Trường Sa – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Tue, 29 Apr 2025 13:01:21 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 Giải phóng Trường Sa, “cánh quân thứ sáu” trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 https://biendong.net/2025/04/29/giai-phong-truong-sa-canh-quan-thu-sau-trong-cuoc-tong-tien-cong-va-noi-day-mua-xuan-nam-1975/ Tue, 29 Apr 2025 07:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=148477 Cách đây đúng 50 năm, vào những ngày nửa cuối tháng 4/1975, cùng với năm cánh quân tiến về giải phóng Sài Gòn, trên hướng Biển Đông, lực lượng Hải quân Nhân dân Việt Nam đã tổ chức một chiến dịch quân sự, giải phóng toàn bộ quần đảo Trường Sa và các đảo miền duyên hải Nam Trung Bộ và Nam Bộ.

Chiến dịch tuy có quy mô không lớn như trên đất liền, nhưng được coi như là “cánh quân thứ sáu”, hòa cùng với năm cánh quân Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy hy sinh gian khổ nhưng vô cùng anh dũng của dân tộc ta. Thời gian đã lùi xa, nhưng ý nghĩa lịch sử của chiến dịch này vẫn chói sáng như ánh bình minh trên Biển Đông đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc hiện nay cũng như trong tương lai.

Giải phóng Trường Sa – “sự kiện đặc biệt” góp phần vào thắng lợi của Đại thắng mùa Xuân năm 1975

Quần đảo Trường Sa có trên 100 đảo lớn nhỏ, bãi đá và bãi san hô ngầm, với diện tích khoảng 180.000 km2 nằm ở giữa Biển Đông, thuộc chủ quyền của Việt Nam. Thời điểm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, quân đội Việt Nam Cộng hòa đóng giữ 5 đảo, gồm: Nam Yết, Trường Sa, Sơn Ca, Sinh Tồn và Song Tử Tây. Đảo Nam Yết là nơi chúng đặt Sở chỉ huy trung tâm. Tổng quân số của quân đội Việt Nam Cộng hòa trên các đảo khoảng 160 người, thuộc Tiểu đoàn 371, địa phương quân Phước Tuy.

Khi cục diện chiến tranh có sự chuyển biến mau lẹ theo hướng ngày càng có lợi cho cách mạng, từ ngày 30/9 – 8/10/1974, Đảng ta đã triệu tập Hội nghị Bộ Chính trị hạ quyết tâm chiến lược: “Động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy cuối cùng, giải phóng hoàn toàn miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thống nhất nước nhà”.

Sau Hội nghị trên, Bộ Tư lệnh Hải quân Nhân dân Việt Nam và một số tướng lĩnh đã đề đạt với Đại tướng Võ Nguyên Giáp kế hoạch giải phóng Trường Sa, Đại tướng đồng ý ngay vì đây là phần lãnh thổ thiêng liêng của đất nước nên giải phóng miền Nam không thể không giải phóng phần lãnh thổ này.

Cuối năm 1974, đầu năm 1975, địch đã suy yếu rõ rệt trên mọi hướng chiến trường, trong đó có cả hướng biển. Đặc biệt, sau chiến thắng Ban Mê Thuật (24/3/1975), nhận thấy thời điểm thuận lợi để giải phóng các đảo trên quần đảo Trường Sa do quân đội Việt Nam Cộng hòa đang chiếm giữ đã tới, Quân uỷ Trung ương kiến nghị với Bộ Chính trị: “Vừa chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, vừa tiến hành giải phóng các đảo và quần đảo quân ngụy đang chiếm giữ”. Kiến nghị này đã được ghi vào Nghị quyết Bộ Chính trị ngày 25/3/1975. Sau này, trong cuốn hồi ký “Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng” của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phân tích rất sâu sắc về sự kiện này và cho biết, việc xác định chủ trương giải phóng Trường Sa là “một sự kiện đặc biệt đã diễn ra ngoài kế hoạch chiến lược ban đầu”.

Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, ngày 30/3/1975, Quân ủy Trung ương gửi điện cho chỉ huy, lãnh đạo Quân khu 5: “Thường vụ giao cho Khu ủy và Bộ Tư lệnh B1 nhiệm vụ nghiên cứu, chỉ đạo thực hiện gấp rút, nhằm thời cơ thuận lợi nhất, đánh chiếm các đảo hiện do quân ngụy miền Nam chiếm đóng thuộc quần đảo Trường Sa”.

Sau khi Huế và Đà Nẵng được giải phóng, những điều kiện và thời cơ để tổ chức giải phóng các đảo, quần đảo trên vùng biển Việt Nam đã xuất hiện, cần phải kịp thời hành động ngay. Chiều ngày 04/4/1975, Quân ủy Trung ương đã chỉ thị: “Nghiên cứu và chỉ đạo thực hiện gấp rút, nhằm thời cơ thuận lợi nhanh nhất, đánh chiếm các đảo do quân ngụy miền Nam đang chiếm đóng ở quần đảo Trường Sa, không cho bất cứ kẻ nào xâm chiếm các nơi đó”, nhấn mạnh: “Đây là nhiệm vụ rất quan trọng”. Cả Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lê Duẩn và Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp lúc đó đều thống nhất: Phải khẩn trương giải phóng Trường Sa ngay vì nếu để chậm thì quân đội “nước ngoài” sẽ xâm chiếm, tình hình sẽ vô cùng phức tạp.

Trước yêu cầu gấp rút, khẩn trương của Quân ủy Trung ương, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 đã phối hợp với Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân, nhanh chóng tổ chức lực lượng thực hiện nhiệm vụ triển khai tổ chức chiến đấu, giải phóng các đảo trên quần đảo Trường Sa theo phương án đánh chiếm từng đảo.

Ngày 09/4/1975, sau khi nhận được báo cáo của Cục Quân báo, Bộ Tổng Tham mưu về việc địch có biểu hiện rút quân khỏi các đảo trên Biển Đông, Quân ủy Trung ương liền điện “tối khẩn” cho lãnh đạo Quân khu 5 và Quân chủng Hải quân: “Có tin, quân ngụy chuẩn bị rút khỏi đảo Trường Sa. Các anh cho kiểm tra lại ngay và chỉ thị cho lực lượng ta hành động kịp thời theo phương án đã định. Nếu để chậm, có thể quân nước ngoài chiếm trước, vì hiện nay một số nước ngoài đang có ý đồ xâm chiếm”.

Thực hiện “quân lệnh” trên, 4 giờ sáng ngày 11/4/1975, các tàu vận tải 673, 674, 675 chở lực lượng Đoàn C75 bí mật rời quân cảng Đà Nẵng ra đánh chiếm các đảo ở Trường Sa với phương châm tác chiến “bí mật, bất ngờ”.

Ngày 13/4/1975, sau khi nhận được kế hoạch đánh chiếm các đảo gửi về Tổng hành dinh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ đạo: “Thời cơ cụ thể đánh chiếm là: Nếu địch đã rút toàn bộ hoặc rút đại bộ phận thì đánh chiếm ngay và nếu quân nước ngoài đánh chiếm trước thì đánh chiếm lại; nếu địch mới có triệu chứng rút hoặc bắt đầu rút thì theo dõi, kịp thời đánh chiếm khi địch rút đại bộ phận; khi tình hình chung của địch nguy khốn, nhất là tình hình địch ở trọng điểm, thì đánh chiếm ngay”.

Đúng 4 giờ 30 phút sáng ngày 14/4/1975, lực lượng ta đổ bộ lên đảo Song Tử Tây và chủ động khai hỏa bằng loạt đạn DKZ. Địch chống trả, nhưng hỏa lực của ta đã dội lửa, hỗ trợ kịp thời cho đặc công, bộ binh xông lên đánh chiếm mục tiêu. Sau 30 phút, toàn bộ quân địch trên đảo bị tiêu diệt và bắt sống, lá cờ giải phóng đầu tiên tung bay phấp phới trên cột cờ đảo Song Tử Tây.

Tiếp tục hành trình giải phóng các đảo còn lại, rạng sáng ngày 25/4/1975, các mũi quân của ta bí mật đổ bộ và tiến công đảo Sơn Ca. Địch bắn trả rời rạc, rồi nhanh chóng bị tiêu diệt và bắt sống toàn bộ. Cùng lúc, lực lượng trinh sát kỹ thuật của ta báo tin, địch trên đất liền đang hết sức nguy khốn, chúng buộc phải rút quân khỏi các đảo còn lại ở Trường Sa. Nhận được tin này, các lực lượng Đoàn C75 khẩn trương đổ bộ đánh chiếm các đảo: 11 giờ 30 phút ngày 27/4/1975, giải phóng đảo Nam Yết; 10 giờ 30 phút ngày 28/4/1975, giải phóng đảo Sinh Tồn và An Bang; 9 giờ 30 phút ngày 29/4/1975, giải phóng đảo Trường Sa Lớn. Cùng với đó, Hải quân Nhân dân Việt Nam tiếp tục chiếm giữ các đảo, như Hòn Sập (sau này đặt tên đảo Phan Vinh), Trường Sa Đông (Đá Giữa), Sinh Tồn Đông, Bãi Thuyền Chài và một số đảo, đá khác thuộc quần đảo Trường Sa.

Như vậy, chỉ trong khoảng nửa tháng (từ 14 – 29/4/1975), với phương châm “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”, trên hướng biển, Đoàn C75 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, giải phóng toàn bộ các đảo do quân ngụy Sài Gòn chiếm giữ ở quần đảo Trường Sa – phần hải đảo thiêng liêng thuộc chủ quyền của Việt Nam.

aGiá trị lịch sử to lớn và những bài học kinh nghiệm quý báu của Chiến dịch giải phóng Trường Sa đối với công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay và tương lai

Trước hết, cần phải khẳng định rằng, thắng lợi của chiến dịch giải phóng Trường Sa là sự tiếp nối truyền thống, ý chí và quyết tâm cao độ không gì lay chuyển nổi của dân tộc ta trong việc giải phóng, bảo vệ từng tấc đất thuộc chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc trong mọi hoàn cảnh, trước bất cứ kẻ thù xâm lược nào. Việc giải phóng các đảo từ tay quân đội Việt Nam Cộng hòa trên quần đảo Trường Sa năm 1975 không chỉ thu hồi lại chủ quyền từ tay những kẻ bán nước, mà còn chứng tỏ rằng, Việt Nam chẳng những có đầy đủ cơ sở pháp lý, mà đã liên tục có mặt trên quần đảo này chí ít là từ thế kỷ 17; là quốc gia duy nhất đã chiếm hữu thật sự và quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa một cách liên tục, chính đáng, phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế.

Giải phóng quần đảo Trường Sa còn có ý nghĩa vô cùng quan trọng là kịp thời ngăn chặn âm mưu đánh chiếm đảo của một số quốc gia trong khu vực, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của đất nước. Thực tế diễn ra vào thời điểm đó cho thấy, ngay trong ngày 29/4/1975, một số tàu “nước ngoài” đã tiến vào gần đảo Trường Sa để “thăm dò” tình hình, nhưng khi thấy cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên các đảo thì họ lùi ra xa. Nếu ta không kịp thời giải phóng các đảo, quân đội “nước ngoài” sẽ xâm chiếm, thì tình hình sẽ vô cùng phức tạp, không chỉ ở thời điểm đó mà còn cả sau này.

Thứ hai, chiến dịch giải phóng Trường Sa diễn ra trong bối cảnh cả nước đang tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy với tinh thần “một ngày bằng 20 năm”, nên chiến công xuất sắc trên hướng biển đã góp phần vào thắng lợi chung của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kéo dài 21 năm của dân tộc. Chiến công này đã tô thắm, góp phần làm rạng rỡ hơn trang sử vàng về truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta.

Thứ ba, chiến dịch đã thể hiện ý thức tuyệt đối chấp hành mệnh lệnh, tinh thần khắc phục khó khăn, sự mưu trí, dũng cảm và tinh thần chiến đấu quả cảm của Quân đội Nhân dân Việt Nam, đặc biệt là lực lượng Hải quân. Bởi, lực lượng tham gia chiến dịch phải vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, do: 1/ Quần đảo Trường Sa quá rộng lớn, các đảo xa nhau, xa đất liền và hậu phương; 2/ Lực lượng đặc công trước đây chỉ quen đánh tàu, chưa có kinh nghiệm đánh chiếm căn cứ, cứ điểm, nhất là đảo ở biển, và cũng chưa từng đến các đảo; 3/ Lực lượng hải quân của Quân đội Việt Nam Cộng hòa lúc bấy giờ còn khá mạnh, khả năng tái chiếm cao. Trong khi đó, lực lượng của ta lại thiếu phương tiện, trang bị nhỏ và ít, chưa quen thuộc địa hình. Thế nhưng, trong quá trình chiến đấu, lực lượng đặc công ta đã hành động rất mưu trí, sáng tạo, quả cảm, quyết đoán, đã triển khai cách đánh của riêng mình, đó là “trinh sát đến đâu đánh đến đó”; bí mật tiếp cận đảo, nhanh chóng đổ bộ vào thời điểm hình thái thủy văn thuận lợi, bất ngờ đánh chiếm mục tiêu, tranh thủ thời cơ có lợi nhất để giải phóng đảo, kiên quyết không để lực lượng nào khác đến chiếm đảo trước ta. Qua đó, tô thắm hơn truyền thống hào hùng của Hải quân Nhân dân Việt Nam, tạo nền tảng chính trị, tinh thần vững chắc cho lực lượng này trong công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong thời kỳ mới.

Thứ tư, ta không chỉ thu hồi, bảo vệ chủ quyền, mà xét về lâu dài, thắng lợi của chiến dịch này còn khẳng định vững chắc cho yêu sách lãnh thổ hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông, giúp Việt Nam duy trì sự hiện diện, củng cố vị thế trong các cuộc đàm phán sau này.

Năm mươi năm đã trôi qua, nhìn lại chiến dịch giải phóng Trường Sa năm 1975 cho thấy, thắng lợi của chiến dịch trước hết là thắng lợi của đường lối lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh và Quân chủng Hải quân trên mũi tiến công hướng biển. Tất cả lực lượng tham gia vào chiến dịch, từ những người lãnh đạo cao nhất của Đảng, Quân ủy Trung ương, đến những chiến sỹ trực tiếp cầm súng chiến đấu hay những người làm công tác phục vụ, đã thể hiện khát vọng cháy bỏng giải phóng quần đảo Trường Sa, thống nhất đất nước, góp phần tạo nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975. Hiện nay, sau gần bốn mươi năm đổi mới, đất nước ta nói chung, quần đảo Trường Sa nói riêng đang thay da đổi thịt từng ngày, đang phát triển với nhiều thành tựu to lớn. Nhưng, bên cạnh những thuận lợi, thành công, tình hình an ninh trên Biển Đông những năm gần đây vẫn diễn biến rất phức tạp, khó lường, có thời điểm trở thành “điểm nóng” ở khu vực. Nhiều hành động phi pháp của các thế lực “bên ngoài” đã và đang đe dọa đến chủ quyền, sự phát triển của đất nước, đến môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực. Vì thế, hơn lúc nào hết, việc phát huy những giá trị lịch sử to lớn và vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm quý báu từ chiến thắng của chiến dịch giải phóng Trường Sa năm 1975 vào sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay và trong tương lai là rất cần thiết. Trong đó, điều quan trọng là cần phải có tầm nhìn chiến lược hơn nữa trong việc giữ gìn, bảo vệ vững chắc các thực thể đang thuộc quyền nắm giữ và quản lý của ta ở Trường Sa. Xây dựng đất nước ta vững mặt về mọi mặt cả trên bờ lẫn trên biển, làm cho các thế lực “bên ngoài” không có cơ hội và không dám nhòm ngó, xâm chiếm. Tiếp tục phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường tiềm lực quốc phòng – an ninh, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh với các hành động xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích trên biển của Việt Nam bằng các biện pháp hòa bình, dựa trên cơ sở của luật pháp quốc tế. Là một quốc gia độc lập, Việt Nam không “chọn bên” hay “chọn phe”, mà chọn chính nghĩa, sự công bằng, công lý và lẽ phải trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc; bình đẳng, cùng có lợi, cùng thắng trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Đồng thời, phải luôn tỉnh táo, nêu cao tinh thần cảnh giác trước các âm mưu, ý đồ của các thế lực bên ngoài đối với Biển Đông; vận dụng sáng tạo phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, bình tĩnh trong xử lý các tình huống trên biển, không để nước ngoài tạo cớ, gây ra xung đột để can thiệp. Tiếp tục xây dựng và phát huy cao hơn nữa ý chí, quyết tâm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền lãnh thổ quốc gia – dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để đưa đất nước tiến nhanh, tiến vững chắc trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình phát triển của dân tộc.

]]>
TQ đã quân sự hóa ba đảo chiếm trái phép ở Quần đảo Trường Sa https://biendong.net/2022/03/22/tq-da-quan-su-hoa-ba-dao-chiem-trai-phep-o-quan-dao-truong-sa/ Tue, 22 Mar 2022 14:01:46 +0000 https://biendong.net/?p=76838 Đô đốc John Aquilino, chỉ huy các lực lượng Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, cho biết hôm Chủ nhật (20/3), Trung Quốc đã quân sự hóa hoàn toàn ít nhất ba đảo nhân tạo ở Biển Đông, khai triển các hệ thống tên lửa chống hạm và phòng không, thiết bị gây nhiễu và laser cùng máy bay chiến đấu, và cách tiếp cận ngày càng hung hăng này đe dọa tất cả các quốc gia hoạt động trong khu vực lân cận.

Ông Aquilino đã đưa ra nhận xét trong một cuộc phỏng vấn độc quyền với hãng tin AP trên chiếc máy bay trinh sát P-8A Poseidon của Hải quân Hoa Kỳ bay qua quần đảo Trường Sa.

Đô đốc Mỹ John Aquilino

“Tôi nghĩ trong 20 năm qua, chúng ta đã chứng kiến ​​sự xây dựng quân đội lớn nhất của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa kể từ Thế chiến thứ hai”, ông Aquilino nói với hãng tin AP từ máy bay do thám. “Họ đã tăng cường khả năng của mình trên diện rộng, và quá trình vũ khí hóa đã gây bất ổn cho khu vực”.

Ông Aquilino chỉ ra rằng các hành động thù địch của Trung Quốc đối với các đảo nhân tạo trong vùng biển tranh chấp ở Biển Đông hoàn toàn trái ngược với việc Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình bảo đảm rằng các đảo nhân tạo sẽ không bị biến thành căn cứ quân sự.

Hãng tin AP đã tìm kiếm bình luận từ phía Trung Quốc nhưng không nhận được phản hồi ngay lập tức. Tuy nhiên, Bắc Kinh luôn tuyên bố rằng các hoạt động khai triển quân sự của Trung Quốc trên các đảo và đá ngầm ở Biển Đông hoàn toàn là phòng thủ và nhằm bảo vệ chủ quyền. Sau nhiều năm phát triển kinh tế và mở rộng quân sự, Trung Quốc không chỉ trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới mà ngân sách quân sự của nước này cũng nhanh chóng tăng vọt lên thứ hai thế giới sau Hoa Kỳ. Khi nền kinh tế và ngân sách quốc phòng tăng lên, Trung Quốc cũng đã nhanh chóng cải tiến vũ khí của mình, với những tiến bộ mới nhất bao gồm máy bay chiến đấu tàng hình J-20, tên lửa siêu thanh và hai hàng không mẫu hạm, với một hàng không mẫu hạm thứ ba sắp được hạ thủy.

Theo hãng tin AP, khi máy bay trinh sát chở ông Aquilino và phóng viên của hãng tin này bay qua quần đảo Trường Sa, nó liên tục nhận được cảnh báo qua vô tuyến từ các nhân viên Trung Quốc, cho rằng máy bay đã xâm nhập không phận Trung Quốc trái phép và yêu cầu họ rời đi.

“Trung Quốc có chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa và các vùng biển xung quanh. Hãy rời đi ngay lập tức để tránh bị đánh giá sai”, một trong những vô tuyến đã cảnh báo đầy đe dọa.

Tuy nhiên, máy bay trinh sát của Hải quân Hoa Kỳ phớt lờ những cảnh báo lặp đi lặp lại của Trung Quốc và tiếp tục bay trên tuyến đường đã thiết lập. Hai phóng viên của hãng tin AP đi cùng đã chứng kiến ​​những giây phút ngắn ngủi nhưng căng thẳng.

Trung Quốc đã xây dựng nhiều công trình quân sự phi pháp trên đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Một phi công Mỹ trả lời qua vô tuyến cho phía Trung Quốc: “Tôi là một máy bay của Hải quân Hoa Kỳ được miễn trừ có chủ quyền đang tiến hành các hoạt động quân sự hợp pháp bên ngoài không phận lãnh thổ của quốc gia ven biển”. “Các quyền này được luật pháp quốc tế bảo đảm, và tôi hoạt động tôn trọng quyền và trách nhiệm của tất cả các quốc gia”.

Ông Joel Martinez, cơ trưởng của máy bay trinh sát P-8A Poseidon, nhớ lại lần một máy bay chiến đấu của Trung Quốc bay gần máy bay Mỹ một cách nguy hiểm trên vùng biển tranh chấp và phi hành đoàn Mỹ đã bình tĩnh nhắc nhở phía Trung Quốc tuân thủ các quy tắc an toàn bay.

Khi máy bay trinh sát của Mỹ bay gần đảo nhân tạo của Trung Quốc, độ cao máy bay giảm xuống còn 4.500 mét. Màn hình của máy bay cho thấy, một số hòn đảo và rạn san hô trông giống như những thành phố nhỏ, với các tòa nhà, nhà kho, nhà chứa máy bay, bến cảng, đường băng và mái vòm màu trắng mà ông Aquilino gọi là radar. Gần Đá Chữ Thập (Fiery Cross Reef), hơn 40 chiếc thuyền không xác định được neo đậu ở đó

Ông Aquilino cho biết các địa điểm đặt tên lửa, nhà chứa máy bay, hệ thống radar và các cơ sở quân sự khác của Trung Quốc trên Đá Vành Khăn, Đá Subi và Đá Chữ Thập dường như đã hoàn thiện, nhưng vẫn còn phải xem liệu họ có xây dựng các cơ sở quân sự trên các đảo và rạn san hô khác hay không.

Ông Aquilino nói: “Chức năng của các đảo và bãi đá ngầm này là mở rộng khả năng tấn công của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra ngoài các bờ biển đất liền của nó”. “Chúng có thể cất cánh và hạ cánh máy bay chiến đấu, máy bay ném bom và tất cả các hệ thống tên lửa”.

Ông cho biết bất kỳ máy bay quân sự hoặc dân sự nào bay trong vùng biển tranh chấp đều có thể dễ dàng lọt vào tầm bắn của các hệ thống tên lửa đảo và đá ngầm của Trung Quốc.

Ông nói: “Đó là mối đe dọa hiện hữu, và đó là lý do tại sao việc quân sự hóa các hòn đảo này là một mối quan tâm”. “Chúng đe dọa tất cả các quốc gia hoạt động trong vùng lân cận và tất cả các vùng biển và không phận quốc tế”.

Trung Quốc đã xây dựng các đảo nhân tạo trên các rạn san hô gần một thập niên trước để củng cố yêu sách của họ đối với gần như toàn bộ Biển Đông, và Mỹ đã đáp trả bằng cách điều tàu đến vùng biển này. Hoa Kỳ không có tuyên bố chủ quyền đối với Biển Đông, nhưng đã gửi máy bay và tàu tuần tra đến khu vực này trong nhiều thập niên để thúc đẩy hàng hải tự do trong vùng biển và không phận quốc tế.

Bắc Kinh đã nhiều lần phản đối hoạt động quân sự của Hoa Kỳ trong khu vực. Các bên khác tuyên bố chủ quyền toàn bộ hoặc một phần Biển Đông bao gồm Philippines, Việt Nam, Malaysia, Brunei và Đài Loan. Trên toàn cầu, khoảng 5 nghìn tỷ USD hàng hóa được vận chuyển qua Biển Đông mỗi năm.

Ông Aquilino cho biết mục tiêu của Hoa Kỳ tại các vùng biển tranh chấp ở Biển Đông là “ngăn chặn chiến tranh” thông qua răn đe, đồng thời duy trì hòa bình và ổn định, bao gồm cả hợp tác với các đồng minh và đối tác của Hoa Kỳ để đạt được điều này.

“Nếu việc ngăn chặn thất bại, nhiệm vụ thứ hai của tôi là chuẩn bị chiến đấu và chiến thắng”, ông Aquilino nói. Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Hoa Kỳ có 380.000 quân và quyền tài phán của nó bao gồm 36 quốc gia và vùng lãnh thổ.

]]>
TQ chiếm mới các thực thể ở Biển Đông: Bài học lịch sử và quy luật rút ra https://biendong.net/2021/12/28/tq-chiem-moi-cac-thuc-the-o-bien-dong-bai-hoc-lich-su-va-quy-luat-rut-ra-2/ Tue, 28 Dec 2021 01:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=71602 Bài viết phân tích Hải chiến Hoàng Sa (1974), cuộc tấn công ở Trường Sa (1988), sự kiện Đá Vành Khăn (1995) và sự kiện Bãi cạn Scarborough (2012) để tìm ra những quy luật nhất định. Đây sẽ là cơ sở để phán đoán thời điểm Trung Quốc hành động chiếm mới các thực thể ở Biển Đông để từ đó Việt Nam ra các đối sách tương ứng nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia.

Trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng chủ động và lấn lướt ở Biển Đông, không loại trừ khả năng nước này sẽ chiếm mới các thực thể tại đây khi có các điều kiện thuận lợi. Bài viết phân tích tình hình vào thời điểm nổ ra Hải chiến Hoàng Sa (1974), cuộc tấn công ở Trường Sa (1988), sự kiện Đá Vành Khăn (1995) và sự kiện Bãi cạn Scarborough (2012) để rút ra các điều kiện đã thúc đẩy Trung Quốc tấn công giành quyền kiểm soát thực tế đối với các thực thể ở Biển Đông trong quá khứ. Theo đó, Trung Quốc đã khởi sự khi không có sự can thiệp của các chủ thể bên ngoài và sự chú ý của dư luận quốc tế, thấy được khả năng tận dụng điều kiện thời tiết, chớp thời cơ so sánh lực lượng đang có lợi cho Trung Quốc trong bối cảnh chính trị nội bộ bất ổn và tạo cớ biện minh cho hành động của mình.

Trong tranh chấp ở Biển Đông, Trung Quốc là chủ thể có các hoạt động hung hăng và gây hấn nhiều nhất. Điều này đã làm dấy lên nhiều lo ngại cho các nước yêu sách khác ở Biển Đông, trong đó có Việt Nam, rằng Trung Quốc có thể tiếp tục chiếm thêm các thực thể ở vùng biển này để củng cố thêm sức mạnh và vị thế lấn át các bên tranh chấp còn lại của Trung Quốc. Những lo ngại này là có cơ sở vì Trung Quốc hiện đã có khả năng (có sức mạnh hải quân vượt trội hơn hẳn các nước yêu sách khác) và ý đồ (được các chuyên gia nhận định là tham vọng kiểm soát Biển Đông) để chiếm mới các thực thể ở Biển Đông, chỉ cần cơ hội thuận lợi, thời điểm thích hợp để hành động. Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích các vụ việc Trung Quốc chiếm các thực thể ở Biển Đông như Hải chiến Hoàng Sa (1974), cuộc tấn công ở Trường Sa (1988), sự kiện Đá Vành Khăn (1995) và sự kiện Bãi cạn Scarborough (2012), có thể tìm ra những quy luật nhất định về tập hợp các điều kiện tạo cơ hội thuận lợi cho Trung Quốc khởi sự. Đây sẽ là cơ sở để phán đoán thời điểm Trung Quốc hành động chiếm mới các thực thể ở Biển Đông để từ đó Việt Nam ra các đối sách tương ứng nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia của mình.

Hải chiến Hoàng Sa (1974)

Trong Hải chiến Hoàng Sa năm 1974, Trung Quốc đã đụng độ với Hải quân Việt Nam Cộng hòa (VNCH). Giao tranh giữa hai bên diễn ra quyết liệt và sau cùng quân của VNCH đã rút lui, Trung Quốc chiếm đóng toàn bộ quần đảo Hoàng Sa từ đó đến nay. Đây không phải lần đầu tiên Trung Quốc có động thái chiếm thực thể ở quần đảo Hoàng Sa. Trước đó, năm 1956, Trung Quốc đã chiếm nhóm đảo An Vĩnh (phía Đông Hoàng Sa) (quân đội Đài Loan cũng đã chiếm đảo Ba Bình, đảo lớn nhất thuộc quần đảo Trường Sa vào tháng 10 cùng năm). Đến năm 1959, quân đội VNCH khi đang chiếm đóng nhóm đảo Lưỡi Liềm ở phía Tây Hoàng Sa đã phát hiện và bắt giữ một số lính Trung Quốc đóng giả ngư dân bí mật đổ bộ lên các đảo Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Hòa để nhằm đánh chiếm nốt nhóm Lưỡi Liềm. Đến những năm 1970-1971, Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) đã cho xây dựng các cơ sở hạ tầng quân sự bí mật ở nhóm An Vĩnh mà nước này đã chiếm đóng.

Vào thời điểm Trung Quốc tiến hành Hải chiến Hoàng Sa, có những điều kiện đã tạo cơ hội thuận lợi cho nước này để khởi sự như sau:

1. Hai siêu cường Mỹ và Liên Xô không can thiệp: Cuộc chiến này diễn ra trong bối cảnh quan hệ Mỹ – Liên Xô bước vào thời kỳ hòa dịu sau Khủng hoảng Tên lửa Cuba 1962. Ở giai đoạn này, Mỹ và Liên Xô tăng cường đối thoại và đàm phán giải trừ quân bị, giảm đối đầu với nhau và tập trung hơn vào việc giải quyết các khó khăn nội bộ. Về phía Mỹ, thất bại trong Chiến tranh Việt Nam và các bất ổn chính trị bên trong do vụ bê bối Watergate gây ra khiến nước này buộc phải giảm can dự vào Đông Dương, dần bỏ rơi chính quyền Sài Gòn ở miền Nam Việt Nam: Tháng 06/1973, Quốc hội Mỹ ban hành đạo luật Case-Church cấm Chính phủ tái can thiệp quân sự vào ba nước Đông Dương trừ khi Lưỡng viện Quốc hội chấp thuận; Sau Hiệp định Paris năm 1973, Mỹ cũng cắt giảm hỗ trợ quân sự cho chính quyền Sài Gòn từ 1.4 tỷ USD năm 1972 xuống 1 tỷ năm 1973 và 700 triệu năm 1974. Về phía Liên Xô, nước này cũng đang phải vất vả đối phó với những rạn nứt nghiêm trọng trong nội bộ khối xã hội chủ nghĩa với những biểu hiện tiêu biểu như phân liệt Xô – Trung hay sự kiện “Mùa xuân Praha” năm 1978. Thập kỷ 70 cũng là giai đoạn chứng kiến cái bắt tay giữa Mỹ và Trung Quốc nhằm chống lại Liên Xô, để từ đó hình thành nên tam giác Mỹ – Xô – Trung.

Trên thực tế, sự không can thiệp của Mỹ đã được Trung Quốc bảo đảm bằng cách thỏa thuận trực tiếp với Mỹ trong Thông cáo chung Thượng Hải năm 1972: Mỹ có thể ném bom miền Bắc Việt Nam và Trung Quốc sẽ không can thiệp, đổi lại thì Mỹ có thể làm ngơ trước việc Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa ở Biển Đông năm 1974.[4] Nếu không có sự làm ngơ của Mỹ, có thể nói rằng Trung Quốc sẽ khó tiến hành Hải chiến Hoàng Sa bởi trước đó, trong suốt thời kỳ 1959-1973, xung quanh quần đảo này đều có hải quân Mỹ hoạt động thường xuyên. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng chủ động xây dựng hình ảnh “sử dụng vũ lực vì mục đích tự vệ” trên thực tế để giảm nguy cơ can thiệp của Mỹ và Liên Xô: Ra lệnh cho Hải quân Trung Quốc (PLAN) không được nổ súng trước, tiến hành các hoạt động khiêu khích như thả neo tại đảo Hữu Nhật, nhanh chân chiếm giữ và cắm cờ của mình tại các đảo như Duy Mộng, Quang Hòa rồi khi quân của VNCH đến thì nổ súng cảnh báo không cho đối phương tiếp cận đảo… Từ đó buộc VNCH phải nổ súng tấn công phía Trung Quốc trước để giành lại đảo.

2. Trung Quốc có thời cơ để tiến đánh trước khi thời tiết chuyển biến xấu: Trung Quốc đã xem xét kỹ tình hình thời tiết nhằm đảm bảo thành công cho hải chiến với VNCH bởi đây là trận đánh xa bờ đầu tiên của PLAN với một đối thủ bên ngoài. Trung Quốc đã chủ động có những dấu hiệu khiêu khích VNCH trước để tranh thủ hành sự trước khi bão Đông Bắc sóng cồn (tốc độ gió giật 40 hải lý/giờ) nổi lên, nếu muộn hơn thì việc xuất quân sẽ không thuận lợi.

3. VNCH đang rơi vào tình thế cô độc, bất lợi: Trước khi tiến hành Hải chiến Hoàng Sa 1974, Trung Quốc đã thấy được tình cảnh của VNCH lúc đó: Bị đồng minh Mỹ bỏ rơi, lại cần tập trung lực lượng chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) ở đất liền với nhiều hạn chế về quân sự. Khi cuộc hải chiến diễn ra, mặc cho Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã nhiều lần thông báo tình hình và kêu gọi yểm trợ của phía Mỹ với Đại sứ quán Mỹ, Mỹ đã không có động thái hỗ trợ nào. Hạm đội 7 của Mỹ, lúc đó đang ở Philippines, đã nhận được nghiêm lệnh là không được có bất kỳ hành động can thiệp nào vào Hải chiến Hoàng Sa. Hải đoàn 77 của hải quân Mỹ ở ngoài khơi Việt Nam, gần với đảo Hải Nam (Trung Quốc) và Hoàng Sa cũng đã làm ngơ, dù hải đoàn này có các tàu sân bay và chiến hạm yểm trợ đủ sức kiểm soát không phận, hải phận và hoạt động của các tàu ngầm trong Vịnh Bắc Bộ.[8] Bản thân VNCH tuy vẫn đang chiếm đóng nhóm đảo Lưỡi Liềm ở phía Tây Hoàng Sa nhưng đã phải rút dần các lực lượng đồn trú tại đây để dồn về đất liền chiến đấu với VNDCCH. Trang bị quân sự của VNCH thì còn yếu kém, cũ kỹ, thiếu nhiên liệu, gây cản trở cho việc phối hợp giữa các lực lượng khi chiến đấu trên thực địa.

4. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) dành ưu tiên cao hơn cho mục tiêu thống nhất đất nước: Sau khi Hiệp định Paris năm 1973 được ký kết, Việt Nam vẫn ở trong tình trạng bị chia cắt với chính quyền VNDCCH ở miền Bắc và chính quyền VNCH ở miền Nam. Vào thời điểm đó, VNDCCH – được chính đồng minh phe xã hội chủ nghĩa là Trung Quốc viện trợ trong chiến tranh, đang dồn sức chuẩn bị cho giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước; trong khi đó phía VNCH cũng đang tập trung lực lượng để chống VNCH. Vì thế, đối với VNDCCH, việc thống nhất đất nước trở nên cấp bách hơn việc giành quyền kiểm soát thực tế đối với quần đảo Hoàng Sa.

5. Trung Quốc có lợi thế về khoảng cách địa lý: Do đã chiếm đóng được nhóm đảo An Vĩnh ở phía Đông quần đảo Hoàng Sa nên Trung Quốc có thể dễ dàng lấy An Vĩnh làm điểm tựa để tiến công sang phía Tây Hoàng Sa. Bên cạnh đó, đảo Hải Nam của Trung Quốc cũng gần Hoàng Sa hơn so với Việt Nam, nhờ đó có thể điều quân tiếp viện từ Hải Nam đến chiến trận ở Hoàng Sa một cách nhanh chóng. Ngày 16/01/1974, Bộ Tư lệnh Hạm đội Nam Hải của Trung Quốc đã ra lệnh cho hai tàu săn ngầm lớp Kronstadt đóng tại đảo Hải Nam chở lực lượng dân quân biển ra Hoàng Sa để tập trung binh lực. Trong cuộc đấu pháo ở đảo Quang Hòa với VNCH, Trung Quốc cũng đã nắm ưu thế áp đảo nhờ lực lượng tăng viện (yểm trợ không quân) triển khai từ đảo Hải Nam.

6. Bất ổn chính trị nội bộ gây sức ép khiến Trung Quốc phải đẩy áp lực dư luận trong nước ra bên ngoài: Vào thời điểm đó, cuộc khủng hoảng dầu lửa do các nước Trung Đông phát động năm 1973 đã khiến Trung Quốc gặp khó khăn và phải tìm đến dầu khí xa bờ. Bắt đầu từ tháng 12/1973, Trung Quốc đã cho khoan giếng dầu trên đảo Phú Lâm (đảo lớn nhất thuộc quần đảo Hoàng Sa). Ngoài ra, Cách mạng Văn hóa do Chủ tịch Mao Trạch Đông phát động đã gây ra những hậu quả nặng nề cho nước này, cũng như làm trầm trọng thêm mâu thuẫn sâu sắc trong nội bộ. Hải quân Trung Quốc trong giai đoạn này cũng trong tình trạng suy yếu nặng nề. Thập kỷ 70 cũng là giai đoạn nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình chuẩn bị lên thay Mao Trạch Đông để tiếp quản mọi việc và tập trung xây dựng thế lực của mình trong Đảng Cộng sản Trung Quốc. Đặng Tiểu Bình cũng phải tiếp quản cả chiến dịch Hoàng Sa đang dang dở của Mao Trạch Đông mà trước đó Trung Quốc đã chiếm được phía Đông Hoàng Sa vào năm 1956. Bối cảnh nội bộ rắc rối như trên đòi hỏi Trung Quốc phải tìm nguồn dầu khí mới và hướng sự chú ý của dư luận trong nước ra bên ngoài thông qua kích động chủ nghĩa dân tộc và lòng yêu nước bằng chiến tranh.

7. Đài Loan gián tiếp giúp đỡ Trung Quốc: Trước khi khởi sự, Trung Quốc đã đạt thỏa thuận ngầm trong đó Đài Loan đồng ý hỗ trợ Trung Quốc trong cuộc chiến, bởi dù đối đầu nhau gay gắt, Trung Quốc và Đài Loan đều đồng thuận rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của người Trung Quốc; đồng thời sự làm ngơ của Mỹ cũng tác động đến thái độ của Đài Loan. Trên thực tế, tàu ngầm của Trung Quốc đã được phép đi qua eo biển Đài Loan (con đường ngắn nhất dẫn đến Hoàng Sa) mặc dù trước đó Đài Loan luôn phản đối và Mỹ cũng dùng Hạm đội 7 để ngăn cản Trung Quốc đi qua đây.

Cuộc tấn công ở Trường Sa (1988)

Cuộc tấn công ở Trường Sa do Trung Quốc phát động nổ ra năm 1988. Ngày 14/03/1988, Trung Quốc đã tấn công vũ trang vào ba bãi đá không có quân đội Việt Nam đồn trú và đang xây dựng công trình là đá Cô Lin, đá Len Đao và đá Gạc Ma, sau đó hạ cờ Việt Nam cắm ở đá Gạc Ma. Trước đó, các tàu vận tải của Việt Nam được lệnh đưa công binh và các chiến sĩ ra quần đảo Trường Sa để xây dựng cụm đảo chìm Gạc Ma. Khi các chiến sĩ đang chuyển vật liệu lên đá Gạc Ma thì Trung Quốc đã điều tàu đến ngăn cản, xả súng vào phía ta. Cuộc chiến kết thúc với kết quả là Trung Quốc chiếm đóng được đá Gạc Ma.

Trong cuộc tấn công ở Trường Sa, có thể rút ra một vài điều đáng chú ý về các tính toán của Trung Quốc trước khi khởi sự như sau:

1. Mỹ và Liên Xô nhiều khả năng không can thiệp: Chiến tranh Lạnh lúc đó đang đi đến hồi kết. Hai siêu cường đều có nhu cầu làm giảm căng thẳng trong quan hệ song phương và tập trung vào giải quyết các vấn đề nội bộ. Về phía Mỹ, sức mạnh của nước này đã suy giảm đi nhiều do sức cạnh tranh ngày càng tăng của đồng minh Nhật Bản và Tây Âu trong lĩnh vực kinh tế, cũng như do Mỹ đã đẩy mạnh chạy đua vũ trang trở lại với Liên Xô vào nửa đầu thập niên 80. Cuộc chạy đua này chỉ có dấu hiệu giảm xuống khi vào năm 1985, Gorbachev, một người có lập trường hòa giải với Mỹ và chủ trương kết thúc Chiến tranh Lạnh, được bầu làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô. Về phía Liên Xô, sau gần 10 năm sa lầy ở Afghanistan sau khi đưa quân vào đây năm 1979, Liên Xô đang phải tiến hành cải tổ cả về kinh tế lẫn chính trị, đối mặt với các khó khăn trong quan hệ với phương Tây, và đang muốn bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc. Nhà lãnh đạo Liên Xô lúc đó, ông Gorbachev, đang dành ưu tiên rất lớn cho công cuộc cải tổ đất nước nên không muốn quan hệ với Mỹ và Trung Quốc trở nên căng thẳng. Trong chính sách đối ngoại nói chung, Gorbachev cắt giảm triển khai quân đội ở bên ngoài lãnh thổ, đánh dấu sự suy giảm nghiêm trọng trong sự ủng hộ của Liên Xô đối với Việt Nam. Vào năm 1988, cả Việt Nam lẫn Liên Xô đều đang trong quá trình đàm phán bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc do Việt Nam đang cần phá thế bị bao vây, cô lập, còn Liên Xô cũng cần có môi trường hòa bình, ổn định xung quanh để tập trung vào cải tổ kinh tế và chính trị nội bộ (Liên Xô có tới khoảng 7,000 km biên giới chung với Trung Quốc). Trên thực tế, hải quân Liên Xô ở Cam Ranh vào thời điểm diễn ra cuộc tấn công ở Trường Sa đã không có động thái can dự nào.

2. Dư luận quốc tế đang chú ý vào vấn đề Campuchia: Phía Việt Nam đã bắt đầu rút quân khỏi Campuchia từ năm 1986, quan hệ Việt Nam – ASEAN nhờ đó bắt đầu được cải thiện dần. Điều dư luận quốc tế rất quan tâm lúc đó là các biện pháp giải quyết vấn đề. Tiến đánh Trường Sa năm 1988 là thời điểm thích hợp cho Trung Quốc vì Việt Nam chưa hoàn thành việc rút quân (trên thực tế đã rút hết hoàn toàn vào năm 1989) và vẫn đang trong tình trạng bị bao vây, cô lập. Tranh thủ khi quan hệ Việt Nam – ASEAN chưa giảm căng thẳng hẳn, Trung Quốc có thể hành động ở Trường Sa nhằm phòng ngừa trước sự phản đối của các nước trong khu vực.

3. Việt Nam đang ở tình thế khó khăn cả trong lẫn ngoài: Ở trong nước, Việt Nam phải đối mặt với nhiều vấn đề về kinh tế – xã hội dù đã cải thiện ít nhiều sau hai năm thực hiện công cuộc Đổi mới từ Đại hội Đảng lần thứ VI. Ở bên ngoài, cả Mỹ, phương Tây, Trung Quốc và ASEAN cùng bao vây, cô lập Việt Nam về ngoại giao và kinh tế vì vấn đề Campuchia. Ngoài ra, các vấn đề như thuyền nhân, cải cách công thương nghiệp đối với Hoa kiều cuối thập kỷ 70 cũng làm suy giảm uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

4. Bất ổn chính trị nội bộ gây sức ép khiến Trung Quốc phải đẩy áp lực dư luận trong nước ra bên ngoài: Từ năm 1984 đến năm 1991, công cuộc cải cách mở cửa của Trung Quốc bước vào giai đoạn quyết định với các cuộc đấu đá nội bộ diễn ra quyết liệt giữa hai phe bảo thủ và cải cách trong Đảng Cộng sản Trung Quốc. Để cải thiện uy tín và tính chính danh cầm quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong lòng người dân, Trung Quốc cần thành công trong một cuộc chiến về lãnh thổ chủ quyền, và lựa chọn lúc đó là cuộc tấn công ở Trường Sa.

Sự kiện đá Vành Khăn (1995)

Trước khi xảy ra sự kiện, Philippines là quốc gia kiểm soát thực tế đá này. Giữa năm 1994, Trung Quốc đã xây dựng một hệ thống ra-đa cảnh báo sớm ở bãi Chữ Thập và một số công trình ở trên dải đá ngầm Vành Khăn. Xung đột giữa Philippines và Trung Quốc xảy ra khi vào tháng 02/1995, Philippines phát hiện Trung Quốc đang cho xây dựng một hệ thống trú phòng trên một hệ thống cột trụ vững chắc và bố trí 8 tàu hải quân xung quanh đá Vành Khăn,[20] nên đã ra lệnh cho các lực lượng vũ trang giám sát đá này. Những căng thẳng ngoại giao và quân sự sau đó giữa Philippines và Trung Quốc xung quanh đá Vành Khăn đã gây ra một cuộc khủng hoảng chính trị kéo dài từ năm 1995 đến 1998. Hiện tại, Trung Quốc đã xây dựng xong một đường băng và cho thử nghiệm máy bay tại đá Vành Khăn.

Có thể rút ra một số điểm cơ bản trong tính toán của Trung Quốc khi khởi sự trong sự kiện đá Vành Khăn như sau:

1. Các nước lớn đều thờ ơ với vấn đề Biển Đông: Sự kiện nổ ra vào thời điểm Mỹ và Nga giảm hiện diện quân sự ở khu vực. Ngày 24/11/1992, theo đề nghị của Thượng Nghị viện Philippines, Mỹ rút khỏi căn cứ quân sự ở Vịnh Subic, một trong những cảng nước sâu tốt nhất ở Viễn Đông. Trước đó, Mỹ cũng đóng cửa căn cứ không quân Clark ở nước này. Về phía Liên Xô, vào tháng 12/1991, Liên Xô tan rã, nước Nga kế thừa vẫn còn yếu kém, quan tâm đến các cải cách nội bộ hơn là duy trì ảnh hưởng của họ ở bên ngoài. Chi tiêu quốc phòng của Nga thời kỳ này không bằng 10% tổng chi tiêu quốc phòng của Mỹ. Ngoài lực lượng vũ khí chiến lược hùng hậu chủ yếu dùng để răn đe và phòng thủ, Nga không có khả năng triển khai các lực lượng quân sự thông thường ở bên ngoài lãnh thổ như Liên Xô trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Vì vậy, Nga đã rút các lực lượng hải quân của mình khỏi Vịnh Cam Ranh của Việt Nam vào năm 2001.

Bên cạnh đó, Nhật Bản và Ấn Độ vẫn còn nhiều mối bận tâm khác sát sườn hơn vấn đề Biển Đông. Nhật Bản có lợi ích chiến lược trong việc duy trì tự do hàng hải ở Biển Đông với 75% nhu cầu năng lượng của Nhật Bản nhập khẩu từ Trung Đông phải đi qua Biển Đông. Tuy nhiên, ảnh hưởng của Nhật ở Đông Nam Á chủ yếu vẫn duy trì trong lĩnh vực kinh tế. Theo Hiến pháp, Lực lượng Phòng vệ của Nhật Bản cũng không có quyền tiến hành chiến tranh và triển khai các hoạt động quân sự biên ngoài lãnh thổ. Nhật Bản lại lệ thuộc vào Mỹ để đảm bảo an ninh cho mình và còn cần chú trọng tranh chấp quần đảo Senkaku/Điếu Ngư thuộc biển Hoa Đông với Trung Quốc hơn vấn đề Biển Đông. Ấn Độ thì chủ yếu vẫn quan tâm đến Nam Á; và việc Trung Quốc có thể chuyển giao công nghệ tên lửa cho Pakistan (Ấn Độ và Pakistan có tranh chấp biên giới lãnh thổ xung quanh vùng Kashmir).

2. ASEAN phản ứng còn dè chừng trong vấn đề Biển Đông: ASEAN thời điểm đó không có cách tiếp cận thống nhất về mối đe dọa Trung Quốc, chưa tập hợp được đầy đủ 10 nước Đông Nam Á và có vai trò, vị thế như hiện nay. Lần đầu tiên ASEAN chính thức đưa ra phản ứng chung của cả khối về vấn đề Biển Đông là vào tháng 07/1992 tại Manila, Philippines khi Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN ra tuyên bố chung kêu gọi các bên giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực. Tuyên bố này được đưa ra như là phản ứng của ASEAN trước sự hung hăng và xu hướng đối đầu ngày càng gia tăng trong hành xử của Trung Quốc tại Biển Đông thời điểm đó. Tuy nhiên, ASEAN lúc này mới chỉ có 6 thành viên (gồm Singapore, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Philippines, Brunei), trong đó Việt Nam – một bên yêu sách quan trọng trong vấn đề Biển Đông – chưa gia nhập khối. Khi sự kiện đá Vành Khăn diễn ra, Philippines đã phải nỗ lực đấu tranh để ASEAN có thể ra các tuyên bố mạnh mẽ về vấn đề Biển Đông tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN tháng 03/1995 và sau đó là ra “Tuyên bố của các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN về các diễn biến gần đây ở Biển Đông” (18/03/1995), bày tỏ quan ngại và kêu gọi các bên kiềm chế, giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình. Thông cáo chung của Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN tháng 07/1995 cũng nhắc lại tuyên bố này. Mặc dù vậy, ASEAN đã không đề cập đích danh Trung Quốc trong Thông cáo chung.

3. Trung Quốc lợi dụng yếu tố thời tiết: Nhân lúc có bão trên biển, khi hải quân Philippines buộc phải rời đá Vành Khăn tránh bão vào năm 1994, Trung Quốc đã tiếp cận và chiếm đóng đá này. Sau khi trở lại, hải quân Philippines đã bất ngờ trước sự hiện diện của Trung Quốc tại đây và bị đặt vào tình thế “sự đã rồi” hết sức bị động.

4. Philippines lơ là cảnh giác với Trung Quốc: Trung Quốc chiếm đá Vành Khăn trong bối cảnh Philippines có quan điểm khá tích cực về nước này. Tuy hai bên có tranh chấp ở bãi cạn Scarborough nhưng Trung Quốc không có lịch sử đối đầu quân sự với Philippines. Trong suốt những năm 70, Philippines theo đuổi chính sách hòa hoãn và ưu tiên phát triển quan hệ kinh tế với Trung Quốc. Vì vậy, quan hệ Trung Quốc – Philippines phát triển tương đối độc lập với quan hệ Mỹ – Philippines trong thập kỷ 1970 và 1980. Trước năm 1995, tranh chấp biển đảo không phải là vấn đề chính trong quan hệ Trung Quốc – Philippines. Dù phần nào e ngại về các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc, các nhà lãnh đạo Philippines cũng không nhận định Trung Quốc là mối đe dọa trước mắt (imminent threat). Hầu hết các chính trị gia, quan chức chính phủ và học giả Philippines đều có nhìn nhận tích cực về Trung Quốc trên cơ sở lịch sử bang giao hữu hảo và quan hệ kinh tế ngày càng phát triển giữa hai nước. Hơn nữa, các nhà lãnh đạo Trung Quốc cũng đưa ra các đảm bảo chính trị giải quyết tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ giữa hai nước bằng các biện pháp hòa bình, “gác tranh chấp, cùng khai thác”. Bởi vậy, Philippines đã thực sự bất ngờ trước việc Trung Quốc hành động chiếm đá Vành Khăn.

5. Philippines đang ở tình thế bất lợi: Philippines là bên bị động và yếu thế hơn Trung Quốc (cả về kinh tế và quân sự). Quân đội Philippines lúc đó vẫn còn yếu kém và không có sự trợ giúp đáng kể của các cường quốc khác. Philippines hoàn toàn lệ thuộc vào ô bảo hộ an ninh của Mỹ (theo Hiệp ước Phòng thủ Tương hỗ Mỹ – Philippines năm 1951), nên nước này không tập trung đầu tư phát triển quốc phòng trong nước để đối phó với các mối đe dọa bên ngoài. Thay vào đó, quân đội của Philippines được sử dụng để đối phó với các lực lượng nổi dậy và các phong trào ly khai trong nước. Do đó, hải quân và không quân hầu như không có điều kiện để phát triển. Bên cạnh đó, sau lệnh thiết quân luật của Tổng thống Marcos, vai trò của quân đội Philippines bị chính trị hóa: Quân đội trở thành lực lượng bảo vệ chế độ, nghe mệnh lệnh của Chính phủ. Vì vậy, sau khi các lực lượng của Mỹ rút khỏi Philippines đầu những năm 1990, chính quyền Philippines đứng trước nhiệm vụ cấp bách là hiện đại hóa và tăng cường các lực lượng vũ trang nhưng gặp khó khăn do: (i) Khả năng kinh tế yếu kém; (ii) Quân đội Philippines mất uy tín trong nhân dân; (iii) Quốc hội và nhân dân Philippines không nhận thức rõ các mối đe dọa từ bên ngoài sau khi Mỹ rút quân đội khỏi nước này.

6. Nhà lãnh đạo hạt nhân của Trung Quốc tìm cách củng cố quyền lực qua vấn đề chủ quyền lãnh thổ: Để củng cố quyền lực của mình, nhà lãnh đạo Trung Quốc khi đó là Giang Trạch Dân nỗ lực giành sự ủng hộ của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) và các phe phái bảo thủ trong chính quyền bằng cách theo đuổi chính sách cứng rắn hơn đối với các vấn đề chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ như vấn đề Biển Đông, Đài Loan (bởi như vậy sẽ kích động tinh thần dân tộc và yêu nước trong nhân dân). Chính sách này của Giang Trạch Dân thể hiện rõ nét không chỉ qua sự kiện đá Vành Khăn (bắt đầu từ năm 1995), mà còn qua Khủng hoảng eo biển Đài Loan lần 3 (1996) (PLA đặc biệt ủng hộ việc phóng tên lửa trong thời gian diễn ra bầu cử lãnh đạo Đài Loan tháng 03/1996).

Sự kiện bãi cạn Scarborough (2012)

Đụng độ Trung Quốc – Philippiness ở bãi cạn Scarborough là cuộc đối đầu trên Biển Đông kéo dài nhất trong hai thập kỷ qua (diễn ra trong gần 3 tháng). Trước khi vụ việc này diễn ra, các vụ đụng độ tương tự tại bãi cạn cũng đã xảy ra vào những năm 90 và đầu thập niên 2000 giữa Trung Quốc và Philippines. Hải quân Philippines từng bắt giữ các ngư dân Trung Quốc đi tàu vào bãi cạn này. Hai nước cũng không duy trì sự hiện diện thường trực của mình tại bãi cạn. Ngày 08/04/2012, Philippines phát hiện một số tàu cá Trung Quốc đánh bắt trái phép cá tại bãi cạn nên chuẩn bị bắt giữ và bị các tàu của Trung Quốc ngăn cản. Tháng 06/2012, Philippines rút các tàu của mình khỏi bãi cạn do ảnh hưởng xấu của cơn bão Gutchol, tuyên bố rằng đây là thỏa thuận cùng rút tàu của cả Philippines và Trung Quốc, nhưng phía Trung Quốc phủ nhận. Sau đó Trung Quốc đã điều thêm tàu đến bãi cạn và kiểm soát thực tế bãi cạn từ đó đến nay.

Trong vụ đụng độ tại bãi cạn Scarborough, có thể rút ra một số điều về các tính toán chuẩn bị khởi sự của Trung Quốc như sau:

1. Mỹ dưới Chính quyền Obama chần chừ, mập mờ đối với vấn đề Biển Đông của Philippines: Trong khi cam kết tôn trọng Hiệp ước phòng thủ chung năm 1951 ký với Philippines, Mỹ không nêu rõ bãi cạn Scarborough có nằm trong phạm vi bảo vệ của Mỹ hay không. Thêm vào đó, Mỹ tuy tăng cường hỗ trợ quân sự và ngoại giao cho Philippines do lo ngại hành xử cứng rắn của Trung Quốc ở Biển Đông nhưng vẫn duy trì lập trường trung lập đối với các yêu sách về chủ quyền của các bên, trong đó có Philippines.

2. Trung Quốc lợi dụng yếu tố thời tiết: Nhân lúc có bão Gutchol trên biển, Trung Quốc đã cùng với Philippines thỏa thuận rằng hai bên đồng thời rút quân, nhưng trên thực tế đã không rời đi và ngăn các lực lượng của Philippines quay lại. Theo hình ảnh từ máy bay trinh sát của Philippines, tàu cá và tàu chính phủ của Trung Quốc đã hiện diện xung quanh đầm phá của bãi cạn Scarborough (dù Trung Quốc đã tuyên bố rút toàn bộ tàu). Phía Trung Quốc cũng đã xây dựng một rào chắn tại lối vào nhỏ hẹp của bãi cạn, cử các tàu chấp pháp canh gác để ngăn tàu Philippines trở lại đây.

3. Trung Quốc có sức mạnh kinh tế – quân sự hàng đầu châu Á: Trung Quốc khi đó đã trở thành nền kinh tế thứ hai thế giới từ năm 2010 và là quốc gia có lực lượng hải quân hùng mạnh nhất châu Á. Kể từ năm 2009, Trung Quốc đã xây dựng một lực lượng hải quân lớn mạnh để hậu thuẫn cho các tuyên bố chủ quyền của mình. So với thời điểm diễn ra sự kiện đá Vành Khăn, có thể nói là sức mạnh kinh tế và hải quân của Trung Quốc đã hoàn toàn khác xa.

4. Về tương quan lực lượng, Philippines yếu thế hơn Trung Quốc: Về quân sự, cũng giống thời kỳ sự kiện đá Vành Khăn, lực lượng hải quân của Philippines thuộc hàng yếu kém nhất trong khu vực; lực lượng không quân không đủ năng lực tuần tra và giám sát vùng lãnh hải rộng lớn của nước này. Về chính trị, chỉ sau vài tháng nhậm chức Tổng thống năm 2010, ông Benigno Aquino III đã thách thức Trung Quốc ở Biển Đông với các động thái như chuyển trọng tâm của Lực lượng Vũ trang Philippines từ tập trung vào an ninh nội địa sang phòng vệ bên ngoài, vận động sự ủng hộ ngoại giao và quân sự từ Mỹ để đối trọng lại Trung Quốc). Chính sách cứng rắn với Trung Quốc của Philippines đã dẫn đến tình trạng xấu đi nghiêm trọng trong quan hệ Trung Quốc – Philippines. Tuy vậy, đối với Trung Quốc, chính sách cứng rắn của Philippines chưa có tính răn đe cao bởi với lực lượng quân sự yếu kém, Philippines cuối cùng sẽ tìm cách tránh đối đầu quân sự trực tiếp với Trung Quốc để giải quyết tranh chấp.

5. Trung Quốc tìm được kẽ hở để bất nhất trong lời nói và hành động, tìm cớ biện minh cho hành động của mình: Trung Quốc đã tích cực hành động theo hướng tỏ ra là “tự vệ” trong vụ việc này nhằm chứng tỏ với cộng đồng quốc tế rằng Trung Quốc không phải là một nước lớn bắt nạt các nước vừa và nhỏ, từ đó tránh phản ứng gay gắt của dư luận thế giới và không tạo ra phản ứng lớn từ các cường quốc. Trên thực tế, Trung Quốc đã tìm cách khiêu khích Philippines để không là bên tấn công trước, sử dụng lực lượng dân sự trong hành pháp hàng hải, không dùng hải quân. Các tàu của Trung Quốc hầu hết đều không trang bị vũ khí (hàm ý “dùng để khẳng định sự hiện diện, không dùng để chiến đấu).[37] Về việc điều tàu đến bãi cạn Scarborough, Trung Quốc cũng tuyên bố đó là hành động “đưa tàu đến hỗ trợ người dân rút đi trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt”.

T.P

]]>
Nhìn từ biển vào: Các quan điểm về bờ biển Bắc và Trung Việt Nam (Phần 2) https://biendong.net/2021/12/20/nhin-tu-bien-vao-cac-quan-diem-ve-bo-bien-bac-va-trung-viet-nam-phan-2/ Mon, 20 Dec 2021 06:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=70793 Vùng đất Giao Chỉ và bờ biển Bắc và Trung Việt Nam đã từng có mỗi liên hệ thương mại chặt chẽ với các quốc gia Hồi Giáo từ cổ sử. Tạp chí Phương Đông trích dịch phần tiếp theo nghiên cứu của học giả Li Tana để làm rõ hơn chủ đề thú vị này.

Giao Chỉ có vị trí trung gian chiến lược trong thương mại giữa Trung Hoa và các nước Hồi giáo.

Giao Chỉ Dương trong phối cảnh quốc tế: quan hệ với người Hồi

Các thương gia Hồi, một danh xưng gộp chung chỉ các thương nhân có gốc miền Nam Á – và sau này vùng Trung Đông – cũng đã có các sự tiếp xúc quan trọng với Đại Việt. Từ thời nhà Hán trở về sau, các thương nhân gốc Hồi được khích lệ đến thăm viếng Giao Châu, bởi giá trị chính yếu của nó [đối với Trung Hoa] là về thương mại. Thí dụ, dưới thời cai trị của Thái Thú Sĩ Nhiếp (Shixie) trong thời khoảng giữa các năm 187-226, vài chục người Hồi được ghi chép đã hộ tống cỗ xe của ông và đốt các nén hương dọc con đường bất kỳ khi nào ông đi ra ngoài. Giao Châu là nơi mà các thương nhân và quan chức Trung Hoa có thể gặp gỡ các thương nhân ngoại quốc ở giữa đường. Một truyền thống trung gian như thế xem ra vẫn còn được giữ lại sau khi dân Việt giành lại nền độc lập của họ trong thế kỷ thứ X. Khi các sứ giả Mông Cổ đến thăm viếng Đại Việt năm 1266, họ nhận thấy một số khá đông các người Hồi cư ngụ tại đó. Sự khám phá này đưa đẩy đến một bức thư được viết bởi hoàng đế Mông Cổ Kublai gửi Đại Việt trong năm 1267, trong đó ông ta chỉ trích triều đình Việt về việc không cho phép nhiều người Hồi tiếp xúc với các sứ giả của ông trong cuộc thăm viếng của họ. Trong năm 1268, Kublai tiếp tục một nỗ lực khác để tiếp xúc với người Hồi Hột tại Đại Việt, đòi hỏi rằng Hoàng Đế Trần Thánh Tông phải gửi các thương nhân người Hồi sang Trung Hoa để ông ta có thể hỏi thăm họ về tình hình tại Trung Đông. Vua [Trần] Thánh Tông trả lời một cách né tránh, tuyên bố rằng chỉ có hai thương nhân gốc Hồi trong xứ sở, nhưng cả hai đều đã chết, nên yêu cầu của Kublai không thể đáp ứng được, điều mà hoàng đế [Mông Cổ] đã tức giận tố cáo như một sự nói dối.

Như các biên niên sử của chính Việt Nam đã chứng minh, Kublai đã có lý khi nói các sự móc nối đã hiện hữu giữa Đại Việt, Trung Hoa và vùng Trung Đông. Bộ Toàn Thư chép rằng trong năm 1274, không lâu sau khi có biến cố nêu trên, một đoàn khoảng 30 chiếc thuyền đi biển đã đến từ Trung Hoa. Trên các con thuyền là các di dân mang theo tài sản và gia đình của họ. Họ tự gọi mình là “Hồi Kê, từ ngữ gần như chắc chắn là một danh từ gọi sai của từ ngữ Hồi Hột. Hẳn phải có một số lượng đáng kể người dân cùng gốc với họ đã sống tại Đại Việt mới khiến họ làm một cuộc di chuyển lớn như thế. Sự hiện diện văn hóa vùng Trung Đông tại nước Đại Việt thời nhà Trần cũng được ghi rõ trong cùng nguồn tài liệu này. Thực tế, trong năm 1268, chính năm mà vị Hoàng đế Mông Cổ yêu cầu một cuộc thăm viếng của các thương nhân gốc Hồi từ Đại Việt, nhà vua trị vì Trần Thánh Tông và người em của ông được nói đã nhảy múa theo điệu Hồ [trong nguyên bản, chứ không phải là Hồi, chú của người dịch] tại cung điện hoàng gia để làm trò vui cho vua cha, Thái Thượng Hoàng Trần Thái Tông. Bộ Toàn Thư đặc biệt ghi chép rằng Thái Thượng hoàng đã thay đổi để mặc áo choàng bằng vải trắng trong dịp này. Điều cần ghi nhận rằng mặc quần áo vải trắng tại một buổi lễ không phải là phong tục của Trung Hoa hay Việt Nam vào thời điểm đó; đúng hơn, nó có vẻ phù hợp với tập quán của vùng Trung và Nam Á là ‘mặc đồ trắng trong dịp mừng lễ và đồ đen trong dịp để tang”.

Con của Thánh Tông, Hoàng Đế Trần Nhân Tông, đã nhiều lần đến thăm viếng xứ Chàm trong tư cách cá nhân như một Phật tử. Nơi đó ông gặp gỡ nhiều người đến từ vùng Trung Đông, điều sẽ mở cánh cửa cho các ảnh hưởng văn hóa của Hồi. Chỉ trong một bối cảnh như thế chúng ta mới có thể hiểu được các sự ghi chép xem ra có tính cách biệt lập hay ngẫu nhiên trong bộ Toàn Thư, chẳng hạn như sự đề cập trong năm 1304 về “các nhà sự thiền định đến từ xứ Chàm, chỉ uống sữa không thôi”. Trong năm 1311, có một nhà sư gốc Hồi khác xưng mình đã sống 300 tuổi, và được nói có khả năng đi trên mặt nước và thực hiện các hành vi siêu nhiên khác chẳng hạn như lộn ngược bên trong ra ngoài để phơi bày nội tạng của mình. Đây là cuộc thăm viếng thứ nhì của ông ta tại Đại Việt; lần này ông mang theo cô con gái và đã gả cho Hoàng Đế Anh Tông. Cuộc hôn phối này nhiều phần được sắp xếp bởi vua Nhân Tông, người đã tiếp nhà sư trong kỳ thăm viếng đầu tiên của ông ta. Triều đình Đại Việt có các sự tiếp xúc thường xuyên với xứ Chàm và xa hơn thế cũng đã được chứng minh bởi các kỹ năng ngôn ngữ của giới quý tộc nhà Trần, tiếp thụ được nhờ ở vị thế trung gian của Đại Việt trong sự hải hành: Tướng quân Trần Quang Khải, thí dụ, thông thạo nhiều ngôn ngữ, giống như người anh em của ông, ông Hoàng Trần Nhật Duật. Ông Hoàng kể sau đã có thể nói chuyện với các sứ giả từ Temasek (Singapore ngày nay) bằng ngôn ngữ của họ, theo Toàn Thư; đây có thể là tiếng mã Lai, nhưng cũng có thể là tiếng Ba Tư hay Ả Rập.

Dân Việt chắc chắn đã khai thác vị trí trung gian của họ giữa các nước hải ngoại với Trung Hoa. Một trong những sản phẩm của Đại Việt trong thế kỷ thứ XIII là các vòng đeo tay có mùi thơm. Để chế tạo các vòng đeo tay này, dân Việt sẽ trộn các bột hương liệu với đất bùn, nặn đất sét thành hạt và xâu chúng bằng sợi lụa màu, được nghĩ thu mua được từ các thương nhân vùng Tây hay Nam Á. Các chuỗi hạt này sau đó được mang sang Trung Hoa để bán và rất được ưa chuộng bởi phụ nữ ở đó. Các vòng đeo tay này cũng có thể đã được tái xuất cảng từ Trung Hoa sang các nơi khác của Đông Nam Á; các đồ gốm của Việt Nam được tìm thấy trong một chiếc thuyền bị đắm tại miền Nam Philippines bao gồm các hạt bằng thủy tinh.

Đảo Hải Nam và các liên hệ Hồi Giáo

Liên hệ tổng quát của Hồi Giáo với vùng này trở nên rõ ràng hơn khi đảo Hải Nam được đặt trong khung cảnh này. Giao Chỉ đã có các liên hệ chặt chẽ với Hải Nam; vị nữ thần địa phương chính yếu của Hải Nam là Lê Mẫu (Mẹ của sắc dân Lê), thí dụ, đã được mô tả như sau: “Bà ăn trái cây của vùng núi đồi và sống trên các vòm cây. Rồi thì có một người đàn ông từ Giao Chỉ vượt biển và đến đảo Hải Nam để để thu gom gỗ trầm [một hương liệu]. Bà Lê Mẫu đã kết hôn với ông ta và họ có sinh ra nhiều con cháu. Chỉ khi đó họ mới khởi sự khai khẩn đất đai và nuôi trồng thực phẩm”. Điều đáng chú ý, khu vực của bà ta, Lê Mẫu Sơn, là địa điểm của gỗ trầm hương tốt nhất. Thần thoại địa phương này không chỉ ra dấu về nguồn gốc của gỗ trầm hương của Giao Chỉ, mà còn về các quan hệ đan kết và thân mật hơn giữa Giao Chỉ và đảo Hải Nam. Các tài liệu khác về thời nhà Tống cũng chứng thực rằng người Dan từ Đại Việt có đến thăm viếng Hải Nam để góp nhặt gỗ trầm, mặc dầu mậu dịch với dân Hải Nam là một nguồn cung cấp đáng tin cậy hơn cho loại sản vật này. Sắc dân Lê ở đó “sống bằng nghề mua bán gỗ trầm”, theo tập Zhufanzhi. Bởi thế, một số “các kẻ thu nhặt” từ Giao Chỉ có thể là những người Việt Nam đến đảo Hải Nam để mua bán.

Các loại gỗ trầm này, tạo thành bộ phận quan trọng trong hàng hóa Việt Nam, sẽ tái xuất hiện tại địa điểm mậu dịch ở Qinzhou trong tỉnh Quảng Tây, nơi chúng được trao đổi lấy lụa với các thương nhân Trung Hoa đến từ những nơi xa xôi như tận Tứ Xuyên: Mọi đồ nhật dụng của Giao Chỉ tùy thuộc vào Qinzhou, chính vì thế các con tàu thường xuyên qua lại giữa hai nơi. Bãi mua bán nằm phía Đông con sông, bên ngoài thị trấn. Những người đến với hải sản để đổi lấy gạo và vải bông trong số lượng nhỏ được gọi là sắc dân “Dan của Giao Chỉ”. Những thương nhân giàu có đến mua bán từ khu vực biên giới [của Đại Việt] thuộc huyện Vĩnh Yên đến Qinzhou, những người này được gọi là “mối hàng nhỏ” (xiaogang). “Mối hàng lớn” (dagang) để chỉ các sứ giả được phái đi bởi triều đình [Đại Việt] để mua bán tại đây. Các sản phẩm mà họ mậu dịch là vàng, bạc, đồng tiền bằng đồng, gỗ trầm, nhiều loại gỗ có mùi thơm khác nhau, ngọc trai, ngà voi và sừng tê giác. Các nhà mậu dịch cỡ nhỏ bên phía chúng ta đến để trao đổi giấy, bút viết, gạo và vải bông với dân Giao Chỉ không đáng để ý mấy; nhưng có các thương nhân giàu có mà hàng gấm từ vùng Shu (Tứ Xuyên) đến Qinzhou để trao đổi lấy hương liệu mỗi năm một lần, thường liên quan đến cả hàng nghìn đồng quan bằng tiền mặt… Giao Chỉ là bên tham gia quan trọng nhất trong công cuộc mậu dịch trên bờ biển Trung Hoa nằm trong Vịnh Bắc Việt và các sự trao đổi thực hiện tại khu vực này đã được phát triển và hoàn chỉnh. Công cuộc mậu dịch này có thể được xem hoặc có tính chất cấp miền hay địa phương, với sự di chuyển một khoảng cách ngắn bằng thuyền. Mậu dịch chắc chắn là một phần cốt yếu trong đời sống của nhiều người dân trong vùng này.

Tuy nhiên, liên hệ sinh tử nhất của Hải Nam với thế giới bên ngoài là người Chàm; bắt đầu từ thời Tống, các sứ giả Chàm thường ghé chân đầu tiên tại Hải Nam trước khi tiến vào lục địa. Điều được xác định từ lâu rằng các thương nhân tích cực nhất tại đảo Hải Nam đến từ hay xuyên qua xứ Chàm, nơi mà các nhà mậu dịch Hồi Giáo có thiết lập các trạm như một mắt nối kết trong sợi dây xích mậu dịch chạy dài của họ.

Trong khung cảnh này, điều không tưởng tượng được là các nhà mậu dịch Hồi Giáo lại không để lại các dấu vết bao quanh khắp Vịnh Bắc Việt, tại Qinzhou, Hải Nam và xứ Chàm, nhưng cách nào đó bị trôi tuột mất bởi Đại Việt trong hàng ngàn năm mua bán và liên lạc của họ tại khu vực này – xong đây là có vẻ là điều mà văn liệu hiệu hữu cho chúng ta hay. Như tác giả Kenneth Hall đã nhận xét, mọi sự tham chiếu của người Việt về các trung tâm đô thị phương bắc đã bị pha màu bởi các thành kiến của các sử gia Khổng học sau này, đặc biệt bởi tư tưởng hoài nghi nói chung của họ đối với công cuộc mậu dịch. Trong các tình huống như thế, các liên hệ với Hồi Giáo sẽ bị tẩy xóa với nhiệt tình gấp đôi bởi các sử gia Khổng học bởi các mối liên kết này sự mang lại sự hỗn loạn và không mạch lạc trong sự xây dựng của họ một lịch sử dân tộc hợp lý cả về mặt ý thức hệ lẫn chủng tộc. Hậu quả, một phần quan yếu trong lịch sử Việt Nam bị đánh mất, như được chứng minh bằng chính bộ Toàn Thư: ít nhất trong hai trường hợp, danh xưng của sắc dân và xứ sở nước ngoài đã bị ghi chép sai lạc; một là trường hợp Huihu (Hồi Hồ) nêu trên, và trường hợp kia là Temasek. Bởi lý do này, hai đối tác mậu dịch quan trọng của Đại Việt vào lúc này đã biến mất dạng vào trong các danh xưng lạ lùng và không quen thuộc mà người ta đã giả định là không quan trọng và có tính cách địa phương. Sự kiện này kế đó củng cố hơn nữa cảm tưởng về Đại Việt như là một nước tù túng về thương mại quốc tế và là một nơi ít có các sự dính líu đến phần còn lại của thế giới. Được viết ít nhất 150 năm sau các biến cố đã được trình bày và dưới thời mà ý thức hệ Khổng Học ở địa vị không chế, các nhà biên tập bộ Toàn Thư biểu lộ ít sự quan tâm đến các danh xưng của các dân tộc mà các tổ tiên người Việt của họ đã thương thảo trên một căn bản khá thường xuyên. Một bộ phận bằng chứng có tính chất quyết đoán cho thấy làm sao các nền văn hóa và truyền thống khác nhau đã nuôi dưỡng và định hình xã hội Đại Việt chính vì thế đã bị phân tán và vùi lấp dưới lớp bụi bặm.

T.P

]]>
Nhìn từ biển vào: các quan điểm về bờ biển Bắc và Trung Việt Nam (Phần 1) https://biendong.net/2021/12/17/nhin-tu-bien-vao-cac-quan-diem-ve-bo-bien-bac-va-trung-viet-nam-phan-1/ Fri, 17 Dec 2021 06:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=70789 Biển Đông, đặc biệt khu vực bờ biển miền Trung Việt Nam đã đóng vai trò đặc biệt trong hệ thống thương mại khu vực từ rất xa xưa. Tạp chí Phương Đông trích dịch phần đầu tiên nghiên cứu về các quan điểm về bờ biển Bắc và Trung Việt Nam của học giả Li Tana để làm rõ hơn chủ đề này.

Đại Nam nhất thống toàn đồ năm 1834 khẳng định rõ chủ quyền của Việt Nam về hai quân đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Giao Chỉ Dương và vai trò then chốt của miền Trung Việt Nam

Trái với sự tin tưởng phổ quát rằng Giao Chỉ (miền Bắc Việt Nam) được nối liền với Trung Hoa bởi các hải lộ chật hẹp của Vịnh Bắc Việt, cho tới thời nhà Đường, vịnh này vẫn được né tránh khi du hành giữa Giao Chỉ và Trung Hoa bởi có đá lớn nằm ngầm dọc bờ biển. Đây là lý do tại sao Mã Viện (Ma Yuan), “Phục Ba Tướng Quân” thời nhà Hán, đã phải “mở các lối đi xuyên qua núi để “tránh biển” trong chiến dịch của ông ta chống lại Giao Chỉ hồi thế kỷ thứ nhất. Trở ngại này chỉ được khuất phục vào thế kỷ thứ chín, khi các khối đá ngầm được tháo gỡ đi dưới thời quan thái thú nhà Đường nổi tiếng, ông Gao Pian (Cao Biền trong tiếng Việt).

Các tình trạng khó khăn tại Vịnh Bắc Việt đã đem lại miền Trung Việt Nam, đặc biệt phân khu Nghệ Tĩnh ngày nay, một vai trò lịch sử quan trọng trong sự hải hành trong vùng. Con đường biển đã chạy từ phía đông đảo Hải Nam cho đến Phúc Kiến và Quảng Đông, trong khi trên đất liền một lối đi băng ngang dãy Trường Sơn nối liền vùng mà người Trung Hoa gọi là “Lục Chân Lạp (Lu Chenla) (có thể là vùng nam Lào và / hay miền Bắc Campuchia và sau đó ra tới biển, tạo nên nền móng của một con đường nổi tiếng từ thế kỷ thứ tám. Điều nổi bật, khi con đường này được vẽ trên một bản đồ, nó nối liền với Con Đường Phía Tây (Tây Lộ) lối thông hành đường trường cổ xưa nhất để đi lại giữa biển Ấn Độ và Trung Hoa; Con Đường Phía Đông (Đông Lộ), được dùng bởi các thuyền của Trung Hoa và Đông Nam Á, đã chỉ được phát triển sau này. Chính vì thế, không như con đường kể sau, Tây Lộ cổ xưa hơn được sử dụng bởi các thương nhân từ biển Ấn Độ gần như chắc chắn là một sự kết hợp các thông lộ trên biển với đất liền, với miền Trung Việt Nam là giao lộ của nó. Phía bắc miền Trung Việt Nam ngày nay và Vịnh Bắc Việt, với vùng nội địa núi đồi của chúng, trong thực tế nằm trên Tây Lộ.

Miền Trung Việt Nam cũng phục vụ như điểm tiếp cận chính yếu của Campuchia với biển Nam Hải, điều giúp để giải thích tại sao các vua Khmer đã gửi “cống phẩm” thường xuyên đến Đại Việt (19 lần) hơn đã phái đến nhà Tống Trung Hoa (5 lần). Các nhà mậu dịch sử dụng con đường này đặc biệt được đề cập đến như có gốc gác Việt Nam trong văn bia thời ban sơ của Khmer, chẳng hạn như một văn khắc năm 987 từ vùng hạ lưu sông Cửu Long. Bằng cớ rằng miền Trung Việt Nam đã phục vụ như con đường tiếp cận hải hành cho Giao Chỉ cũng có thể được tìm thấy trong câu chuyện về vua An Dương Vương hồi thế kỷ thứ nhì trước Công Nguyên. Bị truy đuổi bởi quân đội của Triệu Đã (Zhao Tuo), “nhà vua chạy trốn ra bờ biển và đã không thể tìm thấy tàu thuyền nào để vượt thoát”, điều đáng kể, nơi nhà vua bị thất trận là Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

Miền Trung Việt Nam chính vì thế gần như chắc chắn đã là cửa ngõ cho sự hải hành địa phương – nơi mà phần lớn các thương nhân, các kẻ hành hương và các sứ giả đổ bộ đầu tiên, trước khi ngược dòng sông lên trên để đến Giao Châu (Jiaozhou), kinh đô của nó. Sự vận tải trên con lộ này có thể đã nằm trong tay của các thương nhân Nam Á và Trung Đông, trong khi sự du hành giữa Giao Châu và các khu vực phía nam sẽ được thực hiện bởi các tàu hay thuyền nhỏ hơn, một lãnh vực chuyên môn của các thủy thủ người Việt trong nghiệp vụ hải hành theo tác giả Wang Gungwu. Họ chuyên chở hàng hóa từ các con tàu lớn đến từ Nam Á và Trung Đông, lực lượng chủ yếu tham gia vào việc mậu dịch tại Biển Nam Hải cho đến thời nhà Đường.

Các liên hệ lịch sử này giữa miền Bắc và miền Trung Việt Nam giải thích cho một từ ngữ Trung Hoa khá rối rắm, một sự giải thích quan trọng cho sự hiểu biết của chúng ta về miền này. Trong thế kỷ thứ XIII có xuất hiện từ ngữ Giao Chỉ Dương (Jiaozhi Yang; biển Giao Chỉ), chắc hẳn phát sinh từ danh hiệu Giao Chỉ (Jiaozhi), tên gọi cổ xưa Trung Hoa để chỉ Đại Việt. Tuy nhiên, liệu từ ngữ này để chỉ Vịnh Bắc Việt hay để chỉ biển dọc bờ biển miền Trung Việt Nam chưa bao giờ được nói rõ; trong phần lớn các nguồn tài liệu, có vẻ để chỉ phần kể sau và loại bỏ phần vịnh kể trước, trong khi ở các tài liệu khác, từ ngữ bao gồm cả hai bộ phận. Trong sự mơ hồ của từ ngữ này, giờ đây, xem ra một ký ức lịch sử đã được khắc sâu, nhìn nhận sự hợp nhất của hai khu vực, bờ biển miền Bắc và miền Trung Việt Nam. Mặc dù chưa hề được nói ra một cách trọn vẹn, có vẻ là khu Vịnh Bắc Việt đã phải được xem như một sự nối dài của Giao Chỉ Dương, chạy dọc theo bờ biển miền Trung Việt Nam và trong hàng nghìn năm đã là trục then chốt của sự lưu hành giữa Đông và Tây.

Các đoạn kế tiếp sẽ khảo sát khu mậu dịch này qua việc đặt tiêu điểm vào các kẻ mua bán nô lệ, ngựa và muối trong khu vực, kéo dài từ Vân Nam và Quảng Tây tại Trung Hoa đến xứ Chàm tại miền Trung Việt Nam ngày nay, và từ vùng núi đồi ra đến biển. Sự truy tìm này tất nhiên dẫn chúng ta đến việc khảo sát địa điểm mậu dịch hàng hải và các thương nhân Hồi Giáo trong việc tham dự và định hình lịch sử của Đại Việt, trước khi quay trở về tiêu điểm của chúng ta nhắm đến lịch sử địa phương và bản đồ dân tộc học. Bằng chứng khảo sát dưới đây cho thấy mức độ khá cao của sự lệ thuộc vào hàng hải, đặc trưng cho nền kinh tế của Đại Việt cho mãi đến thế kỷ thứ XV.

Mậu dịch cấp miền tại Giao Chỉ Dương – Mua bán nô lệ

Trong khi mọi người biết rõ rằng các thương nhân Chàm là những người mua bán nô lệ tích cực, điều hiếm khi được nói đến rằng vùng đất Đại Việt có thể là một trạm chính yếu trong công cuộc mậu dịch sinh nhiều lợi này. Như được viết trong một cuốn sách của Trung Hoa hồi thế kỷ thứ XIII về đời sống và phong tục của tỉnh Quảng Tây (Guangxi) và vùng Vịnh Bắc Việt: “Không có nhiều dân địa phương trong nước này [Đại Việt], [bởi vì] một nửa dân số là từ Quảng Đông và Quảng Tây. Các thương nhân đến miền Nam thích mua người làm gia nhân cho mình, và khi họ đến các vùng núi mọi rợ, các thương nhân sẽ trói lại và đem bán họ cho các dân chúng ở đó. Giá là hai lạng vàng mỗi người. Dân miền núi sẽ bán chúng lại cho Giao Chỉ, và giá lên thành 3 lạng vàng.

Hiếm có năm nào không có hàng trăm ngàn người bị đem bán. Giá của những kẻ có tay nghề thì gấp đôi, và cho những người biết đọc và biết viết, giá lại gấp đôi một lần nữa. Một tài liệu cùng thời khác, tập Lingwai daida của thế kỷ thứ XIII, viết về các quan hệ giữa việc mua bán vàng và nô lệ một cách rõ ràng hơn nữa: “Dân chúng tại Giao Chỉ nắm lợi thế có vàng và vì thế có khuynh hướng mua người của chúng ta [tại Quảng Tây] làm nô lệ.” Khi hai sự tường thuật này được nối vào nhau cùng với một văn bản trong nguồn tại liệu đương thời nổi tiếng, tập Zhuhanzhi, ý nghĩa của sự trích dẫn dưới đây đã nổi bật lên: “Lễ hội quan trọng nhất của xứ sở [Đại Việt] diễn ra vào ngày 15 tháng Bẩy âm lịch, khi mọi gia đình trao đổi quà tặng với nhau. Các quan chức hiến tặng các nô lệ (shengkou) lên nhà vua, nhà vua sẽ ban yến tiệc cho các quan chức vào ngày 16 để đáp tạ.” Các quan chức vào lúc đó hẳn phải xem các nô lệ như các quà tặng rất quý giá, và họ biết rằng họ sẽ được tưởng thưởng vì [cống hiến] các người nô lệ này.

Biên niên sử Việt Nam có ghi thêm một mẩu bằng cớ khác về vai trò quan trọng của các nô lệ này trong thời nhà Lý (1009-1225), bổ túc cho sử sách Trung Hoa đương đại đã được trích dẫn bên trên. Theo bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, các ma thuật của một nô lệ gốc nước Đại Lý (Vân Nam) đã được sử dụng trong một âm mưu tại triều đình năm 1096 bởi chủ nhân, kẻ có ý định giết hại Hoàng Đế Lý Nhân Tông. Sự tường thuật này phù hợp với bằng cớ của Trung Hoa rằng các người có kỹ năng được đánh giá cao và rằng các nô lệ đến từ phương Bắc.

Hiện tượng mua bán nô lệ giải thích sự liên lạc thường xuyên giữa nhà Tống Trung Hoa và nhà Lý nước Đại Việt về việc đột kích và giao hoàn dân chúng. Chắc chắn là sự thiếu hụt nhân lực tại Đại Việt đã đóng một vai trò trong sự vụ này – và nhiều nô lệ Trung Hoa đã trở thành binh sĩ trong quân đội Việt Nam – nhưng nhiều người khác hẳn đã bị bán lại cho các thương nhân ngoại quốc hay lui tới Đại Việt, và kết thúc tại những nơi chẳng hạn như xứ Chàm. Các nô lệ đã là một trong các món hàng quan trọng được chuyển vận bởi các tàu biển Nam Hải (Nanhai po) được sở hữu bởi các thương nhân nước ngoài, những người đôi khi đã mang người da màu sậm được biết là các nô lệ vùng Côn Lôn [Kunlun nu: Côn Lôn nô] vào nước Trung Hoa như loại hàng hiếm có, nhưng cũng là những người đã xuất cảng các nô lệ từ đó.

Một mẩu bằng cớ về sự buôn người như thế là vua Fan Wen (Phạm Văn) (trị vì từ 331-349) của nước Lâm Ấp, một thể chế được nhìn như tiền thân của xứ mà sau này được gọi là xứ Chàm. Theo một tài liệu Trung Hoa cổ điển quan trọng, quyển Shujing zhu, Phạm Văn gốc gác từ Dương Châu (Yangzhou), thuộc Châu Thổ sông Dương Tử và đã bị bắt cóc làm nô lệ từ khi còn nhỏ. Ông bị đem bán sang Giao Châu và sau đó được mua bởi một số thương nhân người Chàm mua bán ở đó, và sau cùng dừng chân tại Lâm Ấp. Với thời gian, ông trở thành tể tướng, và sau cùng là quốc Vương của xứ sở đó. Phần lớn các sách vở trước đây có đề cập đến gốc tích Trung Hoa của Phạm Văn nhưng bỏ sót chi tiết nói rằng ông, tiên khởi, bị đem bán cho Giao Châu, trước khi được chở đến xứ Chàm, nhiều phần đã nhìn việc này có tính chất ngẫu nhiên. Tuy nhiên, khi đặt vào bối cảnh lịch sử được phác họa ở trên, nó cho thấy rằng việc mua bán nô lệ là một tập tục xưa hàng nhiều thế kỷ tại khu vực này, rằng nó có liên hệ đến cả các thương nhân Trung Hoa lẫn nước ngoài và rằng Giao Châu ít nhất đã là một đoạn đường, nếu không phải là một thị trường quan yếu trong sự mua bán này.

Điều đáng xét đoán trong bối cảnh này là sự giàu có hiển nhiên của Đại Việt trong thế kỷ thứ mười hai đã liên hệ đến mức độ nào với sự mua bán nô lệ. Thí dụ, theo đây là danh sách cống phẩm của nước này dâng cho triều đình Nam Tống trong năm 1156: “Cống phẩm cực kỳ phong phú và tất cả mọi nét chữ trong lá thư đều được viết bằng vàng. Các phẩm vật bằng vàng cân nặng 1200 lạng, phân nửa chúng được tô điểm bằng trân châu hay ngọc quý; 100 viên trân châu đựng trong các bình bằng vàng, trong đó có 3 viên to như quả cà, sáu viên to như hột mít, 24 viên to như hạt quả đào, 17 viên to như mọng dừa, và 50 viên to như hột chà là, tổng cộng là 100; 1000 cân Mã Lai [catties = 600 gram, chú của người dịch] gỗ trầm hương, 50 lông chim bói cá; 850 cuộn gấm chỉ vàng hình con rồng, sáu con ngựa dành cho hoàng triều với đầy đủ yên ngựa, ngoài số cống thường lệ là tám con ngựa và năm con voi. Các sứ giả hoàn toàn hãnh diện về việc có thể dâng các cống phẩm dồi dào đến như thế.” Cần nói thêm ít lời về kích thước của các ngọc trai được nêu ở trên. Mặc dù khu vực dọc theo bờ biển Quảng Tây (quận Hợp Phố: Hepu) và Vịnh Bắc Việt nổi tiếng về việc sản xuất ra ngọc trai, trân châu nơi đây không được tin là tốt hay to như trân châu từ Ấn Độ. 50 viên trân châu lớn được liệt kê bên trên chính vì thế có thể có nguồn gốc từ sự mua bán của Đại Việt với vùng Nam Á; nếu đúng như thế, việc này ám chỉ mức độ theo đó sự giàu có đã được trao đổi giữa hai miền. Tổng quát, bằng cớ rải rác như bằng chứng này ám chỉ rằng mức giàu có của Đại Việt triều Lý và đầu nhà Trần có lẽ khá đáng kể.

Mậu dịch cấp miền tại Giao Chỉ Dương – Ngựa từ Vân Nam và muối từ biển

Một sản phẩm trao đổi khác tại Đại Việt thời nhà Lý là các con ngựa. Ngựa là một trong những sản phẩm quan trọng nhất mà người Chàm có được từ Việt Nam. Quyển Song huiyao chép rằng người Chàm di chuyển “trên những con voi hay các võng kiệu làm bằng vải bông, còn các người khác cười ngựa được mua bán từ Giao Châu”. Tài liệu thời nhà Minh, Dongxi yangkao, cũng xác nhận rằng “trong suốt thời nhà Tống, người Chàm thường mua ngựa từ Giao Chỉ, vì thế, Giao Chỉ có các đuôi ngựa như một thổ sản của nó”. Tuy nhiên, ngựa không được nuôi dưỡng tại địa phương Giao Chỉ; chúng được mua từ các người Mán (một từ ngữ để chỉ “kẻ man rợ được dùng bởi người Trung Hoa và Việt Nam) tại khu vực biên giới Vân Nam và Quảng Tây ngày nay. Các nguồn tài liệu Việt Nam chỉ rõ các địa phương nơi ngựa có thể mua bán. Thí dụ, trong năm 1012, khi các người Mán đến các khu vực Kim Hoa và Vị Long để mua bán, Hoàng Đế Lý Thái Tổ đã ra lệnh rằng “họ và hơn 10.000 con ngựa của họ phải bị bắt giữ”. Trong các cuộc đột kích như thế, đôi khi được chỉ huy bởi chính các nhà vua cầm quyền của nước Việt, các con ngựa là một trong các sản phẩm được truy lùng nhiều nhất. Quyển Việt Sử Lược hồi thế kỷ thứ mười ba ghi chép rằng trong năm 1008, Hoàng Đế Lê Ngọa Triều “thân chinh cầm đầu một cuộc đột kích vào hai huyện Đô Lang [Lương] và Vị Long, bắt giữ người Mán và vài trăm con ngựa”. Trong cả hai trường hợp, khu vực Vị Long hiện ra từ sử sách như một nguồn trọng yếu [cung cấp] ngựa cho Đại Việt. Điều này xem ra để giải thích, ít nhất một phần, lý do tại sao trong nhiều thế kỷ triều đình nhà Lý đã hướng mắt nhìn bén nhậy đến khu vực và đã gả nhiều công chúa cho thổ tù địa phương, gia tộc họ Hà (He, trong chữ Hán).

Sản phẩm thông thường nhất mà người Việt trao đổi lấy ngựa là muối. Quyển Lingwai daida ghi chép rằng “người Fan [Phan?] một từ ngữ khác để gọi các kẻ man rợ bán ngựa cho chính quyền hàng năm để đổi lấy các sản vật, muối và trâu bò; nếu không làm được như thế, họ sẽ ngăn cản các đường ngựa đi qua”. Một cách đáng lưu ý, người Việt đã không nhất thiết sản xuất ra mưối mà họ đã trao đổi lấy ngựa. Quyển Việt Sử Lược cho thấy rằng mãi cho đến năm 1206, phần lớn khu duyên hải bị cai trị bởi các hùng trưởng địa phương; thí dụ, hai khu sản xuất muối quan trọng là Đằng Châu và Khoái Châu (tại tỉnh Hưng Yên ngày nay) nằm dưới quyền của hai sứ quân hơn là dưới quyền kiểm soát của các hoàng đế nhà Lý. Như tác giả John Whitmore đã vạch ra, bức rào cản giữa miền hạ Đại Việt và thượng Đại Việt chỉ được gỡ bỏ trong thập niên 1220 như là kết quả của một nỗ lực chung giữa nhà Lý và những người kế nhiệm họ tức triều đại nhà Trần (1225-1400), và đó chính là lần đầu tiên trong lịch sử mà hai miền thực sự nối liền với nhau.

Toản tập thiên nam tứ chí lộ đồ thư của Đỗ Bá soạn thế kỷ 17 xác định giữa biển khơi có Bãi Cát Vàng và xứ Trường Sa.

Từ quan điểm này, việc trao đổi ngựa tạo thành một trong các mối liên kết then chốt trong sợi dây chuyền mậu dịch vùng núi – vùng biển của miền này và đã là một thành tố quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Chỉ trong bối cảnh này người ta mới có thể hiểu được, thí dụ, tại sao xứ Nam Chiếu, và các con đường dẫn đến nơi đó, là mối bận tâm của các nhà cai trị Việt Nam đương thời cũng như của Trung Hoa; và làm sao mà một vương quốc có vẻ quá xa xôi với người Việt Nam hiện đại lại có thể xâm lăng vào kinh đô Việt Nam bốn lần (trong các năm 846, 860, 862 và 863) và đã chiếm giữ nó trong hai năm (863-865). Các con ngựa trong thực tế chính là lý do mà các hùng trưởng địa phương lôi cuốn xứ Nam Chiếu hùng mạnh sang xâm lăng lãnh địa của họ, sau khi Li Zhuo, viên Thái thú Trung Hoa tại vùng khi đó nhà Đường gọi là An Nam Đô Hộ Phủ, đã cưỡng hành một giá thấp phi lý trong tỷ lệ trao đổi giữa muối và ngựa. Xa hơn, cũng có thể lập luận rằng chính cùng các cuộc xâm lăng của Nam Chiếu này đã làm suy yếu rất nhiều sự thống trị của nhà Đường tại vùng đất bảo hộ và chính vì thế đã mở đường cho sự độc lập của dân Việt trong năm 939. Ngay trong thế kỷ thứ XII, Vân Nam hãy còn đóng giữ một vai trò quan trọng trong chính trị Việt Nam, khi hoàng gia nước Đại Lý có thừa nhận một vị hoàng tử hạ sinh bởi một nàng phi của vua Lý Nhân Tông, ban cho hoàng tử này quốc tính (Zhao: Triệu?), và trợ giúp ông các đội quân khi ông hoàng này mưu toan tuyên nhận ngai vàng sau khi có sự từ trần của vua cha.

Tất cả các thí dụ trên đây tiêu biểu cho các tính chất chính yếu của Giao Chỉ như một hải cảng quốc tế. Như đã ghi nận ở trên, Giao Châu và Quảng Châu đều nổi tiếng như các trung tâm mậu dịch từ thời nhà Đường, nhưng hai nơi khác biệt ra sao thì chưa bao giờ được nêu rõ ra, hay ít nhất, được nói ra một cách rõ rệt. Giờ đây, có vẻ là trong khi Quảng Châu đã tiếp nhận phần lớn khối lượng mậu dịch của nó bằng đường biển, Giao Châu tự xác định nghiêng về mậu dịch miền núi và trên đất liền nhiều hơn, xuyên qua các sự liên kết của nó với các miền Khmer, Chàm, Lào và Vân Nam. Các sự nối kết này đã trở nên dễ dàng hơn bởi các mối tương thông sông – biển của nó, trong đó miền trung Việt Nam đã đóng một vai trò quan trọng. Kết quả, các sản vật nhờ đó Giao Chỉ trở nên nổi tiếng trong suốt nhiều thế kỷ phần lớn lại không phải là các sản phẩm chính địa phương mình, như được nhấn mạnh bởi nội dung của một danh sách “cống phẩm” từ Ngưu Hống (chung quanh vùng ngày nay là Yên Châu, tỉnh Sơn La) và Ai Lao (một địa điểm thuộc Lào ngày nay) lên Đại Việt trong năm 1067: “vàng, bạc, hương liệu, sừng tê giác và ngà voi”.

T.P

]]>