọng tài quốc tế 2016 về vấn đề Biển Đông và DOC 2002. Ông Año nhấn mạnh hành động của Trung Quốc giống như một bước chuẩn bị để chiếm đóng hơn là bảo vệ môi trường và nhấn mạnh: “Việc bảo vệ Bãi cạn Scarborough một cách thực sự cần có sự hợp tác, minh bạch và tôn trọng luật pháp quốc tế, không phải tuyên bố đơn phương nhằm hạn chế quyền ra vào bãi cạn đối với ngư dân Philippines dưới cái mác bảo tồn”. Dư luận Philippines phản đối mạnh mẽ việc làm nêu trên của Trung Quốc.

Ngày 12/9/2025, Ngoại trưởng Mỹ ra tuyên bố khẳng định “Mỹ ủng hộ đồng minh Philippines của chúng tôi trong việc bác bỏ kế hoạch gây bất ổn của Trung Quốc nhằm thành lập một “khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia” tại Bãi cạn Scarborough. Việc Bắc Kinh tuyên bố Bãi cạn Scarborough là khu bảo tồn thiên nhiên là một nỗ lực cưỡng ép khác nhằm thúc đẩy các yêu sách lãnh thổ và hàng hải sâu rộng ở Biển Đông, gây bất lợi cho các nước láng giềng, bao gồm cả việc ngăn cản ngư dân Philippines tiếp cận các ngư trường truyền thống này. Hành động của Trung Quốc tại Bãi cạn Scarborough tiếp tục làm suy yếu sự ổn định khu vực. 

Mỹ kêu gọi Trung Quốc tuân thủ phán quyết nhất trí của Tòa trọng tài năm 2016 rằng Trung Quốc đã ngăn cản bất hợp pháp ngư dân Philippines tham gia hoạt động đánh bắt cá truyền thống tại Rạn san hô Scarborough, đây là phán quyết cuối cùng và có tính ràng buộc về mặt pháp lý đối với cả hai Bên.” Cùng với đó, Canada, Úc, Nhật Bản cũng có nội dung lên án việc làm này của Trung Quốc.

Hành động leo thang nguy hiểm mới ở Biển Đông

Việc bảo vệ môi trường nói chung, trong đó có môi trường biển là trách nhiệm của các quốc gia được quy định trong Công ước Luật biển 1982. Tuy nhiên, một trong những nguyên tắc căn bản của Công ước Luật Biển 1982 là việc các quốc gia trong mọi hoạt động trên biển phải tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của quốc gia ven biển. Đồng thời, trong khu vực Biển Đông, ASEAN và Trung Quốc đã nhất trí thông qua DOC, trong đó yêu cầu các quốc gia không có hành động làm phức tạp an ninh, hòa bình, ổn định trong khu vực. Việc Trung Quốc lấy cớ thiết lập Khu bảo tồn để “bảo vệ môi trường, bảo vệ rạn san hô” rõ ràng đi ngược lại các nguyên tắc, nội dung và tinh thần của các văn kiện nêu trên.

Không chỉ thế, các quốc gia trong và ngoài khu vực đều đã chứng kiến các hành động lặp đi lặp lại trong một thời gian dài của Trung Quốc trong việc sử dụng các hoạt động trên thực địa để củng cố cái gọi là “chủ quyền và các lợi ích biển chính đáng của mình”. Có lẽ phải nhắc lại, chính Trung Quốc là người đã tạo cớ và chiếm giữ thực tế Bãi cạn Scarborough từ Philippines năm 2012. Với việc thiết lập khu bảo tồn, chắc chắn Trung Quốc sẽ thi hành các biện pháp mạnh tay trên thực địa để “bảo vệ” Khu bảo tồn. Năm 2021, khi thông qua Luật Cảnh sát biển, Trung Quốc đã trao cho lực lượng Cảnh sát biển của nước này trên 10 nhiệm vụ, thẩm quyền, trong đó có quyền tiến hành các biện pháp cưỡng chế để bảo vệ môi trường biển trong phạm vi “quyền tài phán” của nước này ở Biển Đông.

Gần đây, mức độ sử dụng vũ lực của các lực lượng chấp pháp của Trung Quốc đối với Philippines gia tăng một cách đáng kể. Trung Quốc đã nhiều lần sử dụng vòi rồng để cản trở Philippines tiếp tế cho lực lượng đồn trú ở Cỏ Mây và ngày 11/8/2025 vừa qua, đã tiến hành truy đuổi tàu Cảnh sát biển Philippines ở khu vực Scarborough dẫn đến việc chính hai tàu chiến và Cảnh sát biển của Trung Quốc va chạm với nhau, gây thiệt hại nặng cho tàu Cảnh sát biển Trung Quốc. Với việc sử dụng vũ lực thường xuyên như vậy, việc Trung Quốc gia tăng lực lượng để bảo vệ Khu vực bảo tồn này là điều có thể dự đoán được.

Trong bối cảnh tình hình quốc tế và khu vực đang có nhiều diễn biến phức tạp, xu thế đơn phương sử dụng vũ lực gia tăng, việc Trung Quốc thiết lập Khu bảo tồn ở Scarborough là bước đi nguy hiểm, tạo ra nhiều hệ lụy lâu dài, có thể tác động tiêu cực đến tình hình khu vực Biển Đông. Các quốc gia ven biển và cộng đồng quốc tế cần cảnh giác cao độ./.


 [M1]Cửa vào ở phía Tây Nam bãi cạn, nên khu bảo tồn k thể nói là án ngữ cửa chính.

]]>
Canada tăng cường hiện diện ở khuc vực, thắt chặt quan hệ quốc phòng với Philippines và tác động tới Biển Đông https://biendong.net/2025/10/08/canada-tang-cuong-hien-dien-o-khuc-vuc-that-chat-quan-he-quoc-phong-voi-philippines-va-tac-dong-toi-bien-dong/ Wed, 08 Oct 2025 01:10:00 +0000 https://biendong.net/?p=158982 Nhằm thúc đẩy chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương được thông qua năm 2022, thời gian gần đây Canada tăng cường sự hiện diện tại khu vực này và thắt chặt quan hệ quốc phòng với Philippines để làm bàn đạp can dự sâu hơn vào khu vực.

Từ đầu năm 2025, Hải quân Canada điều tàu khu trục lớp Halifax HMCS Ottawa thực hiện nhiệm vụ “thúc đẩy hòa bình, ổn định và trật tự quốc tế dựa trên luật lệ” ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, vốn được biết đến với tên gọi “Chiến dịch Horizon” của các lực lượng vũ trang Canada. Tháng 1/2025, tàu này đã tiến hành cuộc tập trận chung với Hải quân Mỹ ở Biển Đông và đi gần bãi cạn Scarborough, một điểm nóng căng thẳng giữa Trung Quốc và Philippines. Tàu khu trục HMCS Ottawa cũng tham gia tập trận La Perouse 25 – một cuộc tập trận đa quốc gia do Pháp dẫn đầu – tại vùng biển gần quần đảo Indonesia.

Tàu hải quân Canada

Tàu HMCS Ottawa bắt đầu năm 2025 bằng cuộc tập trận chung với tàu chiến Mỹ ở Biển Đông. Bộ tư lệnh tác chiến chung Canada ra thông báo trên trang X cho biết từ ngày 8-11/1/2025, tàu hải quân Canada HMCS Ottawa đã hoàn thành cuộc tập trận chung với tàu khu trục USS Higgins của Hải quân Mỹ trong bối cảnh căng thẳng ở Biển Đông, cuộc tập trận có mật danh là “Noble Wolverine”. Theo thông báo, cả hai tàu đều “di chuyển qua vùng biển quốc tế của Biển Đông trong khi tiến hành các cuộc tập trận liên lạc, hoạt động bay và huấn luyện tác chiến chống tàu ngầm”.

Tàu khu trục lớp Halifax HMCS Ottawa cũng đã di chuyển gần bãi cạn Scarborough, nơi hải cảnh Trung Quốc và lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines đã tham gia vào trò chơi mèo vờn chuột trong nhiều tuần. Chuỗi rạn san hô đang tranh chấp nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines nhưng nằm dưới sự kiểm soát trên thực tế của Trung Quốc từ năm 2012. Bắc Kinh đã triển khai tàu Hải cảnh lớn nhất của mình, được gọi là “Quái vật” vì kích thước khổng lồ của nó, đến khu vực này kể từ đầu năm, mà Manila coi là “một hành động đe dọa, cưỡng ép và xâm lược”.

Theo tuyên bố của Hạm đội 7 Mỹ, “Noble Wolverine” chứng minh “cam kết chung của hai nước Mỹ và (Canada) đối với một Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở”, đồng thời nói thêm rằng các hoạt động song phương như vậy mang lại “cơ hội có giá trị để huấn luyện, thực hành và phát triển khả năng tương tác chiến thuật” giữa các lực lượng hải quân đồng minh và đối tác trong khu vực.

Từ ngày 1 đến 4/2/2025, tàu khu trục lớp Halifax HMCS Ottawa của Hải quân Canada, với 240 thủy thủ đoàn, đã cập Cảng tự trị Sihanoukville thực hiện chuyến thăm đầu tiên tới Campuchia. Adriano Lozer, Chỉ huy trưởng tàu HMCS Ottawa, đánh giá cao chuyến thăm này và coi đây là minh chứng cho sự can dự ngày càng tăng của Canada vào khu vực khi nhấn mạnh: “Chuyến thăm này cho phép chúng tôi chứng minh rõ ràng cam kết quốc phòng lâu dài đối với khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và tăng cường vai trò của Canada như một đối tác quốc tế đáng tin cậy”.

Thong Mengdavid, nhà phân tích địa chính trị và Giáo sư tại Viện Quan hệ quốc tế và Nghiên cứu chính sách công thuộc Đại học Hoàng gia Phnom Penh cho rằng: “Chuyến thăm đánh dấu một cử chỉ thiện chí và nỗ lực tăng cường quan hệ song phương giữa Campuchia và Canada. Mặc dù Campuchia trước nay vẫn cẩn thận duy trì sự cân bằng trong các hoạt động quân sự với các cường quốc nước ngoài, nhưng những chuyến thăm như vậy có thể thúc đẩy nhận thức tích cực về hợp tác quân sự quốc tế, đặc biệt là trong các lĩnh vực như an ninh hàng hải, hỗ trợ nhân đạo và xây dựng năng lực”. Ông Thong Mengdavid nói thêm rằng chuyến thăm này phù hợp với mục tiêu rộng lớn hơn của Canada là tăng cường sự hiện diện của mình tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, như đã nêu trong Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Bằng cách hợp tác với Campuchia, Canada thể hiện cam kết của mình đối với an ninh khu vực, hợp tác đa phương và tăng cường quan hệ ngoại giao.

Chỉ huy tàu Adriano Lozer nhấn mạnh: “Là một thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Campuchia đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì ổn định khu vực. Chuyến thăm của HMCS Ottawa giúp củng cố quan hệ của chúng tôi và đẩy mạnh cam kết chung của chúng tôi đối với trật tự quốc tế dựa trên luật lệ. Là một quốc gia Thái Bình Dương, củng cố quan hệ mạnh mẽ với các đối tác khu vực là một ưu tiên, và chúng tôi đặc biệt sốt sắng hợp tác với Campuchia trong tương lai”.

Tàu HMCS Ottawa tham gia cuộc tập trận đa quốc gia La Perouse 25 – cuộc tập trận hàng hải có sự tham gia của 9 quốc gia do Hải quân Pháp dẫn đầu vào ngày 24/1/2025. Cuộc tập trận diễn ra tại Eo biển Malacca, Sunda và Lombok, nơi nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Có 13 tàu từ các nước Australia, Canada, Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Singapore, Anh, Mỹ và nhóm tác chiến tàu sân bay Charles De Gaulle của Pháp đã tham gia cuộc tập trận, trong đó tập trung vào nội dung huấn luyện an toàn hàng hải. Sau khi kết thúc cuộc tập trận La Perouse 25, tàu HMCS Ottawa đã ghé thăm Indonesia trước khi thăm Campuchia.

Cùng với việc điều tàu chiến tới hoạt động dài ngày ở khu vực, Canada còn tích cực thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc phòng với Philippines. Theo thông báo của Bộ Quốc phòng Philippines và Bộ các vấn đề toàn cầu Canada, Manila và Ottawa đã kết thúc các cuộc đàm phán liên quan tới thỏa thuận về Quy chế cho các lực lượng thăm viếng (SOVFA) giữa hai bên vào tháng 3/2025, cho phép lực lượng hai nước tiến hành các cuộc tập trận chung và tăng cường hợp tác. Các cuộc đàm phán này được tổ chức sau khi hai nước đã ký bản ghi nhớ Hợp tác quốc phòng hồi tháng 1/2024.

Việc Canada và Philippines cùng phối hợp về SOVFA nói trên sẽ cho phép mỗi bên cùng hợp tác trong các lĩnh vực chung có lợi cho pháp quyền, hợp tác quốc phòng và an ninh, cũng như hòa bình và ổn định ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Theo Bộ trưởng Quốc phòng Canada Bill Blair, việc hoàn tất thỏa thuận này là dấu mốc quan trọng đối với mối quan hệ song phương Canada-Philippines khi hai nước kỷ niệm 75 năm quan hệ ngoại giao trong năm 2024.

Theo Bộ Quốc phòng Philippines, thỏa thuận với Canada “sẽ thiết lập một khuôn khổ hợp tác gia tăng, thúc đẩy sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa các cơ quan quốc phòng và quân sự, nâng cao khả năng tương tác giữa các lực lượng và tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc tập trận chung hiệu quả hơn cũng như các hoạt động nâng cao năng lực”. Bộ trưởng Quốc phòng Gilberto Teodoro cho biết Philippines sẽ tiếp tục xây dựng các liên minh an ninh nhằm ngăn chặn sự gây hấn của Trung Quốc. Ông Teodoro nhấn mạnh các hành động thù địch của Bắc Kinh có thể dẫn đến việc hạn chế hoạt động trên Biển Đông, một tuyến đường thương mại quan trọng đối với chuỗi cung ứng toàn cầu.

Trong số các lĩnh vực mà biên bản ghi nhớ về Hợp tác quốc phòng đề cập tới có giáo dục quân sự, trao đổi đào tạo, chia sẻ thông tin, hoạt động gìn giữ hòa bình và ứng phó thảm họa. Văn bản này là một dấu hiệu rõ ràng cho thấy Canada sẵn sàng hợp tác với Philippines và nó tiếp nối một thỏa thuận khác được ký năm 2023, mở rộng quyền truy cập Hệ thống phát hiện tàu ẩn (Dark Vessel Detection System) của Canada cho Trung tâm giám sát bờ biển quốc gia Philippines. Theo đó, Canada cung cấp cho Philippines quyền truy cập vào Hệ thống phát hiện tàu ẩn, sử dụng công nghệ vệ tinh để theo dõi các tàu bất hợp pháp ngay cả khi chúng vô hiệu hóa thiết bị phát tín hiệu định vị. Do vậy, lực lượng tuần duyên Philippines đã sử dụng công nghệ của Canada để theo dõi các tàu Hải cảnh Trung Quốc và tàu đánh cá trên Biển Đông.

 Quy chế cho các lực lượng thăm viếng (SOVFA) là yêu cầu pháp lý để Philippines hợp tác với quân đội Canada trong các cuộc tập trận quân sự chung và các sự kiện liên quan đến quân sự khác mà không vi phạm hiến pháp. Theo khoản 25, Điều 18, Hiến pháp Philippines không công nhận sự hiện diện của quân đội hay căn cứ nước ngoài trừ khi có một hiệp ước được cả Thượng viện và Hạ viện nước này chính thức phê chuẩn. Giới chuyên gia nhận định việc hoàn tất SOVFA giữa Philippines và Canada tạo điều kiện cho Hải quân Canada tham gia nhiều hơn vào các hoạt động tuần tra và tập trận chung ở Biển Đông nhằm thúc đảy trật tự dựa trên luật lệ.

Việc phê chuẩn SOVFA do đó cho phép lực lượng vũ trang Philippines có cơ hội huấn luyện và phối hợp cùng với các đối tác của họ trong lực lượng vũ trang Canada. Ngoài ra, nó còn cho phép Philippines có cơ hội đa dạng hóa các đối tác an ninh của họ và giảm sự phụ thuộc vào Mỹ trong bối cảnh căng thẳng hàng hải đang diễn ra trên Biển Đông. Vào tháng 8/2024, lực lượng Hải quân và Không quân Canada và Philippines đã tham gia cùng Australia và Mỹ trong các cuộc diễn tập không quân và hải quân nhằm đảm bảo hoạt động đi lại không bị cản trở trên vùng biển quốc tế thuộc Biển Đông và thúc đẩy khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương Tự do và Rộng mở.

Đây không phải là động thái duy nhất mà Manila thực hiện để tìm kiếm quyền tự chủ chiến lược lớn hơn. Philippines và Nhật Bản đã ký thỏa thuận Tiếp cận Đối ứng (RAA) vào tháng 7/2024 và Thượng viện Philippines đã phê chuẩn văn kiện này ngày 16/12/2024 (nhưng Quốc hội Nhật Bản hiện vẫn chưa thông qua). Ngoài ra, Philippines và New Zealand đã hoàn tất đàm phán SOVFA giữa hai nước hôm 20/1/2025 và đã ký kết hiệp định này vào tháng 4/2025. Philippines cũng đang thảo luận về một thỏa thuận tương tự với Pháp. Bộ trưởng Quốc phòng Teodoro cho biết Philippines có thể tìm kiếm các SOVFA với các quốc gia khác như Đức, Ấn Độ và Singapore.

Canada sẽ được hưởng lợi khi có được một đồng minh ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, qua đó hoàn thành một trong những mục tiêu của Chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của mình, trong đó kêu gọi xây dựng các mối quan hệ hợp tác mới dựa trên an ninh. Đối với Philippines, Canada được coi là đối tác an ninh đáng tin cậy và là một đồng minh sẵn sàng ủng hộ Philippines qua các kênh ngoại giao trong bối cảnh tranh chấp Biển Đông.

Việc Canada tăng cường hiện diện ở khu vực cũng như nâng cấp quan hệ hợp tác quốc phòng với Philippines tác động tích cực tới cục diện Biển Đông, thể hiện trên một số điểm sau:

Thứ nhất, giới phân tích nhận định với việc hoàn tất SOVFA giữa Manila và Ottawa, Philippines được coi là mắt xích quan trọng để Canada can dự sâu hơn vào Biển Đông. Việc thắt chặt quan hệ quốc phòng giữa Philippines và Canada trở thành yếu tố quan trọng để Manila đối phó với những hành vi hung hăng của Bắc Kinh ở Biển Đông, góp phần thúc đẩy trật tự dựa trên luật lệ ở Biển Đông.

Thứ hai, thêm một đồng minh quan trọng của Mỹ tham gia sâu vào Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và Biển Đông tạo ra cục diện đa phương trong việc ngăn chặn sự mở rộng bành trướng của Bắc Kinh. Mỹ không chỉ một mình cùng đồng minh Philippines trong cuộc đối đầu với Trung Quốc ở Biển Đông mà sẽ có sự tham gia của nhiều đồng minh tới. Với việc tăng cường quan hệ quốc phòng với Philippines, Canada sẽ tham gia nhiều hơn vào các cuộc tuần tra, tập trận song phương và đa phương ở Biển Đông để kiềm chế Trung Quốc.

Thứ ba, việc Canada tăng cường hiện diện ở khu vực và ký với Philippines SOVFA sẽ khích lệ các đồng minh khác của Mỹ ở châu Âu như Anh, Đức, Ý, Hà Lan… tham gia vào “mặt trận” chống bành trướng của Trung Quốc ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nói chung và Biển Đông nói riêng. Canada và các đồng minh châu Âu khác của Mỹ cũng có thể mở rộng hợp tác quốc phòng với các đối tác khác ven Biển Đông, góp phần quốc tế hoá, đa phương hoá các tranh chấp ở Biển Đông.

]]>
Xung quanh việc Bắc Kinh thiết lập “Khu bảo tồn thiên nhiên” tại bãi cạn Scarborough https://biendong.net/2025/10/06/xung-quanh-viec-bac-kinh-thiet-lap-khu-bao-ton-thien-nhien-tai-bai-can-scarborough/ Mon, 06 Oct 2025 13:09:00 +0000 https://biendong.net/?p=161789 Ngày 10/9/2025, Chính phủ Trung Quốc thông báo đã phê chuẩn quyết định thành lập khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia tại Bãi cạn Scarborough và sẽ tăng cường giám sát và thực thi pháp luật đối với mọi hoạt động vi phạm pháp luật.

Giới chuyên gia cho rằng động thái của Bắc Kinh không chỉ là phản ứng trước những cáo buộc của bên ngoài cho rằng nước này đang phá hoại môi trường sinh thái của Biển Đông, mà là sự củng cố hơn nữa tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với bãi cạn Scarborough thông qua các biện pháp pháp lý.

Thông báo của Chính phủ Trung Quốc nêu rõ đây là sự bảo đảm quan trọng cho việc duy trì tính đa dạng, ổn định và bền vững của hệ sinh thái tự nhiên ở Bãi cạn Scarborough. Các ban ngành và địa phương liên quan phải thực hiện nghiêm túc các quy định về khu bảo tồn thiên nhiên và quy định về xây dựng, quản lý khu bảo tồn thiên nhiên của Trung Quốc, đồng thời tăng cường giám sát và thực thi pháp luật đối với mọi hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến khu bảo tồn thiên nhiên, đảm bảo thực hiện các biện pháp quản lý đa dạng và không ngừng nâng cao trình độ xây dựng và quản lý khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia.

Cũng trong ngày 10/9, Cục Lâm nghiệp và Thảo nguyên Quốc gia Trung Quốc đã công bố diện tích, phạm vi và phân vùng chức năng của khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia tại bãi cạn Scarborough. Tọa lạc tại thành phố Tam Sa, tỉnh Hải Nam, khu bảo tồn có diện tích 3.523,67 ha, trong đó diện tích lõi chiếm 35% và phần còn lại là khu vực thí nghiệm, trong đó đối tượng bảo vệ chính là hệ sinh thái rạn san hô. Theo luật hiện hành của Trung Quốc, không một đơn vị hoặc cá nhân nào được phép vào các khu vực lõi của khu bảo tồn thiên nhiên, ngoại trừ các hoạt động nghiên cứu khoa học đã được phê duyệt, khu vực thí nghiệm có thể được sử dụng cho các thí nghiệm khoa học, thực tập giảng dạy, tham quan và kiểm tra, du lịch, cũng như thuần hóa và nhân giống các loài động vật và thực vật hoang dã quý hiếm và có nguy cơ tuyệt chủng.

Động thái này của Bắc Kinh diễn ra sau khi Trung Quốc và Philippines xảy ra nhiều va chạm ở vùng biển liên quan đến Bãi cạn Scarborough. Bắc Kinh và Manila cũng đang tố cáo nhau gay gắt về vấn đề ai đang hủy hoại môi trường sinh thái ở Biển Đông. Sau khi Trung Quốc kiểm soát Bãi cạn Scarborough vào năm 2012, Philippines đã nhiều lần cáo buộc ngư dân Trung Quốc đánh bắt cá trái phép bằng chất độc xyanua ở vùng biển gần đó, gây thiệt hại cho các rạn san hô.

Tháng 5/2024, Philippines đã yêu cầu Trung Quốc cho quốc tế giám sát các vấn đề môi trường tại Bãi cạn Scarborough. Đáp lại, Bắc Kinh đã công bố báo cáo khảo sát sinh thái và môi trường tại Bãi cạn Scarborough vào tháng 7/2024, bác bỏ các cáo buộc từ bên ngoài và khẳng định môi trường sinh thái ở vùng biển xung quanh bãi cạn này có chất lượng tốt và hệ sinh thái rạn san hô rất khỏe mạnh. Sau khi Manila ban hành luật mới vào tháng 11/2024 để củng cố các tuyên bố về chủ quyền và lợi ích biển của mình, Bắc Kinh đã ngay lập tức công bố đường cơ sở lãnh hải của Bãi cạn Scarborough và tái khẳng định chủ quyền đối với bãi cạn này.

Trong thời gian gần đây, Trung Quốc đã triển khai các tàu hải quân và hải cảnh nhằm ngăn chặn Philippines tiếp cận Bãi cạn Scarborough, dẫn đến một loạt cuộc đối đầu, va chạm giữa hai bên. Vụ việc gần đây nhất xảy ra vào ngày 11/8/2025 khi Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines cho biết một tàu của Lực lượng hải cảnh Trung Quốc đã phun vòi rồng vào tàu Philippines và va chạm với tàu hải quân Trung Quốc trong khi đang truy đuổi một tàu tuần tra Philippines. Ngay sau vụ va chạm, tàu khu trục USS Higgins và tàu tác chiến cận bờ USS Cincinnati của Mỹ đã xuất hiện ở vùng biển này vào ngày 13/8. Hải quân Trung Quốc cho biết đã cảnh báo và xua đuổi tàu Mỹ, trong khi đó, Hạm đội 7 thuộc Hải quân Mỹ khẳng định “các quyền hàng hải và tự do hàng hải” gần Bãi cạn Scarborough “phù hợp với luật quốc tế”, đồng thời nhấn mạnh “Mỹ đang bảo vệ quyền bay, qua lại và hoạt động ở bất cứ nơi nào luật pháp quốc tế cho phép, như USS Higgins đã làm ở đây. Bất kỳ lời lẽ nào của Trung Quốc cũng không thể ngăn cản chúng tôi”.

Trong tuyên bố ngày 11/9, Bộ Ngoại giao Philippines cho biết: “Philippines phản đối mạnh mẽ việc Quốc vụ viện Trung Quốc gần đây đã phê duyệt thành lập cái gọi là “Khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia đảo Hoàng Nham”; gọi hành động của Trung Quốc là “bất hợp pháp và phi pháp”, đồng thời cáo buộc Bắc Kinh xâm phạm quyền và lợi ích của Manila; nhấn mạnh: “Philippines sẽ chính thức gửi công hàm phản đối hành động phi pháp này của Trung Quốc”. Cố vấn an ninh quốc gia Philippines, Eduardo Año, khẳng định hành động của Trung Quốc “không hẳn là bảo vệ môi trường mà chủ yếu là biện minh cho việc kiểm soát một khu vực vốn là một phần lãnh thổ và vùng biển của Philippines”. 

Mỹ cũng nhanh chóng lên án động thái mới này của Trung Quốc. Ngày 12/9, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Marco Rubio ra tuyên bố nêu rõ: “Mỹ sát cánh cùng đồng minh Philippines trong việc bác bỏ kế hoạch gây bất ổn của Trung Quốc nhằm lập một “khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia” tại Bãi cạn Scarborough. Việc Bắc Kinh tuyên bố Bãi cạn Scarborough là khu bảo tồn thiên nhiên là một nỗ lực cưỡng ép khác nhằm thúc đẩy các yêu sách lãnh thổ và hàng hải sâu rộng ở Biển Đông, gây thiệt hại cho các nước láng giềng, gồm cả việc ngăn cản ngư dân Philippines tiếp cận các ngư trường truyền thống này. Những hành động của Trung Quốc tại Bãi cạn Scarborough tiếp tục làm suy yếu sự ổn định khu vực”. Ngoại trưởng Mỹ yêu cầu Bắc Kinh tuân thủ Phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài về vụ kiện Biển Đông – vốn tuyên bố Trung Quốc cản trở một cách bất hợp pháp hoạt động đánh bắt truyền thống của ngư dân Philippines tại khu vực này.

Tiếp theo Mỹ, phái đoàn Liên minh châu Âu tại Manila cũng ra tuyên bố ủng hộ Philippines, kêu gọi Trung Quốc ngừng các hành động “làm thay đổi nguyên trạng”, tuân thủ phán quyết của Tòa Trọng tài năm 2016 về các tranh chấp ở Biển Đông, bác bỏ các yêu sách chủ quyền của Trung Quốc với gần trọn khu vực này.

Ngay sau động thái lập khu bảo tồn thiên nhiên của Trung Quốc, ba nước Mỹ, Nhật và Philippines tiến hành tập trận ở ngoài khơi tỉnh Zambales, gần khu vực Bãi cạn Scarborough diễn ra từ ngày 11 đến ngày 13/09. Theo Quân đội Philippines, tham gia cuộc diễn tập có tàu hộ tống BRP Jose Rizal, một trực thăng chống tàu ngầm, một máy bay tìm kiếm cứu nạn, một máy bay thuộc lực lượng Giám sát và Trinh sát và bốn máy bay chiến đấu. Trong khi đó, Mỹ cử tàu khu trục trang bị tên lửa USS John Finn, một máy bay tuần tra P-8A Poseidon và hai trực thăng. Nhật Bản điều tàu đổ bộ JS Osumi.

Quân đội Philippines cho biết trong cuộc diễn tập lần này các bên đã tiến hành bài tập: kiểm tra thông tin liên lạc, hoạt động ngăn chặn/cho phép tàu thuyền qua lại, bài tập tác chiến chống tàu ngầm, đổ bộ, các bài tập ngăn chặn và giải tỏa tàu trên mặt nước. Trong một tuyên bố liên quan, quân đội Philippines khẳng định cuộc tập trận “không chỉ nhằm tăng cường khả năng tương tác giữa các lực lượng tham gia mà còn tái khẳng định cam kết kiên định của Manila trong việc bảo vệ lợi ích hàng hải cũng như duy trì hòa bình và an ninh trong khu vực”. Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Mỹ (USINDOPACOM) nhấn mạnh Mỹ và các đồng minh phối hợp “duy trì quyền tự do hàng hải và hàng không, cũng như các hoạt động hợp pháp khác trên biển và không phận quốc tế”.

Cuộc tập trận khiến Bắc Kinh hết sức tức giận, Người phát ngôn Bộ Tư lệnh Chiến khu miền Nam của quân đội Trung Quốc lên tiếng yêu cầu Philippines phải ngay lập tức chấm dứt việc khiêu khích và leo thang căng thẳng ở Biển Đông nhấn mạnh: “Chúng tôi nghiêm khắc cảnh báo phía Philippines phải ngay lập tức ngừng khiêu khích, ngừng làm gia tăng căng thẳng ở Biển Đông, cũng như chấm dứt việc lôi kéo các thế lực bên ngoài ủng hộ những hành động vô ích đó. Bất kỳ nỗ lực nào nhằm gây rối hay phá hoại tình hình đều sẽ không thành công”.

Sau khi tuyên bố thiết lập “khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia” tại Bãi cạn Scarboroughchưa đầy 1 tuần, hôm 16/9/2025, Người phát ngôn Hải cảnh Trung Quốc Cam Vũ cáo buộc hơn 10 tàu Philippines đã “xâm phạm bất hợp pháp hải phận Trung Quốc gần bãi Scarborough từ nhiều hướng khác nhau”. Ông Cam Vũ cho rằng tàu tuần duyên Philippines số hiệu 3014 đã “không tuân theo cảnh báo nghiêm túc từ phía Trung Quốc, và cố tình đâm vào một tàu Hải cảnh Trung Quốc”. Người phát ngôn Hải cảnh Trung Quốc còn ngang nhiên tuyên bố Trung Quốc đã dùng biện pháp xịt vòi rồng nhằm vào tàu Philippines.

Một số chuyên gia nhận định những dấu hiệu nói trên cho thấy việc Trung Quốc thiết lập “khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia” tại Bãi cạn Scarborough không có nhiều ý nghĩa đối với việc bảo vệ môi trường biển nhưng lại khiến Biển Đông trở nên căng thẳng hơn. Bãi cạn Scarborough nằm trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Philippines, là khu vực nổi tiếng với nguồn cá dồi dào và một đầm phá màu ngọc lam, vốn là nơi trú ẩn an toàn cho tàu thuyền mỗi khi có bão. Phán quyết năm 2016 của Toà Trọng tài vụ kiện về Biển Đông đã xác định Scarborough là ngư trường truyền thống của các nước ven Biển Đông, ngư dân của các nước Philippines và Việt Nam có quyền đánh bắt ở khu vực này. Tuy nhiên, sau khi chiếm Scarborough từ tay Philippines năm 2012, Trung Quốc đã kiểm soát và ngăn cản ngư dân các nước vào đánh bắt ở khu vực này.

 Ngư dân Philippines cho biết họ lo sợ kế hoạch thành lập khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia của Trung Quốc tại Bãi cạn Scarborough sẽ khiến họ bị “quấy rối” nhiều hơn và khó hoạt động hơn ở khu vực này, vốn đã nằm dưới sự giám sát liên tục của tàu Trung Quốc. Ngư dân Philippines Mariano Cardenio, 57 tuổi với ba thập kỷ đánh bắt ở bãi cạn, bày tỏ: “Ngay cả bây giờ chúng tôi cũng đã bị quấy rối rồi… Rồi chúng tôi sẽ còn bị bắt nạt nhiều hơn nữa”.

Các chuyên gia cảnh báo, với việc thiết lập “khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia”, Trung Quốc chắc chắn sẽ tăng cường các hành động được gọi là “thực thi pháp luật” tại bãi cạn Scarborough trong tương lai và có thể áp dụng các biện pháp đối phó nghiêm ngặt hơn đối với các hành động của tàu cá và tàu công vụ của Philippines ở khu vực này với giọng điệu vu cáo là “gây tổn hại đến môi trường biển tại vùng biển này”. Koh Swee Lean Collin, nghiên cứu viên cao cấp tại Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam thuộc Đại học Công nghệ Nanyang ở Singapore, cho biết động thái thành lập khu bảo tồn thiên nhiên tại Bãi cạn Scarborough của Trung Quốc có thể là phản ứng trước cuộc va chạm giữa tàu hải cảnh và tàu chiến Trung Quốc hôm 11/8. Trong bối cảnh chưa có bất kỳ hoạt động xây dựng thực chất nào, Bắc Kinh hy vọng sẽ tăng cường hơn nữa việc quản lý hành chính đối với bãi cạn Scarborough thông qua các biện pháp pháp lý, qua đó đưa các hành vi vi phạm pháp luật có liên quan vào phạm vi thực thi pháp luật và hình thành mối liên hệ về mặt thể chế với Luật Hải cảnh của Trung Quốc và các hướng dẫn thực thi pháp luật tiếp theo được Bắc Kinh đưa ra vào năm 2021. Về việc liệu Trung Quốc có thúc đẩy các dự án cải tạo ở bãi cạn Scarborough trong tương lai hay không, Koh Swee Lean Collin cho rằng khả năng này là thấp vì các khu bảo tồn thiên nhiên có mục đích bảo vệ hệ sinh thái biển, trong khi việc cải tạo lại đi ngược lại điều này. Suy cho cùng, bãi cạn Scarborough đã nằm dưới sự kiểm soát thực tế của Trung Quốc kể từ năm 2012 và Bắc Kinh cũng lo ngại việc cải tạo ở bãi cạn này này sẽ gây ra nỗi lo ngại về quân sự hóa đối với các nước trong và ngoài khu vực vực trong đó có Mỹ.

]]>
Mối liên hệ giữa Biển Đông và Đài Loan trong chiến lược thống trị khu vực của TQ https://biendong.net/2025/10/06/moi-lien-he-giua-bien-dong-va-dai-loan-trong-chien-luoc-thong-tri-khu-vuc-cua-tq/ Mon, 06 Oct 2025 04:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=161785 Diễn biến tình hình địa chính trị ở khu vực, đặc biệt là vấn đề an ninh hàng hải thời gian qua cho thấy một sự thật rõ ràng: Biển Đông không chỉ là một không gian biển đang có tranh chấp, mà còn là bối cảnh cho một cuộc khủng hoảng  đang hình thành và phát triển – một cuộc khủng hoảng gắn chặt với tham vọng lâu nay của Bắc Kinh là sáp nhập Đài Loan.

Khi Trung Quốc gia tăng căng thẳng trong khu vực, thật khó để không kết luận rằng Bắc Kinh đang đặt nền móng cho hành động quân sự cuối cùng nhằm vào hòn đảo mà họ coi là một tỉnh ly khai này.

Chiến dịch gây sức ép của Trung Quốc đang diễn ra trên nhiều mặt trận – pháp lý, kinh tế và đặc biệt là quân sự. Những gì chúng ta đang thấy không phải là sự thể hiện sức mạnh hải quân ngẫu nhiên, mà là một chiến lược đe doạ, cưỡng chế có chủ đích – được thiết kế để gây xáo trộn các tác nhân trong khu vực, làm lung lay quyết tâm của quốc tế và bình thường hóa sự hiện diện quân sự của Trung Quốc gần Đài Loan và trên khắp khu vực rộng lớn hơn ở Biển Đông.

Biển Đông là một trong những tuyến hàng hải nhộn nhịp nhất thế giới, với khoảng 1/3 lượng tàu thuyền toàn cầu đi qua đây. Hàng nghìn tỷ USD thương mại đi qua tuyến đường này hàng năm. Nơi đây cũng giàu nguồn tài nguyên thủy sản và được cho là có trữ lượng dầu khí đáng kể. Tuy nhiên, Trung Quốc đã tuyên bố chủ quyền gần như toàn bộ vùng biển này – một tuyên bố bắt nguồn từ cái gọi là “Đường 9 đoạn”, vốn đã bị Tòa Trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII Công ước Liên hợp quốc về Luật biển bác bỏ vào năm 2016. Phán quyết này khẳng định không có cơ sở pháp lý nào cho các yêu sách biển bành trướng của Trung Quốc ở Biển Đông. Không có gì ngạc nhiên khi Bắc Kinh hoàn toàn bác bỏ phán quyết này.

Kể từ đó, trong những năm qua, Trung Quốc đã ráo riết quân sự hóa các đảo nhân tạo ở quần đảo Trường Sa, lắp đặt hệ thống radar, vũ khí phòng không và xây dựng đường băng có khả năng chứa máy bay phản lực chiến đấu và máy bay ném bom tầm xa. Trung Quốc thường xuyên quấy rối các tàu của Việt Nam và Philippines, bám đuôi các tàu chiến của Mỹ đang tiến hành các hoạt động tự do hàng hải và đâm vào các tàu thuyền dân sự.

Tháng 4/2024, Philippines đã trao công hàm ngoại giao phản đối mạnh mẽ việc các tàu tuần duyên Trung Quốc sử dụng vòi rồng và tia laser chống lại các tàu Philippines đang hoạt động gần rạn san hô trong vùng đặc quyền kinh tế của Manila. Những sự cố tương tự đã gia tăng trong những tháng gần đây. Gần đây hơn, quân đội Philippines còn công bố đoạn video cho thấy các tàu Trung Quốc đã chặn đường tiếp tế cho quân đội Philippines đang đồn trú trên một tàu chiến cũ neo đậu ở một rạn san hô.

Trong khi thế giới đang tập trung chú ý vào các hành động khiêu khích hàng ngày ở Biển Đông, thì một cái bóng nguy hiểm hơn đang bao trùm Đài Loan. Tháng 5/2024, sau lễ nhậm chức của Tổng thống Lại Thanh Đức – người có khuynh hướng thiên về Mỹ, Bắc Kinh đã tiến hành các cuộc tập trận quân sự quy mô lớn bao quanh hòn đảo, mô phỏng một cuộc phong tỏa trong những gì được coi là một hình phạt đối với ông Lại Thanh Đức khi không chịu chấp nhận nguyên tắc “một Trung Quốc”. Thông điệp này không thể nhầm lẫn: đây là sự tập dượt cho hành vi cưỡng ép, không chỉ còn là vở kịch chính trị.

Kể từ khi ông Lại Thanh Đức nhậm chức, điều ngày càng trở nên rõ ràng là các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông giống như một cuộc tập dượt cho một tình huống bất ngờ ở Đài Loan. Các cuộc khảo sát được thực hiện ở Đài Loan thường cho thấy phần lớn dân chúng tin rằng Đài Loan sẽ không bị xâm lược trong thời gian tới mặc dù một số chuyên gia trong những năm gần đây dự báo rằng một cuộc tấn công vào hòn đảo này có thể diễn ra vào năm 2027.

Theo tờ “Taiwan Today”, thời hạn nghĩa vụ quân sự ở Đài Loan đã được người tiền nhiệm của ông Lại, Tổng thống Thái Anh Văn, kéo dài từ 4 tháng trước đó lên 12 tháng vào cuối năm 2022, nhưng vẫn chưa bao gồm phụ nữ trên 18 tuổi; có phần mâu thuẫn với việc Đài Loan được ca ngợi trong bảng Chỉ số về các định chế xã hội và giới tính năm 2023 của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD).

Trong khi đó, Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLAN) đã thử nghiệm khả năng hoạt động xa cảng, tiếp tế trên biển và phối hợp các hoạt động đa ngành. Lực lượng bảo vệ bờ biển của Bắc Kinh, trên danh nghĩa là một cơ quan dân sự, đã biến thành một lực lượng vùng xám có vũ trang. Hoạt động này đang được sử dụng để làm mờ ranh giới giữa thực thi pháp luật và xâm lược quân sự – một chiến thuật mà Trung Quốc có thể sẽ thực hiện tương tự trong một kịch bản được dàn dựng về Đài Loan.

Mối liên hệ giữa hai điểm nóng – Biển Đông và Đài Loan – mang tính chiến lược. Trung Quốc đang tìm cách cô lập Đài Loan về mặt ngoại giao trong khi định hình lại môi trường hàng hải xung quanh theo hướng có lợi cho mình. Mục tiêu của Bắc Kinh là khiến bất kỳ sự can thiệp tiềm tàng nào của Mỹ hoặc các đồng minh của nước này nhằm bảo vệ Đài Loan trở nên khó khăn hơn rất nhiều. Việc kiểm soát Biển Đông mang lại cho Bắc Kinh một vùng đệm chiến lược và một bệ phóng – họ có thể phá vỡ hậu cần, áp đặt các lệnh phong tỏa, và làm phức tạp thêm khả năng tiếp cận của bất kỳ liên minh nào do phương Tây lãnh đạo vào khu vực này.

Trong trường hợp Bắc Kinh xâm lược Đài Loan, việc cả Nhật Bản và Hàn Quốc cho đồn trú hàng chục nghìn quân lính Mỹ ở phía Bắc Biển Đông sẽ ngay lập tức làm gia tăng căng thẳng và mặc dù Đài Bắc đang cố gắng tăng cường quan hệ với Nhật Bản nói riêng trong những năm gần đây, vẫn chưa rõ Tokyo sẽ phản ứng như thế nào trước hành động xâm lược của Trung Quốc đối với Đài Loan.

Một khía cạnh khác trong những nỗ lực đang được Trung Quốc tích cực triển khai nhằm “phân mảnh” hòn đảo 23 triệu dân này là tập trung vào mặt trận thông tin và không gian mạng. Các quan chức Đài Loan đã báo cáo rằng các cuộc tấn công mạng nhằm vào các mạng lưới của chính phủ và các cơ sở hạ tầng đã gia tăng trong và sau các cuộc tập trận vào tháng 5/2024. Đồng thời, phương tiện truyền thông nhà nước Trung Quốc đã khuếch đại các chiến dịch thông tin sai lệch được thiết kế để gieo rắc sự nghi ngờ trong Đài Loan về các cam kết an ninh của Mỹ. Trong khi đó, Bắc Kinh tiếp tục ve vãn các quốc đảo Thái Bình Dương và các thành viên ASEAN bằng các ưu đãi kinh tế, đồng thời trừng phạt nghiêm khắc những nước nào phản kháng theo phương châm “cây gậy và củ cà rốt” truyền thống.

Tuy nhiên, các quốc gia Đông Nam Á, vốn từ lâu đã cảnh giác với việc chống đối Trung Quốc, hiện đã thể hiện quan điểm một cách cởi mở hơn về mối đe dọa này. Philippines hoan nghênh việc Mỹ tăng cường luân chuyển quân đội và các cuộc tuần tra chung, và Nhật Bản, mặc dù hiện đang bị hạn chế bởi hiến pháp hòa bình mà một số người trong Đảng Dân chủ Tự do cầm quyền của Tokyo đang tìm cách sửa đổi, đã cam kết tăng gấp đôi ngân sách quốc phòng. Ngay cả Úc cũng đã lên tiếng cảnh báo về môi trường an ninh “bấp bênh” của khu vực.

Tuy nhiên, những cam kết và tăng cường, cải thiện quốc phòng là chưa đủ. Phương Tây – đặc biệt là Mỹ, Anh và EU – phải làm nhiều hơn nữa để củng cố khả năng răn đe trong khu vực trong việc bảo vệ Đài Loan. Điều đó đồng nghĩa phải có nhiều cuộc tuần tra hàng hải hơn, gửi thông điệp mạnh mẽ và thống nhất hơn trên các diễn đàn quốc tế, và hỗ trợ quân sự và kinh tế lớn hơn cho các đối tác dễ bị tổn thương ở khu vực. Hội nghị thượng đỉnh ba bên gần đây giữa Mỹ, Nhật Bản và Philippines là một khởi đầu đáng hoan nghênh, nhưng cần thực hiện thường xuyên hơn và sâu rộng hơn trong khu vực.

Chiến tranh ở Eo biển Đài Loan sẽ là thảm họa – không chỉ đối với Đài Loan, mà còn đối với thương mại toàn cầu, an ninh khu vực và trật tự pháp lý quốc tế. Như vậy, mục tiêu phải là răn đe, chứ không phải khiêu khích Trung Quốc. Nhưng để răn đe hiệu quả, cần phải chú ý tới những nỗ lực liên tục của Bắc Kinh nhằm gây mất ổn định xung quanh Đài Loan và trên khắp Biển Đông. Các sự cố liên quan đến tàu thuyền Trung Quốc trong khu vực không phải là những sự cố riêng lẻ, mà là các thành tố của một chiến dịch dài hạn. Và ngay cả khi Đài Loan được mô tả là điểm nóng nguy hiểm nhất ở Châu Á, hòn đảo này có thể sẽ là nơi mà tương lai của Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và kéo theo đó là cán cân quyền lực toàn cầu có thể xoay trục. Nếu phương Tây không phản ứng quyết liệt trước hành động gây hấn đang gia tăng của Trung Quốc ở Biển Đông, họ có thể sớm thấy mình bị động trước một thử thách lớn hơn nhiều.

Chính quyền Tổng thống Trump nhiệm kỳ 2 nhận thức rõ mối liên hệ gắn kết giữa vấn đề Biển Đông và Đài Loan trong mưu đồ vượt qua chuỗi đảo thứ nhất (kéo dài từ Nhật Bản qua Đài Loan, Philippines đến Malaysia) nên đang tập trung thiết lập một sự răn đe mới ở khu vực và Philippines được chọn là mắt xích quan trọng để tạo sự răn đe cả ở Biển Đông lẫn Eo biển Đài Loan. Trong chuyến thăm Philippines cuối tháng 3/2025, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth đã tuyên bố rất rõ ràng về quan điểm “hoà bình dựa trên sức mạnh”, theo đó Lầu Năm Góc phối hợp cùng đồng minh và đối tác thiết lập một sự răn đe mới ở khu vực. Ngay sau đó, nhiều vũ khí hiện đại lần đầu tiên đã được Mỹ đưa tới cuộc tập trận Balikatan 2025 (diễn ra từ 21/4 tới 9/5), trong đó nhiều cuộc tập trận được diễn ra ở khu vực đảo Luzon phía Bắc Biển Đông đối diện với Đài Loan. Giới phân tích quân sự nhận định đây được coi là sự chuẩn bị cho những tình huống xấu xảy ra ở Eo biển Đài Loan.

Phát biểu tại Đối thoại Shangri-La lần thứ 9 hôm 31/5/2025, cùng với việc lên án mạnh mẽ hành vi hung hăng của Trung Quốc đe doạ các nước láng giềng ở Biển Đông, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth nhấn mạnh Trung Quốc “đang có những bước chuẩn bị đáng tin cậy để có khả năng sử dụng vũ lực nhằm thay đổi cán cân quyền lực ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Trung Quốc đang chuẩn bị cho khả năng chiếm Đài Loan vào năm 2027 và đang diễn tập cho tình huống thực tế. Bộ trưởng Hegseth tuyên bố: “Bất kỳ nỗ lực nào nhằm sử dụng vũ lực hoặc cưỡng ép để thay đổi nguyên trạng ở chuỗi đảo thứ nhất đều không thể chấp nhận được. Một cuộc xâm lược Đài Loan sẽ dẫn đến hậu quả tàn khốc cho Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và thế giới”. Tại Singapore, ông Hegseth còn cho rằng Đài Loan phải được bảo vệ bằng biện pháp “răn đe thông qua phủ nhận”, tức là bằng cách triển khai đủ vũ khí phòng thủ cơ động để khiến cuộc xâm lược của Trung Quốc trở nên quá tốn kém. Tóm lại, Biển Đông và Đài Loan có mối liên hệ chặt chẽ trong chiến lược vượt qua chuỗi đảo thứ nhất của Bắc Kinh. Nếu khống chế được Biển Đông Trung Quốc hoàn toàn có thể sử dụng quân sự đánh chiếm Đài Loan để vươn ra Thái Bình Dương, ngược lại nếu chiếm được Đài Loan, Bắc Kinh sẽ dễ dàng hơn trong việc thống trị Biển Đông để vượt qua chuỗi đảo thứ nhất tiến ra biển xa. Đây cũng chính là lý do mà Mỹ coi Philippines như một mắt xích quan trọng để ngăn chặn Trung Quốc thay đổi hiện trạng ở khu vực này.

]]>
Biển Đông trước mối đe dọa tấn công mạng từ TQ https://biendong.net/2025/10/05/bien-dong-truoc-moi-de-doa-tan-cong-mang-tu-tq/ Sun, 05 Oct 2025 04:56:00 +0000 https://biendong.net/?p=161782 Việc Trung Quốc tìm mọi cách thực thi cái gọi là “quyền lực” đối với Biển Đông trong những năm gần đây đã dẫn đến căng thẳng với các quốc gia có yêu sách khác như Malaysia, Philippines và Việt Nam. Trong vài năm trở lại đây, Trung Quốc đã sử dụng việc chèn áp quân sự như là “chiến thuật” hàng đầu để củng cố yêu sách của mình.

Tuy nhiên, gần đây nhiều dấu hiệu cho thấy Trung Quốc cũng đồng thời triển khai một công cụ bí mật hơn nhưng ngày càng mạnh mẽ, đó là chiến tranh mạng, để đe dọa, gây ảnh hưởng và thao túng các quốc gia có yêu sách ở Biển Đông.

Đối với Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA), động thái triển khai các hoạt động mạng ở Biển Đông không phải là diễn biến bất ngờ, mà là kết quả của nhiều năm tập trung vào chiến tranh thông tin và xây dựng chuyên môn công nghệ. Trung Quốc thường sử dụng 4 loại chiến thuật tấn công mạng gồm: (i) tấn công từ chối dịch vụ phân tán (DDoS), (ii) phá hoại các trang web và bảng điện tử, (iii) tấn công hệ thống điều khiển công nghiệp (ICS) và (iv) tấn công mã độc tống tiền – mỗi loại đều có những đặc điểm riêng biệt.

Theo giới chuyên gia về an ninh mạng, Biển Đông luôn là trung tâm trong các chiến thuật tấn công mạng của Trung Quốc. Hiện bối cảnh không gian mạng là nơi trú ngụ của một số nhóm tin tặc, chẳng hạn như APT40, APT41, Mustang Panda và Naikon – tất cả đều nhắm mục tiêu vào các quốc gia Đông Nam Á có liên quan đến tranh chấp Biển Đông. Tuy nhiên, nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng, khi căng thẳng ở khu vực tranh chấp leo thang, một số nhóm tin tặc mới có liên quan đến lợi ích của Trung Quốc cũng đã nổi lên và đang tích cực tham gia vào các hoạt động không gian mạng, đặc biệt là chống lại các quốc gia có yêu sách ở Biển Đông, gây ra các mối đe dọa an ninh mạng nghiêm trọng. Trong số đó có Cluster Alpha, Cluster Bravo, Cluster Charlie, Unfading Sea Haze và Earth Longzhi.

Một báo cáo do Sophos – công ty trong lĩnh vực đổi mới và cung cấp dịch vụ an ninh mạng – công bố đã xem xét một loạt cuộc xâm nhập mạng trong 2 năm của các nhóm tin tặc Trung Quốc do nhà nước bảo trợ (Cluster Alpha, Cluster Bravo và Cluster Charlie) nhắm vào cơ quan chính phủ của một nước Đông Nam Á để tìm kiếm thông tin về chiến lược của quốc gia này liên quan đến Biển Đông đang tranh chấp.

Giới chuyên gia an ninh mạng chỉ ra rằng các nhóm tin tặc này đã cố gắng thu thập các tài liệu có giá trị tình báo, bao gồm các tài liệu quân sự liên quan đến chiến lược ở Biển Đông. Tương tự, các tác nhân đe dọa an ninh mạng như Unfading Sea Haze được cho là đã thực hiện một loạt cuộc tấn công mạng vào 8 tổ chức quân sự và chính phủ ở các quốc gia xung quanh Biển Đông. Earth Longzhi, một nhóm tin tặc thuộc APT41, đã tích cực nhắm mục tiêu vào nhiều quốc gia Đông Nam Á, đặc biệt là các quốc gia có yêu sách chồng chéo ở Biển Đông, kể từ khi nó xuất hiện vào năm 2020.

Đáng chú ý, Salt Typhoon – một trong những nhóm tin tặc mới của Trung Quốc – gần đây đã trở nên nổi tiếng với các cuộc tấn công mạng nhắm vào Mỹ cũng như các quốc gia Đông Nam Á, bao gồm Philippines, Việt Nam, Malaysia và Indonesia, kể từ năm 2023, chủ yếu tấn công lĩnh vực viễn thông.

Sự gia tăng các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông trong những năm gần đây đã dẫn đến sự leo thang đáng kể trong các cuộc tấn công mạng nhắm vào các quốc gia xung quanh Biển Đông. Các hoạt động mạng của Trung Quốc thường nhằm mục đích tấn công quốc gia mục tiêu về mặt tâm lý để định hình quá trình ra quyết định của đối thủ. Một trong những chiến lược định hình môi trường thông tin của Trung Quốc là tác động đến dư luận để ủng hộ và thúc đẩy các mục tiêu chính trị của Trung Quốc. Một ví dụ điển hình của chiến lược này là khi tin tặc có liên hệ với Trung Quốc được cho là đã tạo ra một đoạn ghi âm giả giọng Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. chỉ thị cho quân đội hành động chống lại Trung Quốc. Mục đích là để khuấy động căng thẳng và khiến người ta có cảm giác Philippines đang chuẩn bị cho xung đột, mặc dù không có chỉ thị nào như vậy thật sự được ban hành. Các chiến thuật không gian mạng mới làm nổi bật sự nhấn mạnh của tin tặc Trung Quốc vào việc tích hợp các công nghệ tiên tiến, chẳng hạn như trí tuệ nhân tạo (AI).

Trong số các quốc gia có yêu sách ở Biển Đông, Philippines phải chịu nhiều sức ép nhất từ các cuộc tấn công mạng của Trung Quốc. Điều này là do lập trường cứng rắn mà họ đã thực hiện trong việc khẳng định chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mình, khiến họ thường xuyên trở thành mục tiêu của các cuộc tấn công mạng của Trung Quốc. Một báo cáo gần đây của Resecurity – một công ty giải pháp an ninh mạng có trụ sở tại Mỹ – đã nêu bật mức tăng đột biến các cuộc tấn công mạng ở Philippines lên 325% vào đầu năm 2024 so với cuối năm 2023. Các hình thức bao gồm vi phạm dữ liệu (55%), các chiến dịch thông tin sai lệch (35%) và các cuộc tấn công DDoS (10%), trong đó rò rỉ thông tin nhạy cảm là mối lo ngại đáng kể của công chúng. Cơ quan thực thi pháp luật, các bộ và trường đại học của Philippines bị ảnh hưởng nặng nề nhất, trùng với thời điểm căng thẳng gia tăng ở Biển Đông.

Trong khi các mối đe dọa an ninh mạng ngày càng trở thành một phần trong chiến lược của Trung Quốc, thì việc áp dụng chúng ở Biển Đông có thể bắt nguồn từ gần một thập kỷ trước. Vào năm 2012, trong cuộc đối đầu ở Bãi cạn Scarborough và Quần đảo Trường Sa, một cuộc va chạm giữa các tàu của Philippines và các tàu tuần tra của Trung Quốc đã dẫn đến một cuộc xung đột mạng. Sau sự kiện này, tin tặc Trung Quốc đã làm hỏng trang web của Đại học Philippines, thay thế bằng một bản đồ hiển thị bãi cạn đang tranh chấp được ghi bằng chữ Trung Quốc. Vụ việc này đã dẫn đến cả Trung Quốc và Philippines đều tham gia vào các cuộc tấn công mạng lẫn nhau.

Năm 2019, APT10 – một nhóm gián điệp mạng khác của Trung Quốc hoạt động từ năm 2009 – đã triển khai 2 loại phần mềm độc hại cụ thể nhắm vào các tổ chức chính phủ và tư nhân tại Philippines. Hiệp hội Phân tích Philippines (AAP) đã tìm thấy các tập lệnh có nguồn gốc từ Trung Quốc được nhúng vào các trang web của Chính phủ Philippines, bao gồm cả văn phòng tổng thống và cảnh sát quốc gia, được thiết kế để chặn dữ liệu và giám sát hoạt động. Các cuộc tấn công này là kết quả của cuộc xung đột giữa hai nước tại Bãi cạn Sa Bin thuộc Quần đảo Trường Sa vào năm 2019.

Ngoài Philippines, Việt Nam đã thu hút sự chú ý của tin tặc Trung Quốc, đặc biệt là trong thời gian căng thẳng gia tăng ở Biển Đông. Năm 2017, nhóm tin tặc 1973CN, bị nghi ngờ có liên quan đến lợi ích của Trung Quốc, đã tiến hành hoạt động gián điệp mạng nhằm vào các cơ quan, tổ chức Việt Nam bằng cách sử dụng email lừa đảo được liên kết đến phần mềm độc hại và máy chủ của Trung Quốc đã được xác định trước đó. Những diễn biến này trùng hợp với các mối đe dọa của Trung Quốc đối với các tiền đồn của Việt Nam tại Quần đảo Trường Sa liên quan đến các hoạt động khoan thăm dò gây tranh cãi.

Vào năm 2020, một nhóm tin tặc khác có tên là Pirate Panda đã nhắm mục tiêu vào các quan chức Chính phủ Việt Nam bằng các email lừa đảo được ngụy trang dưới dạng lời mời tham dự sự kiện. Các cuộc tấn công này nhằm đánh cắp dữ liệu nhạy cảm bằng cách khai thác các ngày lễ của Việt Nam, phản ánh nỗ lực tập trung thu thập thông tin tình báo về lập trường của Việt Nam đối với Biển Đông. Cuộc tấn công này diễn ra trong bối cảnh căng thẳng gia tăng về Quần đảo Hoàng Sa đang tranh chấp ở Biển Đông, với cả hai quốc gia đều tuyên bố chủ quyền đối với khu vực này.

Các cuộc tấn công này chứng minh rằng xung đột trên biển và không gian mạng luôn song hành với nhau. Chúng cũng cho thấy năng lực của Trung Quốc trong việc tận dụng các khả năng không gian mạng để thúc đẩy các mục tiêu địa chính trị của mình trong khu vực.

Tuy nhiên, không phải quốc gia tranh chấp nào cũng phải chịu mối đe doạ này. Malaysia vẫn nằm ngoài tầm ngắm tấn công mạng của Trung Quốc bằng cách áp dụng một con đường ngoại giao khác biệt trong khi vẫn tiếp tục đầu tư vào phòng thủ an ninh mạng. Theo “Chỉ số an ninh mạng quốc gia” (NCSI), Malaysia là quốc gia có năng lực an ninh mạng cao nhất Đông Nam Á, đạt 79,22 trên 100 điểm, so với 36,36 điểm của Việt Nam và 63,64 điểm của Philippines.

Điều này có thể là nhờ các bước đi cụ thể mà quốc gia này đã thực hiện. Ví dụ, Cơ quan An ninh mạng Chính phủ Malaysia (CyberSecurity Malaysia) đã thống nhất các nỗ lực an ninh mạng bằng cách phối hợp giữa khu vực công và tư. Ngoài ra, quan hệ đối tác công-tư chặt chẽ của Malaysia còn giúp thúc đẩy việc chia sẻ thông tin hiệu quả và cho phép tiếp cận chủ động đối với các mối đe dọa mới nổi. Quốc gia này cũng ưu tiên các chương trình nâng cao nhận thức của công chúng để đảm bảo công dân và doanh nghiệp hiểu được các rủi ro an ninh mạng, tạo ra một nền văn hóa cảnh giác. Ngoài việc đầu tư vào việc tăng cường phòng thủ mạng của đất nước và có yêu sách ở Biển Đông, cách tiếp cận ngoại giao độc đáo và tránh đối đầu với Trung Quốc đã có lợi cho Malaysia, giúp nước này bảo vệ các mối quan hệ kinh tế và tránh bị rơi vào tầm ngắm.

Trong khi các nước Đông Nam Á đã ứng phó với làn sóng đe dọa an ninh mạng đang gia tăng này bằng cách tăng cường khuôn khổ an ninh mạng, tăng cường hợp tác khu vực và tìm kiếm sự hỗ trợ quốc tế, thì các quốc gia như Philippines và Việt Nam – vốn có lập trường cứng rắn và kiên định về vấn đề Biển Đông, vẫn phải chịu rủi ro do lỗ hổng an ninh mạng. Do đó, để bù đắp cho những tác động ngày càng tăng trong lĩnh vực an ninh mạng, các quốc gia dễ bị tổn thương phải hành động nhiều hơn, đặc biệt chú trọng xây dựng năng lực phòng thủ an ninh mạng của mình. Dựa trên các thực tiễn của Malaysia, Việt Nam và Philippines có thể thiết kế một cách tiếp cận vững chắc, thích ứng và thống nhất hơn đối với an ninh mạng trước mối đe dọa tấn công mạng ngày càng gia tăng từ Trung Quốc.

Ngoài ra, mới đây giới chuyên gia cũng cảnh báo cần hết sức thận trọng với DeepSeek liên quan tới vấn đề Biển Đông. DeepSeek – mô hình trí tuệ nhân tạo mã nguồn mở do Trung Quốc tự phát triển và chatbot có sự hỗ trợ của AI vừa ra mắt của mô hình này đang làm dậy sóng thị trường công nghệ toàn cầu. Tuy nhiên, DeepSeek bị chính quyền Bắc Kinh kiểm soát về nội dung liên quan tới các vấn đề nhạy cảm, bao gồm Biển Đông. Giới chuyên gia đã phát hiện ra điều này khi kiểm tra kiến thức về Biển Đông của mô hình này. Khi đặt câu hỏi “Biển Đông là gì?” Câu trả lời xuất hiện gần như ngay lập tức: “Biển Đông là một biển cận biên, một phần của Thái Bình Dương. Biển này bao gồm một khu vực tính từ các eo biển Singapore và Malacca đến eo biển Đài Loan”. Chatbot tiếp tục giải thích rằng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa “tuyên bố chủ quyền đối với một phần lớn của vùng biển này trong cái gọi là “đường chín đoạn”, nhưng tuyên bố này bị các nước khác trong khu vực phản đối và “không được luật pháp quốc tế công nhận, đặc biệt là sau phán quyết năm 2016 của Tòa trọng tài vụ kiện về Biển Đông. Phán quyết kết luận rằng tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc là không có cơ sở pháp lý theo UNCLOS.” Nhưng câu trả lời này đã biến mất gần như ngay lập tức và nhường chỗ cho một mẫu trả lời soạn sẵn: “Xin lỗi, điều này vượt quá phạm vi hiện tại của tôi. Chúng ta hãy nói về cái gì đó khác”. Ông Greg Poling, một nhà phân tích biển thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế tại Washington cho biết không ngạc nhiên về điều này và cho rằng: “Tôi không thể nói rằng mình là một chuyên gia về học máy nhưng tôi đoán là DeepSeek sẽ né tránh tất cả các chủ đề được xem là “nhạy cảm” ở Trung Quốc”. Trong bối cảnh công nghệ thông tin đang phát triển mạnh mẽ và được ứng dụng vào mọi hoạt động của đời sống xã hội thì Trung Quốc đã và đang tận dụng triệt để ưu thế công nghệ của mình để triển khai chiến tranh mạng hay dùng công nghệ AI để thao túng các vấn đề liên quan tới Biển Đông nhằm thúc đẩy các yêu sách phi lý của họ ở Biển Đông, đặt các nước ven Biển Đông đối mặt mối đe doạ từ các cuộc tấn công mạng hay bóp méo sự thật về Biển Đông.

]]>
Bắc Kinh đang sử dụng vấn đề môi trường như một công cụ để thống trị Biển Đông https://biendong.net/2025/10/04/bac-kinh-dang-su-dung-van-de-moi-truong-nhu-mot-cong-cu-de-thong-tri-bien-dong/ Sat, 04 Oct 2025 04:10:00 +0000 https://biendong.net/?p=161779 Là đối tượng phá hoại chính đối với môi trường biển ở Biển Đông khi thực hiện nạo vét bồi đắp, mở rộng các cấu trúc đang chiếm đóng trong hơn 10 năm qua, song Bắc Kinh lại luôn viện dẫn mục đích bảo vệ môi trường biển để biện minh cho các hoạt động bành trướng của mình tại Biển Đông và thậm chí các vùng biển xa hơn. Giới quan sát nhận định Bắc Kinh không hướng đến việc bảo vệ môi trường biển; đây chỉ là một trong những chiêu bài Bắc Kinh sử dụng để mở rộng lãnh thổ và chiếm đoạt tài nguyên.

Giới luật gia cho rằng, trong cuộc cạnh tranh ngày càng gay gắt về tài nguyên biển và mối quan tâm ngày càng cao của cộng đồng quốc tế về bảo vệ, bảo tồn môi trường và đa dạng sinh thái biển trước, Trung Quốc đang thúc đẩy các biện pháp và lập luận về môi trường nhằm hiện thực hoá các yêu sách bất hợp pháp. Biển Đông là nơi thể hiện rõ ràng nhất chiến lược này của Trung Quốc, nơi Bắc Kinh không ngừng khẳng định các yêu sách biển trái với luật pháp quốc tế và UNCLOS và đã bị Tòa Trọng tài thành lập theo Phụ lục VII UNCLOS bác bỏ năm 2016.

Bất chấp phán quyết này, Bắc Kinh vẫn thường xuyên viện dẫn lý do môi trường để củng cố các yêu sách bất hợp pháp. Lệnh cấm đánh bắt cá do Bắc Kinh đơn phương áp đặt từ tháng 5 đến tháng 8 hằng năm là một dẫn chứng điển hình. Trung Quốc thường khẳng định lệnh cấm này là nhằm bảo tồn tài nguyên nghề cá, tuy nhiên với phạm vi bao trùm cả EEZ của Philippines và Việt Nam, lệnh cấm này hoàn toàn vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của các các quốc gia này theo UNCLOS. Hàng năm, nhiều quốc gia ở Biển Đông phản đối lệnh cấm đánh bắt cá quá mức này, nhưng Trung Quốc liên tục phản ứng một cách cứng rắn, thể hiện sự coi thường và bất chấp của Bắc Kinh đối với các phán quyết pháp lý quốc tế không phù hợp với lợi ích của mình.

Tương tự, Bắc Kinh biện minh cho các dự án tôn tạo các cấu trúc ở Quần đảo Trường Sa là nhằm bảo vệ môi trường; các đảo nhân tạo và cơ sở hạ tầng đi kèm tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông vận tải hàng hải quốc tế trong khu vực. Tuy nhiên, việc xây dựng các đảo nhân tạo và quân sự hoá các cấu trúc này với những đường băng, cầu cảng lớn đã phá hủy các rạn san hô và hệ sinh thái biển quan trọng. Đây hoàn toàn không phải là đang quản lý, bảo vệ mà chính là hành động phá hoại môi trường biển có tính toán để tạo ra các tiền đồn quân sự và củng cố các yêu sách biển quá mức của Bắc Kinh.

Cái gọi là sự quản lý của Trung Quốc được ngụy trang dưới danh nghĩa bảo vệ môi trường, thực chất chỉ là những nỗ lực nhằm khẳng định và thực thi quyền kiểm soát lãnh thổ và vùng biển. Bằng cách bắt giữ ngư dân nước ngoài, áp đặt các lệnh cấm đánh bắt cá tùy tiện và triển khai lực lượng hải cảnh, dân quân biển dưới chiêu bài bảo tồn biển. Chiến thuật “quyền lực mềm” này cho phép Bắc Kinh từng bước củng cố các yêu sách quá mức của mình mà không cần trực tiếp sử dụng đến xung đột quân sự để thúc đẩy mục tiêu và tham vọng của mình.

Philippines và Việt Nam đã phản đối chiến thuật này của Bắc Kinh, trong khi Malaysia và Indonesia tăng cường sự hiện diện hải quân để đáp lại các cuộc xâm nhập của Bắc Kinh với việc sử dụng chiến tranh pháp lý môi trường. Các quốc gia này coi những biện minh về sinh thái của Bắc Kinh là vỏ bọc cho việc chiếm đoạt lãnh thổ. Các nước này đã kêu gọi việc thực thi UNCLOS mạnh mẽ hơn trên trường quốc tế và tăng cường hợp tác khu vực thông qua các cơ quan như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Tuy nhiên, sức mạnh kinh tế và quân sự của Trung Quốc trong khu vực khiến việc đối phó trở thành một vấn đề đầy thách thức đối với các quốc gia nhỏ hơn.

Trung Quốc đã tiêu thụ 60.541 tấn cá vào năm 2022, gấp bốn lần so với quốc gia tiêu thụ cao nhất tiếp theo. Đội tàu đánh bắt xa bờ khổng lồ của Trung Quốc, lớn nhất thế giới, đặt ra một mối đe dọa môi trường đáng kể thông qua hoạt động đánh cá bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) trên diện rộng. Đội tàu này, được Bắc Kinh trợ cấp, đã làm cạn kiệt nghiêm trọng trữ lượng cá trên toàn cầu, đặc biệt là ở vùng biển của các quốc gia đang phát triển – vốn thiếu nguồn lực để thực thi pháp luật trong vùng EEZ của mình.

Tác động đối với môi trường từ các đội tàu cá Trung Quốc là rất lớn, vì các tàu của Trung Quốc sử dụng các phương pháp phá hoại như lưới kéo đáy, bắt giữ bừa bãi tất cả sinh vật biển trên đường đi và tàn phá các hệ sinh thái mỏng manh. Việc làm cạn kiệt tài nguyên một cách hung hăng này hoàn toàn trái ngược với cam kết đã nêu của Trung Quốc về phát triển bền vững và quản trị đại dương quốc tế, cho thấy một sự đạo đức giả đáng lo ngại.

Mặc dù Trung Quốc đã tham gia các hiệp ước quốc tế như Hiệp định Biện pháp quốc gia có cảng để chống lại hoạt động đánh bắt cá IUU, nhưng quy mô lớn của các hoạt động gây hại và việc báo cáo sản lượng thấp hơn thực tế cho thấy sự khác biệt đáng kể giữa các chính sách đã nêu và các hoạt động thực tế của nước này. Điều này không chỉ làm suy yếu các nỗ lực bảo tồn toàn cầu mà còn tước đoạt các nguồn thực phẩm và sinh kế kinh tế quan trọng của ngư dân các nước ven biển khác, làm nổi bật bản chất không bền vững và bất bình đẳng sâu sắc của dấu chân đánh bắt cá toàn cầu của Trung Quốc.

Trung Quốc biến việc bảo vệ môi trường thành vũ khí không phải xuất phát từ tinh thần trách nhiệm nhân đạo toàn cầu. Đó là một hình thức chiến tranh pháp lý có tính toán và nguy hiểm được thiết kế để mở rộng phạm vi lãnh thổ và khẳng định sự thống trị toàn cầu. Bằng cách lợi dụng những mối quan tâm chung về bảo vệ môi trường, Bắc Kinh đang thao túng luật pháp quốc tế, làm suy yếu chủ quyền các quốc gia ven biển và đe dọa sự ổn định toàn cầu, đồng thời tham gia vào một số hoạt động cải tạo đất và đánh bắt cá phá hoại nhất thế giới.

Tại Biển Đông, một mặt Trung Quốc gia tăng các hoạt động hung hăng xâm lấn, cưỡng ép các nước láng giềng để củng cố hiện diện thực địa. Mặt khác, để tạo dựng hình ảnh một cường quốc có trách nhiệm Trung Quốc triển khai một số dự án bảo vệ sinh thái biển hay nghiên cứu khoa học môi trường ở các vùng tranh chấp, đồng thời tích cực sử dụng diễn ngôn “xanh hóa”, phát triển bền vững, bảo vệ đa dạng sinh học trong công tác tuyên truyền về bảo vệ môi trường biển.

Trung Quốc cũng triển khai các hoạt động bảo tồn sinh thái tại các đảo nhân tạo mà mình chiếm đóng trái phép (đặc biệt tại Đá Chữ Thập, Đá Vành Khăn),  đơn phương thiết lập các “khu bảo tồn biển” (Marine Protected Areas – MPA) trong phạm vi yêu sách “đường chín đoạn”; tiến hành các chuyến khảo sát môi trường biển và khai thác tài nguyên sinh học dưới danh nghĩa “nghiên cứu khoa học”, mà thực chất là nhằm xâm phạm vùng biển của các quốc gia khác và gia tăng kiểm soát trên thực địa. Trong khi đó, Bắc Kinh tìm cách ngăn cản các nước ven Biển Đông khác tiến hành nghiên cứu khoa học biển. Gần đây nhất tháng 1/2025, Trung Quốc cho tàu hải cảnh quấy rồi khiến Philippines phải dừng hoạt động khảo sát ở gần đảo Thị Tứ thuộc quần đảo Trường Sa hiện đang do Philippines đóng giữ.

Giới phân tích nhận định việc Trung Quốc sử dụng vấn đề môi trường như một công cụ trong chiến lược Biển Đông là một hình thái quyền lực mềm có tính toán, nhằm hợp pháp hóa yêu sách chủ quyền, củng cố hiện diện, và thay đổi thực tế chiến lược theo hướng có lợi cho Bắc Kinh. Đây là một dạng “chiến tranh vùng xám” thông qua sinh thái, mà nếu không được nhận diện và phản ứng kịp thời, có thể dẫn đến hậu quả lâu dài trong việc thiết lập một trật tự biển do Trung Quốc dẫn dắt.

Trong bối cảnh Trung Quốc đang sử dụng yếu tố môi trường để thúc đẩy tham vọng kiểm soát Biển Đông, các chuyên gia pháp lý, nhà hoạch định chính sách và cộng đồng quốc tế phải đoàn kết để vạch trần và chống lại các chiến thuật lừa dối và chiến tranh pháp lý về môi trường. Các quốc gia ASEAN, nhất là những nước có yêu sách, cần nhận thức rõ về chiến lược này, tăng cường hợp tác, phối hợp, xây dựng một chiến lược rõ ràng, kiên quyết nhưng linh hoạt nhằm đối phó với các thách thức từ Trung Quốc trong vấn đề môi trưởng.

]]>
Bắc Kinh sử dụng cách răn đe mới trên Biển Đông https://biendong.net/2025/10/03/bac-kinh-su-dung-cach-ran-de-moi-tren-bien-dong/ Fri, 03 Oct 2025 14:36:00 +0000 https://biendong.net/?p=161772 Trong bối cảnh tình hình Biển Đông không ngừng leo thang căng thẳng do việc Trung Quốc gia tăng những hành vi hung hăng bắt nạt láng giềng và vấp phải sự chống trả quyết liệt của Philippines, giới cầm quyền Bắc Kinh đã áp đặt lệnh trừng phạt đối với một đồng minh chủ chốt của Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr, người đóng vai trò quan trọng trong việc thông qua đạo luật các vùng biển của Philippines. Động thái này được coi là một hành vi gây hấn chính trị và được các nhà quan sát cho rằng là một cách làm hết sức thô thiển, ngạo mạn.

Bắc Kinh cáo buộc cựu Thượng nghị sĩ Francis Tolentino – người đã tranh cử không thành công vào Thượng viện trong liên danh của Tổng thống Marcos hồi tháng 5 – vì đã có những hành vi được cho là không thể chấp nhận được liên quan đến vấn đề Biển Đông. Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho biết Tolentino sẽ bị cấm nhập cảnh vào Trung Quốc, Hong Kong và Ma Cao khi công bố lệnh trừng phạt vào ngày 01/7/2025. Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố: “Trong một thời gian khá dài, vì lợi ích cá nhân, một số ít chính trị gia chống Trung Quốc ở Philippines đã đưa ra những nhận xét và hành động ác ý về các vấn đề liên quan đến Trung Quốc, gây tổn hại đến lợi ích của Trung Quốc cũng như quan hệ Trung Quốc – Philippines”.

Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho rằng Tolentino đã có “hành vi tồi tệ về các vấn đề liên quan đến Trung Quốc”, nhưng lại không chỉ rõ nhà lập pháp Philippines đã có những hành động cụ thể nào để dẫn đến quyết định này. Tuyên bố từ phía Trung Quốc nhấn mạnh: “Chính phủ Trung Quốc kiên quyết bảo vệ chủ quyền, an ninh và lợi ích phát triển quốc gia”. Tolentino đã vận động tranh cử với lập trường chủ nghĩa dân tộc, chất vấn hành vi hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông.

Cựu Thượng nghị sĩ Francis Tolentino còn cáo buộc đại sứ quán Trung Quốc tại Manila có liên quan đến hoạt động thao túng dư luận thông qua việc ký hợp đồng với một công ty điều hành các “trang trại troll”, nhằm lan truyền thông tin sai lệch trong nước. Hồi tháng 1/2024, ông Tolentino đã cáo buộc Trung Quốc lừa dối cộng đồng quốc tế khi cho rằng Philippines đang để Mỹ lợi dụng như một “quân cờ” trong cuộc chạy đua giành ảnh hưởng ở vùng biển chiến lược này.

Các chuyên gia cho rằng bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia là trách nhiệm của mỗi người dân, chỉ có những kẻ hèn nhát mới luồn cúi bán rẻ tổ quốc. Việc ông Tolentino lên án các hành động hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông là việc làm bình thường của mỗi công dân khi chủ quyền, quyền chủ quyền đất nước bị xâm hại. Thực ra, ông Tolentino cũng chẳng cần đến Trung Quốc, Hồng Kông hay Ma Cao làm gì, hành động trừng phạt ông Tolentino là cách hành xử đê tiện của giới cầm quyền Bắc Kinh, có thể làm bùng phát tư tưởng bài Hoa trong dân chúng Philippines.

Philippines là đồng minh lâu đời vững chắc của Mỹ trong khu vực. Hai quốc gia này bị ràng buộc bởi Hiệp ước Phòng thủ Chung có từ năm 1951. Hiệp ước này quy định cả hai bên phải hỗ trợ lẫn nhau trong thời điểm bị tấn công. Washington đã khẳng định sẽ không ngần ngại đứng về phía Manila trong trường hợp xảy ra xung đột với bất kỳ kẻ gây hấn nào, kể cả Trung Quốc. Các điều khoản của hiệp ước đã được điều chỉnh trong những năm gần đây. Năm ngoái, Washington đã tái khẳng định rằng hiệp ước bao gồm cả các cuộc tấn công nhằm vào Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Philippines (PCG), sau khi Mỹ cáo buộc rằng Trung Quốc có những “hành động leo thang và vô trách nhiệm” khi cản trở một đoàn tiếp tế của Philippines đến tiền đồn ở Bãi Cỏ Mây.

Tuy nhiên, cả Trung Quốc và Philippines vẫn nỗ lực giải quyết những bất đồng thông qua con đường ngoại giao, cụ thể là qua “cơ chế tham vấn song phương” được thiết kế để hạ nhiệt căng thẳng giữa hai quốc gia hàng hải ở châu Á này. Dù cơ chế này vẫn đang hoạt động, song Trung Quốc không ngừng đưa tàu hải cảnh, tàu dân quân biển, tàu khảo sát nghiên cứu, kể cả tàu chiến vào hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế Philippines (EEZ) thuộc Biển Tây Philippines (cách Philippines gọi Biển Đông). Trong khi đó, Manila tiếp tục tìm kiếm sự ủng hộ từ đồng minh Mỹ và các quốc gia “cùng chí hướng” trên thế giới, bao gồm Australia, Anh, Pháp, Canada, Đức… cũng như Nhật Bản – quốc gia cũng có tranh chấp biển riêng với Bắc Kinh.

Diễn biến mới xung quanh vụ việc trừng phạt ông Francis Tolentino dường như đang gây thêm áp lực đối với chính phủ của Tổng thống Marcos, vốn đã “xoay trục trở lại” vòng tay của Mỹ – trái ngược hoàn toàn với chính sách của chính quyền tiền nhiệm Rodrigo Duterte, người từng công khai ủng hộ Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, thậm chí gạt bỏ phán quyết pháp lý vào năm 2016, trong đó bác bỏ hầu hết yêu sách trên biển của Trung Quốc.

Trớ trêu thay, ông Duterte hiện đang bị giam giữ ở La Hay vì tội ác chống lại loài người liên quan đến cuộc chiến chống ma túy khiến hàng nghìn người thiệt mạng. Động thái trừng phạt lần đầu tiên đối với một chính trị gia Philippines được Bắc Kinh đưa ra giữa lúc nội bộ Philippines có sự đấu tranh mạnh của phe thân Bắc Kinh chống lại Tổng thống Marcos cho thấy Trung Quốc đang tìm cách phân hoá, chia rẽ nội bộ Philippines.

Việc Bắc Kinh trừng phạt ông Francis Tolentino là nhằm tạo sự răn đe đối với những người lên tiếng phản đối Bắc Kinh và đánh vào nội bộ của Philippines. Tuy nhiên, cách làm thô bạo, ngạo mạn này không những không làm giới chức Philippines sợ hãi và không ngăn được những tiếng nói chỉ trích Bắc Kinh mà ngược lại còn khiến nhiều nghị sĩ ở cả 2 viện của Philippines lên tiếng ủng hộ ông Tolentino, bảo vệ công lý yêu cầu chính phủ có hình thức đáp trả.

Hôm 01/7/2025, Thượng nghị sĩ Philippines Jinggoy Estrada đã thúc giục Bộ Ngoại giao Philippines triệu tập Đại sứ Trung Quốc tại Manila Hoàng Khê Liên (Huang Xilian) để yêu cầu giải thích về điều mà ông gọi là “động thái bất công” đối với ông Tolentino và để bày tỏ “sự bất bình sâu sắc” của Manila đối với việc Trung Quốc áp đặt lệnh trừng phạt này.

Thượng nghị sĩ Estrada nhấn mạnh rằng ông Tolentino hoàn toàn thực hiện đúng thẩm quyền của mình và mọi hành động đều được Quốc hội Philippines ủng hộ. Ông Estrada lưu ý, với tư cách là một Thượng nghị sĩ, ông Tolentino là người đi đầu trong việc thúc đẩy 2 đạo luật quan trọng – Đạo luật các vùng biển Philippines và Đạo luật Đường biển Quần đảo Philippines – đã được Tổng thống Marcos ký ban hành vào tháng 11/2024. Những đạo luật này đã củng cố các yêu sách hàng hải của Philippines tại khu vực tranh chấp.

Ông Estrada lập luận: “Các hành động của ông Tolentino hoàn toàn phù hợp với các quy trình dân chủ và khuôn khổ pháp lý của chúng ta. Trong nhiều năm, bất chấp Phán quyết của Tòa Trọng tài ủng hộ tuyên bố của chúng ta đối với các phần của Biển Tây Philippines, Trung Quốc vẫn tiếp tục bắt nạt, quấy rối và thực hiện những hành động vô nhân đạo đối với các nhà khoa học, nhân viên hàng hải và ngư dân của chúng ta. Thật đáng phẫn nộ khi những nỗ lực bảo vệ các tuyên bố lãnh thổ của chúng ta lại bị gắn mác là “hành vi tồi tệ”. Trung Quốc nên cảm thấy xấu hổ”. Thượng nghị sĩ Estrada khẳng định rằng hành động của Trung Quốc “rõ ràng đang làm suy yếu sự tôn trọng lẫn nhau và ổn định khu vực. Những tiếng nói chỉ trích không phải là mối đe dọa đối với ngoại giao; chúng là biểu hiện của tinh thần yêu nước”.

Trong khi đó, Terry Ridon, một thành viên Hạ viện Philippines, đã kêu gọi chính phủ nước này có hành động mạnh mẽ hơn. Theo ông, Manila nên “áp đặt lệnh cấm đi lại tương tự đối với các quan chức cấp cao đương nhiệm hoặc tiền nhiệm của Trung Quốc, những người đã và đang thực hiện các chiến dịch thông tin sai lệch chống lại lợi ích của Philippines ở Biển Tây Philippines”. Trước đây, Ridon từng dẫn đầu các cuộc điều tra của Hạ viện về chiến dịch thông tin sai lệch được cho là do Đại sứ quán Trung Quốc tại đây tiến hành nhằm vào Philippines.

Ngày 04/7/2025, Bộ Ngoại giao Philippines đã triệu tập Đại sứ Trung Quốc tại Manila Huang Xilian để phản đối chính thức. Bộ Ngoại giao Philippines nhấn mạnh: “Việc áp dụng các biện pháp trừng phạt như vậy (nhằm vào ông Tolentino) không phù hợp với các chuẩn mực đối thoại và tôn trọng lẫn nhau – những nguyên tắc nền tảng cho quan hệ giữa hai quốc gia có chủ quyền bình đẳng”. Trong tuyên bố của mình, Bộ trưởng Ngoại giao Philippines Theresa Lazaro nhấn mạnh, Philippines là một quốc gia dân chủ, luôn duy trì nguyên tắc tự do ngôn luận và độc lập lập pháp. Các thượng nghị sĩ và các quan chức được bầu có nhiệm vụ tìm hiểu các vấn đề vì lợi ích quốc gia và công cộng.

Mặc dù phản đối lệnh trừng phạt của Trung Quốc, Bộ trưởng Ngoại giao Lazaro cho biết, Philippines vẫn cam kết giải quyết các khác biệt thông qua ngoại giao và đối thoại, mong muốn tiếp tục có sự tham gia mang tính xây dựng với Trung Quốc để thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau. Phản hồi trước động thái này, Đại sứ quán Trung Quốc tại Philippines khẳng định các biện pháp trừng phạt đối với ông Tolentino là “hoàn toàn nằm trong phạm vi pháp lý của Trung Quốc”, đồng thời cảnh báo rằng “sẽ có hậu quả nếu lợi ích của Trung Quốc bị tổn hại”.

Tiếp đó, tại cuộc họp báo hôm 8/7/2025, Người phát ngôn Văn phòng Tổng thống, bà Claire Castro bày tỏ mối quan ngại về quyết định của Bắc Kinh trừng phạt cựu Thượng nghị sĩ Philippines Francis Tolentino. Bà Claire Castro, đọc một tuyên bố do Bộ trưởng Ngoại giao Philippines Ma. Theresa Lazaro ký, khẳng định Philippines phản đối động thái của Trung Quốc. Mặc dù việc áp đặt các lệnh trừng phạt nằm trong thẩm quyền pháp lý của Trung Quốc, nhưng việc áp dụng các biện pháp trừng phạt đối với các quan chức được bầu cử dân chủ vì thực hiện nhiệm vụ của họ là không phù hợp với các chuẩn mực tôn trọng lẫn nhau và đối thoại vốn là nền tảng cho mối quan hệ giữa hai quốc gia có chủ quyền bình đẳng.

Diễn biến xung quanh vụ việc Trung Quốc trừng phạt cựu Thượng nghị sĩ Philippines Francis Tolentino phản ánh sự gia tăng đối đầu không chỉ về chủ quyền lãnh thổ, mà còn về cách tiếp cận ngoại giao và xử lý bất đồng. Việc Trung Quốc trừng phạt một chính trị gia Philippines, cùng với phản ứng cứng rắn từ Manila, đã đẩy quan hệ hai nước trở nên khó tìm được tiếng nói chung. Nếu không có cơ chế đối thoại hiệu quả và thiện chí từ cả hai phía, căng thẳng ngoại giao có thể tiếp tục leo thang, đe dọa ổn định khu vực và làm phức tạp thêm các nỗ lực hợp tác khu vực tại Đông Nam Á. Giới phân tích nhận định việc Bắc Kinh đưa ra quyết định trừng phạt cựu Thượng nghị sĩ Philippines Francis Tolentino không chỉ là động thái nhằm vào cá nhân ông Tolentino mà còn là cách để Bắc Kinh tạo sự răn đe với những người đang ủng hộ mạnh mẽ cách tiếp cận trên vấn đề Biển Đông của Tổng thống Marcos, đồng thời muốn chuyển tải tới những chính trị gia các nước ven Biển Đông khác thông điệp “nếu lên tiếng công khai chỉ trích Bắc Kinh trên vấn đề Biển Đông sẽ phải đón nhận sự trừng phạt”. Tuy nhiên, cách làm này của Bắc Kinh không làm giảm đi uy tín của cựu Thượng nghị sĩ Philippines Francis Tolentino mà càng khiến tư tưởng chống Trung Quốc dâng cao trong khu vực.

]]>