UNCLOS 1982 – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Fri, 25 Oct 2024 02:13:36 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 30 năm UNCLOS có hiệu lực: Vai trò của cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc https://biendong.net/2024/10/24/30-nam-unclos-co-hieu-luc-vai-tro-cua-co-che-giai-quyet-tranh-chap-bat-buoc/ Thu, 24 Oct 2024 02:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=138830

Ngày 16/11/1994, Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS) chính thức có hiệu lực, xác lập khuôn khổ pháp lý điều chỉnh mọi hoạt động trên biển và đại dương. Một trong những đóng góp quan trọng nhất của UNCLOS đối với sự phát triển của luật biển quốc tế là việc xây dựng được cơ chế toàn diện và bắt buộc để giải quyết các tranh chấp có thể nảy sinh liên quan đến việc giải thích hoặc áp dụng Công ước.

Thực tiễn 30 năm qua cho thấy cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS đã từng bước đi vào đời sống, trực tiếp giải quyết nhiều tranh chấp liên quan đến nhiều vấn đề luật biển giữa các quốc gia tại tất cả các khu vực trên thế giới, đóng góp thiết thực vào việc duy trì trật tự pháp lý trên biển dựa trên luật lệ.

Cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc của UNCLOS

Theo quy định của UNCLOS, khi phát sinh tranh chấp liên quan đến việc giải thích hoặc áp dụng Công ước, các bên có trách nhiệm trao đổi quan điểm nhằm tìm biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp. Nếu không đạt được thỏa thuận, một bên có quyền đưa tranh chấp ra một trong bốn cơ quan gồm Tòa án Luật biển quốc tế (ITLOS), Tòa án Công lý quốc tế (ICJ), Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII, hoặc Tòa Trọng tài đặc biệt theo Phụ lục VIII. Bên còn lại có nghĩa vụ tham gia tiến trình giải quyết tranh chấp và chịu sự ràng buộc của quyết định của cơ quan thụ lý, kể cả trong trường hợp không tham gia.

Tính bắt buộc của cơ chế giải quyết tranh tranh chấp của UNCLOS là cơ sở để Philippines đưa tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc ra Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII và Tòa ra Phán quyết ngày 12/7/2016 bác bỏ các yêu sách biển của Trung Quốc tại Biển Đông dù Trung Quốc không tham gia tiến trình xét xử.

Các điều ước quốc tế về biển trước năm 1982 hoặc là không có điều khoản về giải quyết tranh chấp, hoặc là quy định về giải quyết tranh chấp chỉ mang tính tùy nghi. Do đó, cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc của UNCLOS được xem là một bước tiến của luật biển quốc tế và luật quốc tế về giải quyết tranh chấp.

Thực tiễn 30 năm sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS

Trải qua 30 năm từ khi UNCLOS có hiệu lực, cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS đã xử lý hàng loạt vụ việc liên quan đến nhiều vấn đề pháp lý trên biển

Tại ITLOS, đến nay đã có 33 tranh chấp được Tòa thụ lý, bao gồm nhiều vụ về thả tàu nhanh, nhiều vụ liên quan đến các biện pháp khẩn nhằm bảo vệ quyền của các bên và ngăn chặn thiệt hại môi trường biển. ITLOS cũng đã giải quyết nhiều tranh chấp về phân định biển như vụ phân định Vịnh Bengal giữa Bangladesh và Myanmar – tranh chấp đầu tiên về phân định thềm lục địa mở rộng được giải quyết bởi một cơ quan tư pháp quốc tế, vụ phân định biên biển Đại Tây Dương giữa Mauritius và Maldives – tranh chấp đầu tiên về phân định biển giữa hai quốc gia quần đảo được giải quyết bởi một cơ quan tư pháp quốc tế, hay vụ phân định biển giữa giữa Ghana và Côte d’Ivoire – tranh chấp đầu tiên về phân định biển được giải quyết thông qua Viện đặc biệt của ITLOS.

Nếu các quốc gia thành viên UNCLOS không tuyên bố lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp, Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII được xem là cơ chế mặc định. Đến nay, đã có 15 tranh chấp được Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII giải quyết, trong đó có các tranh chấp phân định biển như vụ phân định giữa Barbados với Trinidad và Tobago, vụ phân định biển giữa Guyana và Suriname và vụ phân định biển ở Vịnh Bengal giữa Bangladesh và Ấn Độ. Tòa Trọng tài phụ lục VII cũng giải quyết nhiều tranh chấp về bảo tồn tài nguyên và bảo vệ môi trường biển như vụ cá ngừ vây xanh phương Nam giữa New Zealand, Australia và Nhật Bản, vụ nhà máy MOX giữa Ireland và Anh, vụ lấn biển giữa Malaysia và Singapore, vụ khu vực bảo tồn biển Chagos giữa Mauritius và Anh; hay các tranh chấp liên quan đến hoạt động của lực lượng chấp pháp và tàu thuyền, như vụ tàu ARA Libertad giữa Argentina và Ghana, vụ tàu Arctic Sunrise giữa Hà Lan và Nga, vụ tàu Enrica Lexie giữa Italy và Ấn Độ, tranh chấp liên quan đến việc giam giữ tàu và lính hải quân Ukraine giữa Ukraine và Nga. Đặc biệt Tòa đã giải quyết nhiều tranh chấp liên quan đến quyền được hưởng vùng biển, quyền và nghĩa vụ của quốc gia ven biển như tranh chấp liên quan đến quyền của các quốc gia ven biển ở Biển Đen, Biển Azov, và Kênh Kerch giữa Ukraine và Nga, và vụ Philippines kiện Trung Quốc ở Biển Đông.

Trong số các tranh chấp đã được đệ trình lên cơ chế bắt buộc của UNCLOS, nhiều tranh chấp liên quan đến các nước châu Á.  ITLOS đã giải quyết 3 tranh chấp liên quan đến Nhật Bản, 2 tranh chấp liên quan đến Úc, 1 tranh chấp liên quan đến Ấn Độ, Malaysia, Singapore và Myanmar. Các Tòa trọng tài theo Phụ lục VII của UNCLOS thụ lý 2 tranh chấp liên quan đến Ấn Độ, 1 tranh chấp liên quan đến Trung Quốc và 1 tranh chấp liên quan đến Philippines. Đối với các nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an LHQ, ITLOS đã xử lý 5 tranh chấp về việc giải thích và thực hiện Công ước liên quan đến Nga, 3 tranh chấp liên quan đến Pháp, 1 tranh chấp liên quan đến Anh. Các Tòa trọng tài theo Phụ lục VII của UNCLOS cũng đã thụ lý 2 tranh chấp liên quan đến Nga, 2 tranh chấp liên quan đến Anh, 1 tranh chấp liên quan đến Trung Quốc.

Về nguyên tắc, các tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước sẽ được giải quyết thông qua cơ chế bắt buộc của UNCLOS. Một số trường hợp ngoại lệ có thể không được giải quyết bằng thủ tục tư pháp bắt buộc, nhưng vẫn thuộc phạm vi giải quyết của thủ tục hòa giải bắt buộc. Điều này được chứng minh trên thực tế qua vụ hòa giải biển Timor Sea giữa Timor-Leste và Australia.

Hiệu quả cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS

Hiệu quả của cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS đối với việc thúc đẩy trật tự trên biển dựa trên luật pháp quốc tế còn được thể hiện thông qua việc thực thi quyết định của các bên tranh chấp có liên quan. Theo đó, quyết định của các cơ quan giải quyết tranh chấp UNCLOS về cơ bản đều được các bên tôn trọng. Pháp đã ba lần tham gia thủ tục bắt buộc tại ITLOS và trong cả ba trường, Pháp đều tuân thủ quyết định của ITLOS. Nhật Bản có hai tranh chấp do Nga đệ trình lên ITLOS, trong cả hai vụ, Nhật Bản đều thả tàu theo phán quyết của Tòa.  Đối với vụ nhà máy MOX, hai tuần sau khi ITLOS ban hành biện pháp tạm thời, Ireland và Anh đều đệ trình lên Tòa báo cáo thực thi.  Đối với vụ lấn biển, trên cơ sở quyết định của ITLOS, Malaysia và Singapore đã thành lập nhóm chuyên gia độc lập để xem xét tác động của hoạt động lấn biển của Singapore; khuyến nghị của nhóm chuyên gia đã được hai bên chấp thuận. 

Kể cả trong các tranh chấp nhạy cảm như tranh chấp về phân định biển, phán quyết của các cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS cũng đều được các bên tuân thủ. Trong vụ phân định biển giữa Barbados với Trinidad và Tobago, sau khi Tòa Trọng tài Phụ lục VII ra Phán quyết phân định biển, hai bên đã ra tuyên bố hoan nghênh và khẳng định sẵn sàng thực hiện Phán quyết. Tương tự, trong vụ phân định biển giữa Guyana và Surinam, sau khi Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII ra Phán quyết, hai bên đều khẳng định chấp nhận Phán quyết của Tòa.  Đối với tranh chấp liên quan đến phân định biên giới biển ở Vịnh Bengal giữa Bangladesh và Myanmar và giữa Bangladesh và Ấn Độ, tất cả các bên đều tuyên bố sẽ thực thi Phán quyết. Trong vụ Ghana v. Côte d’Ivoire, ngay sau khi Viện đặc biệt của ITLOS ra Phán quyết phân định biển, hai nước đã ban hành Thông cáo chung, nhấn mạnh Phán quyết của Tòa đã củng cố quan hệ giữa hai nước, khẳng định hai nước chấp nhận và tuân thủ quyết định.

Ngay cả trong tranh chấp về phân định biển được đưa ra trước Ủy ban Hòa giải vốn không có tính ràng buộc, các bên liên quan cũng cam kết tuân thủ khuyến nghị của Ủy ban. Ngày 26/9/2016, Australia tuyên bố chấp nhận quyết định về thẩm quyền của Ủy ban Hòa giải.  Năm 2018, một hiệp ước về phân định biên giới biển đã được các bên ký kết theo khuyến nghị của Ủy ban Hòa giải.

Ý nghĩa của cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS trong trường hợp một bên không tuân thủ

Thực tế cho thấy cũng có một số ít trường hợp nước lớn đã không tuân thủ phán quyết của các cơ quan giải quyết tranh chấp của UNCLOS, nổi bật là vụ kiện trọng tài Biển Đông, trong đó Trung Quốc nhiều lần tuyên bố Phán quyết là vô hiệu, không có giá trị pháp lý. Tuy nhiên, kể cả trong trường hợp này, quyết định của các cơ quan tài phán của UNCLOS cũng không phải là vô nghĩa.

Về pháp lý, quyết định có giá trị ràng buộc của các cơ quan tài phán UNCLOS đã làm rõ nhiều câu hỏi liên quan đến tranh chấp Biển Đông. Chẳng hạn, Phán quyết đã lần đầu tiên giải thích và áp dụng Điều 121(3) liên quan đến quyền được hưởng vùng biển của đảo đá, kết luận không có cấu trúc nổi nào ở Trường Sa có vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa riêng. Phán quyết đã khẳng định tính bất hợp pháp của yêu sách “quyền lịch sử” trong “đường đứt đoạn”. Phán quyết cũng làm rõ quốc gia lục địa không có quyền yêu sách đường cơ sở thẳng đối với quần đảo ngoài khơi.

Với Phán quyết của Toà Trọng tài Phụ lục VII, bối cảnh pháp lý của tranh chấp Biển Đông đã trở nên rõ ràng hơn. Các kết luận của Tòa đã làm sáng tỏ giới hạn của vùng biển mà Trung Quốc có thể hưởng ở phía Nam Biển Đông, thu hẹp rất đáng kể phạm vi vùng biển tranh chấp tại quần đảo Trường Sa; hệ quả là tất cả các hoạt động hoặc tuyên bố của Trung Quốc ở những khu vực không chồng lấn thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các quốc gia ven biển khác tại Biển Đông đều không có giá trị pháp lý.

Trên thực tế, chính quyền Philippines cho biết Phán quyết đã tạo đòn bẩy, tăng vị thế pháp lý của Philippines, củng cố lập trường pháp lý của Philippines trong tranh chấp Biển Đông. Phán quyết được nhiều nước trong và ngoài khu vực viện dẫn để thể hiện lập trường liên quan đến những diễn biến phức tạp ở Biển Đông. Phán quyết cũng là cơ sở để nhiều nước lưu hành Công hàm tại Liên hợp quốc thể hiện lập trường về vấn đề Biển Đông, bác bỏ các yêu sách biển không phù hợp với UNCLOS, thúc đẩy việc giải quyết tranh chấp Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế.

Kết luận

Thực tiễn sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS trong 30 năm qua kể từ khi UNCLOS có hiệu lực đã xác nhận tính chất bắt buộc và hiệu quả của cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS. Bằng việc phê chuẩn và trở thành thành viên UNCLOS, các quốc gia đã tự nguyện chấp thuận từ trước các cơ chế giải quyết mang tính bắt buộc của Công ước, do đó, việc một bên đơn phương đưa tranh chấp ra giải quyết tại một cơ quan tài phán đã được Công ước trù định là hoàn toàn phù hợp với “nguyên tắc chấp thuận” trong việc giải quyết tranh chấp quốc tế giữa các nước.

Các thủ tục bắt buộc của UNCLOS là khá toàn diện vì bao gồm hầu như đầy đủ các cơ quan tài phán mà các bên tranh chấp có thể lựa chọn sử dụng để giải quyết tranh chấp. Trong một số ít trường hợp, Phán quyết của cơ chế giải quyết tranh chấp không được các bên tuân thủ đầy đủ, nhưng vẫn mang lại giải pháp có tính công bằng, khách quan, ràng buộc, chung thẩm, góp phần củng cố lập luận, hỗ trợ các biện pháp đấu tranh ngoại giao, chính trị và tuyên truyền, tạo thêm thế và lực cho các quốc gia vừa và nhỏ trong việc tìm kiếm giải pháp lâu dài, bền vững, công bằng trong tranh chấp với các nước lớn có ưu thế vượt trội về chính trị, quân sự, kinh tế và tầm ảnh hưởng. Với chế định giải quyết tranh chấp bắt buộc được quy định tại Phần XV, UNCLOS đã tạo ra một “sân chơi” bình đẳng qua đó tất cả các quốc gia dù lớn hay nhỏ đều bị ràng buộc bởi cùng một khung pháp lý và đều có thể sử dụng cơ chế của UNCLOS để giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước trên cơ sở luật pháp quốc tế nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp và chính đáng của mình theo Công ước. Kể cả  châu Á, khu vực thường được xem là “vùng trũng” về giải quyết tranh chấp bằng biện pháp tư pháp, cũng đã có nhiều tranh chấp được đệ trình lên các thủ tục bắt buộc của UNCLOS. Điều này cho thấy, khi mà việc giải quyết tranh chấp biển được quy định cụ thể thông qua cơ chế bắt buộc của UNCLOS, ngày càng có nhiều quốc gia sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS để giải quyết tranh chấp, qua đó ngăn ngừa xung đột, duy trì hòa bình, ổn định, phát triển và trật tự trên biển dựa trên luật pháp quốc tế.

Song An

]]>
Liệu Mỹ có phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển không? https://biendong.net/2024/07/19/lieu-my-co-phe-chuan-cong-uoc-lien-hop-quoc-ve-luat-bien-khong/ Fri, 19 Jul 2024 01:37:00 +0000 https://biendong.net/?p=133170 Ngày 10/12/1982, Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) chính thức được ký kết, có hiệu lực từ ngày 16/11/1994. Trải qua hơn 40 năm, UNCLOS 1982 không chỉ là một văn kiện pháp lý quốc tế có giá trị phổ quát, giúp các quốc gia thiết lập được trật tự pháp lý toàn diện, công bằng, hòa bình trên biển, mà còn có giá trị hướng về tương lai, phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững của nhân loại. Đến nay, cả thế giới đã có 168 thành viên, gồm các quốc gia, vùng lãnh thổ và thể chế tham gia UNCLOS 1982.

Thế nhưng, Mỹ – cường quốc hàng đầu thế giới và cũng là quốc gia sở hữu hàng ngàn hải lý biển mà cho đến nay, vẫn chưa ký kết Công ước này. Lý do nào mà Mỹ lại chưa tham gia, hiện tại và tương lai sắp tới, Mỹ sẽ ứng xử thế nào đối với UNCLOS 1982 là những vấn đề được cộng đồng quốc tế, nhất là các quốc gia có biển rất quan tâm, trong đó có cả các chính khách, giới tinh hoa chính trị và giới chuyên gia nghiên cứu của cả Mỹ và các nước.

Lý do nào khiến Mỹ đến nay, vẫn chưa ký kết UNCLOS 1982…

Với việc có nhiều đóng góp vào trong các chế định và văn bản quy phạm pháp luật quốc tế đương đại quan trọng của thế giới, trong đó có cả UNCLOS 1982, có thể nói, Mỹ chính là một trong những quốc gia nhiệt thành trong quá trình đàm phán để hình thành nên UNCLOS 1982. Thế nhưng, khi Bộ Luật nay được hoàn tất, thì Chính quyền Mỹ dưới thời Tổng thống Ronald Reagan (1981 – 1989) lại “lắc đầu” không ký, khiến dư luận khá bất ngờ. Cho đến nay, Mỹ vẫn chưa phê chuẩn tham gia UNCLOS 1982, nguyên nhân có nhiều, nhưng chủ yếu là do nội bộ lãnh đạo nước này thiếu sự đồng thuận, đặc biệt là sự phản đối mạnh mẽ của phe bảo thủ trong Quốc hội Mỹ. Theo đó, phe này đưa ra nhiều lập luận, trong đó tập trung vào hai vấn đề sau:

Thứ nhất, phe bảo thủ trong chính giới Mỹ luôn nhất quán cho rằng: Đã là quốc gia hùng mạnh rồi thì không cần luật, Mỹ đã có đầy đủ tiêu chí là “siêu cường”, là quốc gia hùng mạnh nhất toàn cầu rồi nên không cần thiết phải tham gia UNCLOS. Hơn nữa, xét ở tầm vĩ mô, Bộ Luật này không có lợi cho kinh tế và an ninh của nước Mỹ, nên dù có ai phê phán, chỉ trích thì Mỹ cũng không cần tham gia.

Thực tế cho thấy, sau khi UNCLOS 1982 ra đời, đã có ít nhất hai lần Công ước này được trình ra trước Quốc hội Mỹ vào năm 1994 dưới thời Tổng thống Bill Clinton và năm 2007 dưới thời Tổng thống George W.Bush. Thế nhưng, cả hai lần đều bị ngăn chặn bởi những nhân vật bảo thủ hàng đầu, có ảnh hưởng lớn ở Mỹ, nhất là quan điểm “cứng rắn” của hai Thượng nghị sĩ là Jim DeMint và James Inhofe của đảng Cộng hòa. Ngoài ra, một số chính trị gia và học giả khác có uy tín ở Mỹ có cùng quan điểm bảo thủ cũng cực lực phản đối việc ký kết UNCLOS. Lập luận của phe này chủ yếu dựa vào những quy tắc của chủ nghĩa quốc gia bảo thủ. Theo ông Jim DeMint, Mỹ đã là một cường quốc biển từ lâu, đã hiện diện khắp mọi nơi trên thế giới và có quyền tự do hàng hải từ lâu đời, nên không việc gì phải ký UNCLOS. Tương tự, học giả Steven Groves thuộc Quỹ Heritage Foundation cũng khẳng định, Washington đang sở hữu lực lượng hải quân tốt nhất thế giới, có đủ sức đảm bảo quyền tự do hàng hải trên các vùng biển mà chẳng bị ràng buộc bởi bất cứ công ước, cơ quan hay tổ chức nào. Chưa hết, trong bài viết ngày 05/6/2024 mới đây, ông Steven Groves mặc dù đã thừa nhận Công ước về Luật Biển là văn bản đồ sộ, có giá trị pháp lý cao, nhưng vẫn cho rằng Bộ Luật này “vẫn có nhiều sai sót nghiêm trọng”. Mỹ không nên tham gia vì khi tham gia, Mỹ chỉ có “mất” mà không được lợi gì trong việc ngăn chặn Trung Quốc ở Biển Đông, bảo vệ quyền lợi của Mỹ ở Bắc Cực và khai thác khoáng sản dưới đáy biển sâu. Đặc biệt, ông Steven Groves còn nhấn mạnh, nếu tham gia vào UNCLOS thì sẽ làm cho Mỹ mất đi một nguồn lợi doanh thu lớn từ hoạt động khai thác dầu khí trên thềm lục địa mở rộng (ECS) của Mỹ do Cơ quan đáy biển quốc tế (ISA) thực hiện, khi cơ quan này phân phối lại cho các nước khác. Hơn nữa, Mỹ còn phải đối mặt với các vụ kiện liên quan đến vấn đề biển với nhiều khoản chi phí rất lớn. Trong khi phe chống đối ra sức ngăn cản thì có một thực tế khác, đó là vào thời điểm UNCLOS hoàn tất, Chính quyền Reagan cũng như lưỡng viện trong Quốc hội Mỹ không hài lòng với các nội dung nói về đáy biển, tài nguyên đáy biển (được xác định là tài sản chung của nhân loại) và phương pháp khai thác thương mại chúng, được đề cập trong chương XI của UNCLOS. Đây là một trong những lý do cơ bản khiến Chính quyền Reagan không thể ký UNCLOS 1982 ngay sau khi Công ước này hoàn tất. 

Không những thế, phe phản đối còn cho rằng, nếu tham gia UNCLOS thì không ai khác mà chính Mỹ sẽ tự mình hạn chế quyền tự do hàng hải của mình. Bởi vì hiện nay, tàu thuyền của Mỹ có thể di chuyển đến bất kỳ nơi đâu trên các vùng biển thế giới, trừ vùng nội thủy của các nước khác, và vẫn có “quyền đi lại không gây hại” ở vùng lãnh hải của bất cứ quốc gia nào. Thế nhưng, nếu tham gia UNCLOS 1982 thì Washington sẽ phải “xin phép” để được đi qua vùng đặc quyền kinh tế (EZZ) của các nước khác. Đây là điều khó có thể chấp nhận đối với một cường quốc biển như Mỹ. Ngoài ra, điều này còn dẫn tới hậu quả là, Washington bị “bó tay” khi muốn duy trì lực lượng răn đe trên biển hay thực hiện biện pháp “đu dây bên miệng hố chiến tranh” như từng điều tàu chiến đến eo biển Hormuz vào đầu năm 2012. Ngoài sự thiệt hại về kinh tế, về lĩnh vực quân sự, tính bảo mật cho những bí mật quân sự của Mỹ cũng bị ảnh hưởng nếu tham gia UNCLOS 1982 vì Washington phải chia sẻ thông tin tình báo, quân sự trên biển với ISA nếu tổ chức này yêu cầu, phải thông báo và xin phép ISA khi đi qua các eo biển quốc tế. Giới bảo thủ Mỹ cho rằng, ISA là một tổ chức quốc tế, nhưng rất “quan liêu, cồng kềnh và kém hiệu quả”, thế mà lại có quyền “yêu cầu” Mỹ báo cáo các thông tin hàng hải, quân sự thì đây không khác gì một sự “sỉ nhục” đối với một cường quốc biển như Mỹ. Xa hơn nữa, là việc ISA có quyền cho phép và thu thuế các doanh nghiệp Mỹ khi thực hiện những hoạt động trên biển. Đây cũng là điều không thể chấp nhận đối với Mỹ. Việc không tham gia UNCLOS 1982 còn phục vụ cho ý đồ nhất quán của Mỹ là mở rộng tầm ảnh hưởng ra toàn cầu, xây dựng một nền quốc phòng mạnh mẽ, có sức mạnh vượt trội, cộng với chính sách đối ngoại “cứng rắn” nhằm duy trì vai trò, vị thế “lãnh đạo” thế giới mà nước này đã và đang nắm giữ. Cố Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Donald Rumsfeld – một trong những người phản đối việc Mỹ ký kết UNCLOS, đã khẳng  định: “UNCLOS là một cuộc tranh giành quyền lực toàn diện, có thể là cơ chế phân phối lại của cải thế giới lớn nhất trong lịch sử nhân loại, một phúc lợi lớn của toàn cầu do người đóng thuế ở Mỹ cung cấp. Nhưng cơ chế quản lý toàn cầu không hợp lý này, lại không chịu trách nhiệm trước yêu cầu chính trị của cử tri Mỹ, đi ngược lại các nguyên tắc lập pháp dân chủ và tự trị của chính phủ Mỹ, đe dọa nền tảng lập quốc của Mỹ”.

Thứ hai, tuy chưa tham gia ký kết Công ước, nhưng các hoạt động trên biển của Mỹ cơ bản tuân thủ đúng các quy định của UNCLOS 1982 rồi, nên không cần tham gia vào Công ước này nữa. Hiện nay, về cơ bản, Mỹ không phải là thành viên của UNCLOS, nên về mặt hình thức, Mỹ không có trách nhiệm tuân thủ các điều khoản của Công ước. Tuy nhiên, vào năm 1982, không lâu sau khi nhậm chức, Chính quyền Reagan ngoài việc không ký UNCLOS 1982, còn tiến hành thực hiện một cuộc rà soát chính sách của Mỹ có liên quan đến Công ước này. Qua rà soát, Mỹ cho rằng, các quy định của UNCLOS 1982 về cơ bản phù hợp với các tập quán công pháp quốc tế. Trong khi đó, Mỹ cơ bản đã thực hiện đúng các tập quán công pháp quốc tế và đã tự cam kết trách nhiệm tuân thủ hầu hết các điều khoản như đã nêu trong UNCLOS từ rất lâu rồi, chỉ khác là những điều này chỉ nằm dưới dạng tập quán công pháp mà thôi. Việc Mỹ tuyên bố vùng lãnh hải, xác định các vùng quyền chủ quyền của Mỹ và việc giải quyết các khác biệt ranh giới biển với các quốc gia láng giềng, đều dựa trên cơ sở thỏa thuận, tự nguyện, đôi bên cùng có lợi. Tranh chấp phân định ranh giới biển ồn ào nhất mà Mỹ từng “vướng vào” là việc xác định ranh giới thềm lục địa tại Vịnh Maine đầu thập niên 1980 với Canada. Để giải quyết tranh chấp này, thay vì dùng vũ lực quân sự chiếm đảo, hay “quần thảo” trên vùng biển nước bạn đến tận gần lãnh hải bằng tàu đánh cá có trang bị vũ khí, hay các tàu hải trình như Trung Quốc từng làm với một số nước ở Biển Đông, Mỹ chấp thuận yêu cầu của Canada, đó là đưa tranh chấp này ra xét xử tại Tòa án Công lý quốc tế. Sẽ là không thực tế nếu cho rằng, Mỹ đã làm tròn nghĩa vụ của một cường quốc hàng hải nên không nhất thiết phải phê chuẩn Công ước, để từ đó trở thành thành viên của UNCLOS. Tuy nhiên, từ các thông tin trên cho thấy, Chính quyền Mỹ đã nhận thức rất rõ nghĩa vụ tuân thủ của mình đối với hầu hết các điều khoản nằm trong UNCLOS 1982 dưới dạng các nguyên tắc pháp lý phổ quát. Nếu nói về trách nhiệm của một nước lớn đối với các vấn đề trên biển, thì dư luận sẽ nói rằng, Mỹ vẫn là một đối tác đáng tin cậy hơn Trung Quốc rất nhiều, vì thế Mỹ sẽ tiếp tục với những gì đã làm, không cần phê chuẩn UNCLOS 1982.

Và phải chăng nội bộ nước Mỹ tất cả đều đồng thuận

Mặc dù vấn đề tham gia ký kết UNCLOS 1982 đã hai lần bị phủ quyết trước Quốc hội, nhưng vấn đề gia nhập Công ước vẫn tiếp tục được nội bộ nước Mỹ thảo luận nhiều. Ngoài việc một số quan chức lãnh đạo Mỹ như các cựu Tổng thống Bill Clinton, George W. Bush, Barack Obama, cựu Ngoại trưởng Hillary Clinton, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta đã lên tiếng ủng hộ, gần đây trong bối cảnh tình hình địa chính trị thế giới có nhiều chuyển biến phức tạp, cạnh tranh chiến lược Mỹ – Trung diễn ra căng thẳng, quyết liệt hơn, nhất là trên Biển Đông, vùng biển có vị trí địa chiến lược to lớn, thì ngày càng có nhiều người thuộc các chính giới khác nhau ở Mỹ, cũng như các đồng minh, đối tác của Mỹ, đã lên tiếng “hối thúc” Mỹ nên sớm phê chuẩn UNCLOS 1982. Xuất phát bởi những lý do cơ bản sau:

Thứ nhất, tuy chưa phê chuẩn Công ước nhưng Mỹ lại rất tích cực kêu gọi các nước, đặc biệt là Trung Quốc tuân thủ nghiêm túc luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS 1982 đối với các hoạt động trên biển. Những năm qua, Mỹ là một trong những nước “đi đầu” trong “cuộc chiến pháp lý” với Trung Quốc ở Biển Đông. Thế nhưng, “danh chưa chính thì ngôn đâu thuận”. Do Mỹ chưa ký UNCLOS 1982 nên “trọng lượng” tiếng nói của Mỹ bị hạn chế. Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ Kurt Campbell khi đang nắm giữ chức vụ Điều phối viên khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ, đã phát biểu tại một phiên điều trần trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ vào cuối năm 2023 rằng, Mỹ cần phải phê chuẩn UNCLOS 1982 vì, “nếu không tham gia UNCLOS 1982 thì các quốc gia cạnh tranh với Mỹ sẽ nói rằng, Mỹ không thể yêu cầu chúng tôi tuân thủ một thỏa thuận mà Mỹ không ký kết”. Ngay cả một số đồng minh và đối tác của Mỹ cũng đặt câu hỏi: “Mỹ yêu cầu Trung Quốc tuân thủ một thỏa thuận quốc tế nhưng tại sao Mỹ lại không ký thỏa thuận này”. Ông Kurt Campbell cho rằng, đây là một “thách thức” đối với Mỹ, vì thế Mỹ nên sớm phê chuẩn UNCLOS 1982 để tạo ra một khuôn khổ pháp lý giúp Washington xem xét, phản kháng có cơ sở pháp lý vào các lĩnh vực mà Trung Quốc có sự hoài nghi đối với cách giải thích của Mỹ về chủ quyền ở Biển Đông và các khu vực khác. Trên thực tế, Trung Quốc đã nhiều lần công khai chỉ trích Mỹ là nước không phê chuẩn UNCLOS1982 nên “không có tư cách” để lấy Công ước ra phê phán nước này, nước kia. Rõ ràng, phản ứng và “sức ép” từ Trung Quốc là một “động lực” để Mỹ xem xét phê chuẩn Công ước, giúp Mỹ có thêm “đòn bẩy” trong việc “yêu cầu” các quốc gia khác phải tôn trọng Công ước. Nhất là, Washington có thêm “công cụ pháp lý” để “danh chính ngôn thuận” mà “nói chuyện” với Trung Quốc về các vấn đề trên biển. Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta đã từng nói: “Mạnh vì chơi theo luật chứ không phải chống lại luật”.  Việc Quốc hội Mỹ chính thức phê chuẩn Công ước này mới chứng tỏ là Mỹ mạnh, Mỹ “chơi theo luật”.

Thứ hai, kể từ khi Công ước ra đời đến nay, thời cuộc đã có nhiều thay đổi. Mỹ nên xem xét lại và sớm phê chuẩn UNCLOS 1982 mới là “thức thời”. Ngày 06/11/2023, bảy thành viên trong Quốc hội Mỹ, trong đó có Thượng nghị sĩ đảng Dân chủ Mazie Hirono ở bang Hawaii, Thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa Lisa Murkowski của bang Alaska… đã đưa ra dự thảo nghị quyết “hối thúc” Chính quyền phê chuẩn Công ước. Theo ông Murkowski: “Thời gian Mỹ khoanh tay đứng nhìn càng lâu đối với UNCLOS 1982 thì những nước khác đã tham gia Công ước này lại càng có cơ hội tiếp tục xây dựng cho mình các chương trình nghị sự có lợi trong lĩnh vực biển, từ khai thác quặng đến cơ sở hạ tầng then chốt. Phê chuẩn UNCLOS 1982 không những giúp Mỹ kiềm chế hành động bành trướng lãnh thổ bất hợp pháp của Trung Quốc ở Biển Đông, mà còn có ý nghĩa rất quan trọng đối với lợi ích quốc gia của Mỹ trong lĩnh vực biển, đặc biệt là trong bối cảnh các nước khác ở Bắc Cực đang tìm kiếm quyền lợi phân định khu vực đáy biển vượt ra ngoài vùng EEZ hiện nay của họ. Mỹ không những phải tiến vào những khu vực đó và tham gia vào đàm phán thế giới, mà còn phải đảm bảo Mỹ đang giúp xây dựng quy tắc ở đây trong tương lai”. Trong khi đó, Thượng nghị sĩ đảng Dân chủ Brian Schatz thuộc bang Hawaii nhận xét: “Quốc hội Mỹ có thể giành đủ số phiếu để phê chuẩn UNCLOS 1982 vì tình hình chính trị đã thay đổi, chúng ta ngày càng hiểu rõ nhu cầu cấp bách cần phải thực hiện hành động tập thể để cạnh tranh với Trung Quốc”.

Thứ ba, mặc dù phe bảo thủ chê bai ISA, nhưng nếu không có sự tồn tại của tổ chức này thì các vùng đáy biển sâu không thuộc thẩm quyền của bất kỳ quốc gia nào có thể dễ dàng bị các quốc gia giàu mạnh độc quyền khai thác, khiến cho khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia ngày càng tăng. Đó là nói về ý nghĩa của ISA đối với thế giới, còn đối với Mỹ, khi đã ký UNCLOS 1982 rồi, thì Công ước này có thể giúp Mỹ giải quyết vấn đề quyền lợi khai thác khoáng sản ở biển sâu trong tương lai. Bởi do Mỹ chưa phải là thành viên của UNCLOS 1982, nên không thể tham gia vào các tổ chức như ISA hay Ủy ban ranh giới thềm lục địa (CLCS) được thành lập theo quy định của UNCLOS 1982. Đây là hai tổ chức phụ trách xây dựng cơ chế thăm dò đáy biển sâu và xem xét phân định ranh giới thềm lục địa ở Bắc Cực, là khuôn khổ pháp lý giải quyết những vấn đề như khai thác biển bền vững. Ông James Kraska – Giám đốc Trung tâm luật quốc tế Stockton tại Đại học Chiến tranh Hải quân Mỹ, từng là cố vấn về luật và chính sách biển cho Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ, nhận xét: “Sau khi sở hữu một ghế ở tổ chức này, Mỹ sẽ có quyền phủ quyết đối với đa số hành động của ISA. Hiện nay, Mỹ vẫn chưa tham gia vào một cơ chế được quốc tế công nhận để xử lý vấn đề khai thác khoáng sản ở biển sâu, trong khi một số nước, trong đó có Trung Quốc, đã gia nhập ISA nên họ vừa có quyền tìm cách thăm dò, vừa có quyền đưa ra yêu sách hàng hải. Hành động đơn phương của Mỹ trong việc khai thác khoáng sản ở biển sâu không phải là lựa chọn tốt nhất vì nó chứa đựng nhiều rủi ro”.

Theo báo Washington Post cho biết, đến nay Trung Quốc đã sở hữu 5 trong tổng số 30 giấy phép thăm dò do ISA cấp để chuẩn bị khai thác khoáng sản ở biển sâu, bắt đầu từ năm 2025. Nếu đúng như thế thì sang năm, Trung Quốc sẽ được “độc quyền” khai thác đáy biển thế giới rộng tới 92.000 dặm vuông Anh, tương đương với diện tích nước Anh, chiếm 17% tổng diện tích được ISA cấp phép hiện nay, trở thành nước chiếm diện tích khai thác biển sâu lớn nhất thế giới. Chưa rõ ISA cấp phép cho Trung Quốc khai thác ở khu vực biển sâu nào, nhưng có một thực tế là, hiện nay khu vực đáy biển sâu nhất được nghiên cứu khai thác thương mại là Clarion-Clipperton (CCZ), một vùng đứt gãy lớn trải dài từ Mexico đến Hawaii trên diện tích 6 triệu km2, nằm ở phía Đông Thái Bình Dương, chứa nhiều niken, mangan và coban hơn so với các mỏ trên đất liền. Theo quy định của UNCLOS 1982, nếu ai muốn thăm dò và khai thác khoáng sản ở đáy biển trong nội bộ khu vực này thì phải ký hợp đồng với ISA, phải tuân thủ các quy tắc, quy định và quy trình của cơ quan này. 

Trung Quốc rõ ràng đã hơn Mỹ ít nhất là về mặt pháp lý, để khai thác khoáng sản ở biển sâu khi tham gia ISA. Song, có thể Trung Quốc còn yếu kém về công nghệ nên chưa chắc đã hành động. Vì thế, nhiều chuyên gia cho rằng, nếu tham gia UNCLOS 1982, Mỹ không chỉ là nước có công nghệ hàng đầu về khai thác khoáng sản biển sâu, mà còn có thể hình thành ngành sản xuất, chế biến rất ưu việt đối với các loại khoáng sản thu được từ biển sâu. Trong khi, Mỹ đã có Đạo luật tài nguyên khoáng sản rắn từ đáy biển sâu (DSHMRA), giúp Mỹ có thể duy trì thành công quyền sở hữu về an ninh đối với khu vực rộng lớn ở đáy biển sâu và gia tăng lợi ích về việc khai thác khoáng sản biển sâu của Mỹ.  

Thứ tư, liên quan đến Biển Đông, nhiều người trong giới nghiên cứu ở Mỹ đều cho rằng, nếu Mỹ tham gia vào UNCLOS 1982 thì có thể “kiềm chế” bớt các hành động phi pháp của Trung Quốc ở Biển Đông. Theo ông John Kraus – Chuyên gia phân tích an ninh quốc gia của một viện nghiên cứu ở Mỹ, sau khi phê chuẩn UNCLOS 1982, Mỹ có lý do để thể hiện “nói đi đôi với làm” với Trung Quốc, đồng thời chính Công ước này sẽ giúp Mỹ có thêm một cơ chế giám sát nhằm ngăn chặn và làm giảm bớt những hành động phi pháp của Bắc Kinh ở Biển Đông. Ông John Kraus bày tỏ, điều đáng tiếc là hiện nay, Trung Quốc đã tạo ra được nhiều “việc đã rồi” trên phần lớn diện tích ở Biển Đông, xâm phạm đến chủ quyền của các nước khác. Nhưng ‘chậm còn hơn không”, tham gia Công ước, Mỹ vẫn có thể sử dụng biện pháp pháp lý và ngoại giao để ngăn chặn khả năng Trung Quốc thiết lập lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế ở xung quanh quần đảo Trường Sa. Động thái này không chỉ giúp ích cho Mỹ, mà còn tăng cường hơn nữa hành động của Mỹ trong việc hỗ trợ các quốc gia và đối tác đang bị Bắc Kinh “chèn ép”, như Philippines chẳng hạn.

Đồng quan điểm với ông John Kraus, ông James Kraska cho rằng, sau khi phê chuẩn UNCLOS 1982, Mỹ có thể sử dụng quy trình giải quyết tranh chấp mang tính cưỡng chế. Có nghĩa là, nếu Trung Quốc có hành động vi phạm quyền tự do hàng hải trong EEZ của nước khác, thì Mỹ cũng có thể căn cứ vào Điều 297 của UNCLOS 1982 để khởi kiện, đưa vấn đề này ra Tòa án quốc tế hoặc Tòa Trọng tài quốc tế để họ phán quyết, qua đó có khả năng ràng buộc đối với Trung Quốc. Vị chuyên gia này còn nhấn mạnh, khi Mỹ có khả năng khởi xướng một vụ kiện như vậy, thì cũng có thể “tiết chế” hành động của Trung Quốc gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động tự do hàng hải của Mỹ. 

Tuy nhiên, cùng với việc khuyến cáo nên ký kết UNCLOS 1982, giới chuyên gia Mỹ cũng kiến nghị Chính quyền Mỹ cần phải duy trì sức mạnh trên Biển Đông. Ông James Kraska cho rằng: “Không ai muốn một cuộc chiến tranh nóng bùng nổ ở Biển Đông. Điều chúng ta cần là sự hiện diện lâu dài của lực lượng hải quân, không những đến từ Mỹ mà còn từ các quốc gia bạn bè, đồng minh và đối tác khác… Hành động tập thể là cách tốt nhất, cũng là phương thức để tăng cường sức mạnh răn đe”. Ông Steven Groves – Nghiên cứu viên thuộc Viện Nghiên cứu Heritage Foundation, từng là trợ lý đặc biệt cho Tổng thống Mỹ tại Nhà Trắng, nhận xét, Trung Quốc là một quốc gia “bất hảo”, coi thường phán quyết của tòa án quốc tế, nên cần phải đưa ra khỏi UNCLOS 1982. Thế nhưng, nước này lại muốn hưởng lợi tất cả những gì mà Công ước này mang lại, không muốn “trả giá” trong thực tế. Vì thế, Mỹ cần duy trì sự “can dự” bền vững của hải quân và hoạt động thường xuyên của tàu chiến để “kiềm chế” Trung Quốc, chứ không chỉ dựa vào một hiệp ước đa phương “có khiếm khuyết”. Trung Quốc chỉ quan tâm đến sức mạnh, không quan tâm đến việc thực thi các hoạt động theo đúng quy định của UNCLOS 1982. Chớ nên ảo tưởng rằng, Mỹ phê chuẩn UNCLOS 1982 thì có thể ép buộc được Trung Quốc tuân thủ theo đúng các quy định của Công ước này. Mỹ có thể ký UNCLOS 1982, nhưng đi cùng với đó là phải tăng cường bảo vệ quyền lợi của mình bằng cách sử dụng lực lượng hải quân, tiến hành hoạt động tự do hàng hải trên khắp Biển Đông, đồng thời hợp tác nhiều hơn nữa với các đồng minh và đối tác trong khu vực này.  Nước Mỹ, cho đến nay vẫn chưa tham gia UNCLOS 1982. Ai cũng biết, trong đời sống chính trị quốc tế nói chung, quốc gia nói riêng, một quyết định hay một việc làm nào đó có thể ở giai đoạn này là đúng, nhưng vào giai đoạn khác lại là sai hoặc trở nên lạc hậu. Phải chăng, việc Mỹ chưa phê chuẩn UNCLOS 1982 đang dần trở nên lạc hậu khi thời cuộc đã thay đổi quá nhiều. Dư luận chung mong muốn và ủng hộ Mỹ nên sớm tham gia UNCLOS 1982. Vì khi đó, Mỹ mới có đầy đủ tư cách để “duy trì trật tự theo luật lệ”, một thứ luật lệ mà ít ra đã được cộng đồng quốc tế và Liên hợp quốc công nhận; mới góp phần mạnh mẽ hơn, khả thi hơn trong việc duy trì hòa bình, ổn định, cùng phát triển và cùng thắng bền vững ở các vùng biển quốc tế, trong đó có Biển Đông. Hiện nay, phe bảo thủ ở Mỹ vẫn chiếm ưu thế, cuộc bầu cử tổng thống sẽ diễn ra vào cuối năm nay. Trong bối cảnh như vậy, việc Mỹ có tham gia UNCLOS 1982 hay không và tham gia vào thời điểm nào vẫn là khó đoán định. Bởi nước Mỹ có thể đã có đủ yếu tố “thiên thời” và “địa lợi”, nhưng yếu tố “nhân hòa” vẫn chưa đạt được, trong khi đây mới là yếu tố quyết định.

]]>
Phán quyết của trọng tài Biển Đông sau 8 năm: Giá trị pháp lý của phán quyết và ý nghĩa đối với tranh chấp Biển Đông https://biendong.net/2024/07/12/phan-quyet-cua-trong-tai-bien-dong-sau-8-nam-gia-tri-phap-ly-cua-phan-quyet-va-y-nghia-doi-voi-tranh-chap-bien-dong/ Fri, 12 Jul 2024 15:50:00 +0000 https://biendong.net/?p=132522 Ngày 12/7/2016, Tòa trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII của Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS) ra Phán quyết về vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc về các vấn đề liên quan đến các yêu sách và hoạt động của Trung Quốc tại Biển Đông. Ngày 12/7/2024 là dấu mốc kỷ niệm 8 năm Phán quyết. Sau 8 năm, Phán quyết vẫn còn nguyên giá trị pháp lý và vẫn có ý nghĩa lớn về nhiều mặt đối với các bên tranh chấp và trật tự pháp lý trên biển ở Biển Đông.

Giá trị pháp lý của Phán quyết

Theo quy định tại Điều 296 UNCLOS, bất kỳ phán quyết nào được đưa ra bởi một tòa án hay tòa trọng tài có thẩm quyền theo UNCLOS đều có tính chung thẩm và phải được tất cả các bên tranh chấp tuân thủ. Điều 11 Phụ lục VII UNCLOS quy định thêm rằng phán quyết của Tòa trọng tài “có giá trị chung thẩm và không thể phúc thẩm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận trước đó về một thủ tục phúc thẩm”. Trong vụ kiện trọng tài Biển Đông, Philippines và Trung Quốc không có thỏa thuận nào trước vụ kiện về khả năng phúc thẩm Phán quyết của Tòa trọng tài. Do đó, Phán quyết của Tòa trọng tài ngày 12/7/2016 có giá trị chung thẩm và có hiệu lực ràng buộc đối với Philippines và Trung Quốc, bất chấp nỗ lực của Trung Quốc hạ thấp giá trị của Phán quyết trong suốt 8 năm qua.

Lịch sử đàm phán UNCLOS cho thấy Trung Quốc đã tích cực tham gia vào các cuộc đàm phán nên nhận thức đầy đủ về nội dung Công ước, bao gồm quy định về tính ràng buộc và giá trị chung thẩm của quyết định của các cơ chế giải quyết tranh chấp, bao gồm Phán quyết của Tòa trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII của Công ước. Bằng việc phê chuẩn UNCLOS, Trung Quốc đã đồng ý với thẩm quyền của cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc của UNCLOS và đồng ý chấp nhận các nghĩa vụ có liên quan của quốc gia thành viên, bao gồm nghĩa vụ tuân thủ phán quyết của các cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS.

Điều 9 Phụ lục VII của UNCLOS quy định việc một bên tranh chấp không tham gia tiến trình xét xử sẽ không cản trở việc Tòa trọng tài tiếp tục tiến trình xét xử trên cơ sở yêu cầu của bên tranh chấp còn lại. Tòa án công lý quốc tế (ICJ) trong vụ Các hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua giữa Nicaragua và Mỹ năm 1986 đã khẳng định, “quốc gia không tham gia tiến trình xét xử phải chấp nhận hậu quả của quyết định của mình, đầu tiên là tiến trình xét xử sẽ tiếp tục mà không có sự tham gia của quốc gia đó; quốc gia đó vẫn là một bên trong vụ việc và bị ràng buộc bởi phán quyết cuối cùng của Tòa”. Đối với tranh chấp Biển Đông, việc Trung Quốc không tuân thủ Phán quyết của Tòa là sự vi phạm quy định của UNCLOS, đồng thời là sự vi phạm nguyên tắc cơ bản về giải quyết tranh chấp quốc tế. Theo Điều 12 Phụ lục VII của UNCLOS, một bên tranh chấp có thể đưa vấn đề thực hiện Phán quyết lên tòa trọng tài để Tòa xem xét và quyết định về vi phạm của bên còn lại. Vì vậy, trong trường hợp Trung Quốc tiếp tục từ chối thực thi Phán quyết, Philippines có thể viện dẫn quy định tại Điều 12 Phụ lục VII để khởi động một vụ kiện mới, tạo thêm áp lực và củng cố thêm cơ sở pháp lý để bảo vệ các vùng biển được xác lập trên cơ sở UNCLOS.

Ý nghĩa của Phán quyết

Thực tế 8 năm qua tại Biển Đông cho thấy, kể cả khi Trung Quốc từ chối thực thi Phán quyết ngày 12/7/2016 thì Phán quyết của Tòa trọng tài được đưa ra với sự nhất trí của cả 05 trọng tài viên vẫn có ý nghĩa pháp lý và chính trị sâu rộng đối với tranh chấp Biển Đông.

Thứ nhất, Phán quyết kết luận yêu sách “đường đứt đoạn” của Trung Quốc ở Biển Đông là trái với quy định của UNCLOS và không có giá trị pháp lý khi vượt quá các giới hạn địa lý và thực chất của các quyền lợi biển mà Trung Quốc có thể được hưởng theo Công ước. Việc Tòa bác bỏ yêu sách “đường đứt đoạn” của Trung Quốc rất có ý nghĩa đối với tranh chấp Biển Đông vì qua đó Phán quyết đã giải quyết về pháp lý cái gọi là “quyền lịch sử” mơ hồ ở Biển Đông do Trung Quốc tạo nên nhằm đòi hỏi “khu vực chồng lấn” trong vùng biển của nước khác. Hệ quả là, Phán quyết không chỉ bác bỏ yêu sách về “quyền lịch sử” của Trung Quốc đối với tài nguyên sinh vật và không sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Philippines, mà còn gián tiếp bác bỏ yêu sách “quyền lịch sử” của Trung Quốc trong vùng biển của các nước khác như Indonesia, Malaysia, Brunei và Việt Nam được xác lập phù hợp với UNCLOS. Trong công hàm lưu hành tại Liên hợp quốc ngày 12/6/2020, Indonesia đã viện dẫn Phán quyết để bác bỏ yêu sách quyền lịch sử của Trung Quốc ở Biển Đông.

Thứ hai, Phán quyết khẳng định, không có bất kỳ cấu trúc nổi nào tại Trường Sa, kể cả các cấu trúc nổi lớn như Ba Bình, Thị Tứ, Trường Sa lớn được hưởng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng. Kết luận này có ý nghĩa pháp lý không chỉ đối với Trung Quốc và Philippines, mà còn đối với các nước khác do đã làm rõ phạm vi khu vực tranh chấp tại quần đảo Trường Sa theo hướng thu hẹp rất đáng kể phạm vi tranh chấp. Cụ thể, với kết luận của Tòa trọng tài, phạm vi chồng lấn thật sự giữa các nước ở khu vực quần đảo Trường Sa giờ chỉ là 12 hải lý từ các cấu trúc nổi đang là đối tượng tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ giữa các bên có liên quan. Hệ quả là bối cảnh pháp lý của tranh chấp ở Biển Đông sau Phán quyết trở nên rõ ràng hơn rất nhiều. Tất cả các hoạt động hoặc yêu sách của Trung Quốc ở những khu vực nằm ngoài phạm vi 12 hải lý của các cấu trúc nổi và nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của của các quốc gia ven biển khác tại Biển Đông đều không có giá trị pháp lý. Vùng biển bên ngoài 12 hải lý của các cấu trúc nổi, đồng thời bên ngoài vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các quốc gia ven Biển Đông sẽ là vùng biển quốc tế nơi mà các nước đều được hưởng quyền tự do biển cả theo quy định UNCLOS. Trên thực tế, kể từ sau Phán quyết, tàu thuyền của Mỹ đã thực hiện chế độ tự do hàng hải khi đi qua vùng biển bên ngoài 12 hải lý của các cấu trúc nổi ở Biển Đông.

Thứ ba, Phán quyết bác bỏ yêu sách của Trung Quốc về việc quần đảo Trường Sa có đường cơ sở thẳng bao quanh và từ đó có các vùng biển riêng. Nội dung này của Phán quyết cũng rất có ý nghĩa vì Tòa không chỉ căn cứ vào UNCLOS mà còn khẳng định không có một thực tiễn nào mang tính tập quán quốc tế cho phép Trung Quốc yêu sách quần đảo Trường Sa như là một thực thể thống nhất. Cụ thể, theo UNCLOS, chỉ quốc gia quần đảo mới có quyền áp dụng đường cơ sở thẳng bao quanh quần đảo rồi xác lập nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa từ đường cơ sở quàn đảo. Tòa khẳng định Trung Quốc không phải là quốc gia quần đảo, vì vậy không được phép áp dụng đường cơ sở quần đảo. Kể cả trường hợp giả định Trung Quốc là quốc gia quần đảo thì Trường Sa cũng không đáp ứng điều kiện của UNCLOS về tỉ lệ diện tích nước so với đất. Hơn nữa, “thực tiễn quốc gia” mà Trung Quốc viện dẫn không đủ để tạo thành một quy định tập quán mang tính rang buộc. Nội dung này trong Phán quyết của Tòa trọng tài đã được nhiều nước trong và ngoài khu vực viện dẫn để bác bỏ yêu sách “Tứ Sa” mà Trung Quốc công khai tại Liên hợp quốc năm 2019, chẳng hạn tài liệu “Ranh giới trên biển” số 150 mà Bộ Ngoại giao Mỹ xuất bản năm 2022.

Thứ tư, Phán quyết kết luận các bãi cạn lúc nổi lúc chìm mà không thuộc lãnh hải của các cấu trúc nổi nào, chẳng hạn bãi Mischief hay bãi Second Thomas, không phải là đối tượng để các nước yêu sách về chủ quyền lãnh thổ và cũng không có vùng biển riêng mà thuộc quyền chủ quyền, quyền tài phán của Philippines do nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Philippines. Phán quyết đã tạo cơ sở pháp lý để Philippines tiến hành các hoạt động ở bãi Second Thomas và huy động được sự ủng hộ của các nước đồng minh, đối tác và dư luận quốc tế trong thời gian qua. Phán quyết có ý nghĩa đối với các nước ven biển khác ở Biển Đông vì ở Biển Đông có một số bãi cạn lúc chìm lúc nổi và bãi ngầm luôn chìm dưới mặt nước không nằm trong phạm vi 12 hải lý của các cấu trúc nổi, các nước khác có thể vận dụng Phán quyết của Tòa để bác bỏ yêu sách chủ quyền phi lý của Trung Quốc đối với các bãi cạn lúc chìm lúc nổi và các bãi ngầm này. Tương tự, các nước khác cũng có thể vận dụng kết luận của Tòa về việc Trung Quốc vi phạm các quy định liên quan của UNCLOS khi can thiệp vào hoạt động dầu khí của Philippines tại Reed Bank để bác bỏ việc Trung Quốc yêu sách, đe dọa, cản trở hoạt động dầu khí được các nước tiến hành tại thềm lục địa được xác lập phù hợp với UNCLOS. Trên thực tế, trước yêu sách phi lý của Trung Quốc đối với bãi Tư Chính trong vụ việc vi phạm của tàu Hải Dương địa chất 8 của Trung Quốc vào năm 2019, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã khẳng định “khu vực mà Trung Quốc gọi là “bãi Vạn An” thực chất là bãi ngầm, là một phần của đáy biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam được xác định phù hợp với Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982. Đây hoàn toàn không phải là khu vực tranh chấp hay có chồng lấn vì Trung Quốc không có bất kỳ cơ sở pháp lý quốc tế nào để đưa ra yêu sách đối với khu vực này. Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 và thực tiễn xét xử thời gian qua đã khẳng định rõ điều này”.

Thứ năm, Phán quyết kết luận, thông qua việc ban hành lệnh cấm đánh bắt cá ở Biển Đông bao trùm vùng đặc quyền kinh tế của Philippines và không giới hạn việc áp dụng lệnh cấm này chỉ với các tàu mang cờ quốc tịch Trung Quốc đã vi phạm Điều 56 UNCLOS liên quan đến quyền chủ quyền của Philippines đối với các tài nguyên sinh vật thuộc vùng đặc quyền kinh tế của nước này. Nội dung này trong Phán quyết cũng có ý nghĩa đối với các bên tranh chấp khác Biển Đông nói chung vì cho thấy lệnh cấm đánh bắt cá của Trung Quốc trong vùng đặc quyền kinh tế của các nước là không có cơ sở pháp lý. Trong thời gian qua, các nước ven Biển Đông đã vận dụng nội dung này trong Phán quyết để bác bỏ lệnh cấm đánh bắt cá mà Trung Quốc công bố mỗi năm.

Cuối cùng, xét ở khía cạnh chiến lược, Phán quyết của Tòa trọng tài cho thấy UNCLOS và cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc được quy định tại Công ước đã tạo ra một “sân chơi” bình đẳng qua đó tất cả các quốc gia, dù nước lớn hay nước nhỏ, đều bị ràng buộc bởi cùng một khung pháp lý và đều có thể sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp có tính bắt buộc và ràng buộc để giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc giải thích và áp dụng Công ước để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp và chính đáng của mình. Điều này đặc biệt có ý nghĩa với các nước nhỏ hơn trong tranh chấp với các nước lớn với sức mạnh và tiềm năng vượt trội về quân sự, chính trị và kinh tế. Thực tế cho thấy, trong 8 năm qua, các nước ven Biển Đông đều đã có các bước đi cụ thể sử dụng UNCLOS nhằm phát huy tính chính nghĩa, tăng cường hợp tác quốc tế, huy động sự ủng hộ của quốc tế, qua đó tăng sức mạnh tổng hợp của mình trong tương quan lực lượng với Trung Quốc. Phán quyết của Tòa trọng tài vụ kiện Biển Đông, vì vậy, có ý nghĩa lớn về pháp lý và chính trị trong 8 năm qua, và sẽ tiếp tục tác động đến việc giải quyết, quản lý tranh chấp và hợp tác ở Biển Đông, đóng góp quan trọng vào việc duy trì hòa bình, ổn định và trật tự pháp lý trên biển ở Biển Đông trong thời gian tới.

Song An

]]>
Sau 8 năm phán quyết của Tòa trọng tài, những tiếng nói bảo vệ luật pháp quốc tế ngày càng mạnh mẽ hơn https://biendong.net/2024/07/12/sau-8-nam-phan-quyet-cua-toa-trong-tai-nhung-tieng-noi-bao-ve-luat-phap-quoc-te-ngay-cang-manh-me-hon/ Fri, 12 Jul 2024 01:58:00 +0000 https://biendong.net/?p=132526 Kỷ niệm 8 năm kể từ ngày 12/7/2016 Tòa trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII của Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS) (gọi tắt là Tòa Trọng tài về Biển Đông) ra phán quyết lịch sử diễn ra trong bối cảnh căng thẳng ở Biển Đông không ngừng leo thang.

Trong đó, những vụ va chạm giữa tàu hải cảnh Trung Quốc và tàu công vụ Philippines liên tiếp xảy ra và ngày càng nghiêm trọng gây hư hỏng tàu của Philippines, thậm chí gây thương tích cho các thủy thủ Philippines. Mặt khác, nhưng tiếng nói lên án hành vi hung hăng trái với luật pháp quốc tế của Trung Quốc, ủng hộ tiến trình pháp lý trong giải quyết tranh chấp, kêu gọi thực thi phán quyết cũng trở nên phổ biến hơn.

Đơn cử trong vụ việc mới đây nhất tàu hải cảnh Trung Quốc dùng các dụng cụ như dao, vật nhọn, rìu… tấn công tàu và thủy thủ Philippines gần khu vực Bãi Cỏ Mây đã vấp phải sự phản đối của nhiều nước. Cùng với Mỹ nhiều nước khác như Canada, Australia và Nhật Bản… cũng đồng loạt lên án các hành động leo thang của Trung Quốc ở Biển Đông và tái khẳng định sự ủng hộ của họ dành cho Philippines. Canada được xem là quốc gia mới nhất lên án trực diện hành động của Bắc Kinh với những nội dung rất cụ thể và rõ ràng

Bộ Ngoại giao Canada nêu rõ: “Canada lên án các hành động nguy hiểm và gây bất ổn mà Trung Quốc thực hiện đối với các tàu Philippines. Việc Trung Quốc sử dụng vòi rồng, các hành động nguy hiểm và đâm vào tàu Philippines là không phù hợp với các nghĩa vụ của Trung Quốc theo luật pháp quốc tế, bao gồm UNCLOS 1982. Những hành động này gây nguy hiểm cho hòa bình, ổn định và thịnh vượng trên khắp khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương”; nhấn mạnh trật tự dựa trên luật lệ, bao gồm các nguyên tắc được ghi trong Hiến chương Liên hợp quốc, là rất quan trọng và phải được duy trì, Canada phản đối các hành động leo thang, cưỡng ép và yêu cầu tranh chấp phải được giải quyết thông qua đối thoại chứ không phải bằng vũ lực hay ép buộc. Canada kêu gọi Trung Quốc tuân thủ các nghĩa vụ của mình, bao gồm cả việc thực thi phán quyết của Tòa trọng tài về Biển Đông năm 2016, có tính ràng buộc đối với các bên.

Trong khi đó, Bộ Ngoại giao Nhật Bản ra thông cáo nhấn mạnh Tokyo một lần nữa bày tỏ quan ngại sâu sắc trước những hành động lặp đi lặp lại cản trở tự do hàng hải và làm gia tăng căng thẳng trong khu vực; các vấn đề liên quan Biển Đông được cộng đồng quốc tế quan tâm một cách chính đáng, có liên quan trực tiếp đến hòa bình và ổn định trong khu vực; Nhật Bản phản đối mạnh mẽ mọi nỗ lực dùng vũ lực nhằm đơn phương thay đổi hiện trạng ở Biển Đông hoặc bất kỳ hành động nào làm gia tăng tình trạng căng thẳng. Mặt khác, Nhật Bản đã cùng với Mỹ, Philippines và Canada tập trận trên Biển Đông trong 2 ngày 16-17/6/2024 nhằm “duy trì tự do hàng hải và hàng không” cũng như “tăng cường an ninh và ổn định khu vực”. Đây là lần đàu tiên Canada tham gia tập trận 4 bên (bao gồm Philippines) ở Biển Đông để thể hiện sự ủng hộ đối với Manila trong cuộc đối đầu với Bắc Kinh. Hạm đội Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nhấn mạnh các cuộc tập trận này được tiến hành phù hợp với luật pháp quốc tế đảm bảo an toàn hàng hải dân sự và bảo vệ môi trường biển.

Đáng chú ý, danh sách các quốc gia lên tiếng phản đối hành vi hung hăng của Trung Quốc, bảo vệ trật tự dựa trên luật pháp quốc tế ở Biển Đông ngày càng tăng thêm, mới đây nhất là Thụy Điển và Vatican. Ngày 06/6/2024, Bộ trưởng Quốc phòng Thụy Điển Pål Jonson nhấn mạnh: “Tôi xin phép bày tỏ mối quan ngại sâu sắc của mình về các hoạt động nguy hiểm lặp đi lặp lại chống các tàu Philippines đang diễn ra ở Biển Tây Philippines và Biển Đông”. “Những hành động này khiến mạng sống con người gặp nguy hiểm, phá hoại sự ổn định khu vực và luật pháp quốc tế, đồng thời đe dọa an ninh trong và ngoài khu vực”. “Đây không chỉ là mối đe dọa đối với an ninh quốc gia của các bạn (Philippines) mà còn là mối đe dọa đối với an ninh toàn cầu chung của chúng ta”.

Trong chuyến thăm đầy tiên tới Philippines, hôm 02/7/2024 Bộ trưởng Ngoại giao Vatican  – Tổng giám mục Paul Richard Gallagher kêu gọi giải quyết các xung đột bằng biện pháp hòa bình, trong đó có những căng thẳng giữa Trung Quốc và Philippines tại Biển Đông. Tổng giám mục Paul Richard Gallagher nhấn mạnh “Chúng tôi khuyến khích các bên có xung đột tuân thủ luật pháp quốc tế”. Đây là lần đầu tiên Vatican thể hiện tinh thần thượng tôn pháp luật ở Biển Đông.

Trong bối cảnh căng thẳng ở Biển Đông chưa có hồi kết, ông Simon Hutagalung – nhà ngoại giao kỳ cựu của Indonesia, thạc sĩ về khoa học chính trị so sánh tại Đại học New York (Mỹ) đã có bài viết trên Euro Asia Review, tập trung vào phân tích các biện pháp giải quyết hòa bình tranh chấp ở Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, tránh giải pháp tiềm năng cho xung đột ở Biển Đông:

Thứ nhất, đàm phán hòa bình theo tinh thần UNCLOS 1982. UNCLOS được coi là “Hiến pháp của Đại Dương”, tạo ra một khuôn khổ vững chắc để giải quyết các tranh chấp trên biển. UNCLOS quy định rõ quyền cũng như trách nhiệm của các quốc gia trên các đại dương. UNCLOS thúc đẩy sử dụng hòa bình các nguồn tài nguyên biển và giải quyết xung đột một cách công bằng.

Điều 279 của UNCLOS nêu rõ các tranh chấp cần được giải quyết bằng biện pháp hòa bình, khuyến khích trật tự hàng hải quốc tế mang tính hợp tác. Tranh chấp ở Biển Đông có thể sử dụng các cơ chế giải quyết tranh chấp được nêu trong UNCLOS, chẳng hạn như giải quyết bằng trọng tài và tư pháp quốc tế. Việc Philippines khởi kiện Trung Quốc ra Tòa Trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII của UNCLOS về các vấn đề ở Biển Đông là một ví dụ điển hình và được coi như một tiền lệ trong luật pháp quốc tế.

Phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài về Biển Đông đã vô hiệu hóa yêu sách “đường chín đoạn” của Trung Quốc ở Biển Đông, qua đó củng cố các nguyên tắc được quy định trong UNCLOS. Bất chấp việc Trung Quốc bác bỏ phán quyết, thì phán quyết này cũng là lời khẳng định đanh thép đối với tầm quan trọng của khuôn khổ pháp lý trong việc giải quyết tranh chấp. Rõ ràng, việc tham gia vào các cuộc đàm phán về tranh chấp Biển Đông dựa trên tinh thần của UNCLOS và phán quyết 2016 có thể nâng cao tính hợp pháp và sự chấp nhận của bất kỳ thỏa thuận nào đạt được.

Thứ hai, trao đổi cởi mở và xây dựng lòng tin. Giải quyết xung đột hiệu quả đòi hỏi phải có sự trao đổi minh bạch và cởi mở cũng như các biện pháp nhằm xây dựng lòng tin giữa các quốc gia có yêu sách chủ quyền ở Biển Đông. Đối thoại có thể giúp giảm thiểu những hiểu lầm và thúc đẩy sự tin cậy, hợp tác. Ngoại giao kênh 2, với sự tham gia của các tổ chức và chuyên gia phi chính phủ, có thể bổ sung cho các cuộc đàm phán chính thức bằng cách cung cấp các kênh đối thoại không chính thức.

Các biện pháp xây dựng lòng tin có thể bao gồm thiết lập đường dây nóng để liên lạc ngay lập tức khi xảy ra sự cố, tiến hành các cuộc tập trận hải quân chung và chia sẻ thông tin về các hoạt động quân sự. Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN (ARF) và các cuộc đàm phán đang diễn ra về Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) giữa Trung Quốc và ASEAN đóng vai trò nền tảng, có thể tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc tiếp xúc cởi mở, xây dựng lòng tin.

ARF thúc đẩy đối thoại và hợp tác an ninh, trong khi COC có mục tiêu ngăn chặn xung đột ở Biển Đông bằng cách thiết lập các quy tắc và quy định đã được các bên thống nhất. Việc phát triển chung các nguồn tài nguyên cũng có thể được thúc đẩy. Có thể thấy, tranh chấp ở Biển Đông phần nào xuất phát từ nguồn tài nguyên dồi dào trong khu vực như thủy sản và dầu khí. Việc cùng phát triển các nguồn tài nguyên biển, chuyển đổi cạnh tranh thành hợp tác một cách hiệu quả cũng là giải pháp cho những tranh chấp và xung đột tiềm tàng.

Các Thỏa thuận phát triển chung (JDA) cho phép các quốc gia có yêu sách chủ quyền ở Biển Đông khai thác chung các nguồn tài nguyên và chia sẻ lợi ích, tạm thời gạt bỏ các tranh chấp chủ quyền. Thỏa thuận phát triển chung giữa Việt Nam và Malaysia là một minh chứng rõ ràng nhất cho thấy các bên có thể hợp tác. Khung pháp lý rõ ràng, cơ chế chia sẻ lợi ích công bằng và thủ tục giải quyết tranh chấp hiệu quả là điều cần thiết để đảm bảo sự thành công của JDA. Thêm vào đó, việc thành lập các JDA đa phương dưới sự giám sát quốc tế sẽ đảm bảo tính minh bạch và công bằng.

Tuy vậy, điều quan trọng hơn cả vẫn là phải tuân thủ các cơ chế giải quyết tranh chấp một cách hòa bình được nêu trong UNCLOS hay nói cách khác chính là tiến trình pháp lý đã được nhiều lần đưa vào các văn kiện của ASEAN. UNCLOS đưa ra nhiều cơ chế khác nhau như đàm phán, hòa giải và trọng tài để giải quyết xung đột một cách hòa bình. Tuân thủ các cơ chế này có ý nghĩa rất quan trọng để đạt được giải pháp xung đột bền vững. Phán quyết 2016 của Tòa trọng tài về Biển Đông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tôn trọng các phán quyết tư pháp quốc tế.

Thứ ba, cần đề cao vai trò của hòa giải.Giải pháp hòa giải không mang tính ràng buộc nhưng mang tính xây dựng cho đối thoại. Các bên thứ ba trung lập hỗ trợ quá trình này bằng cách tạo điều kiện cho đàm phán và đề xuất giải pháp. Mặt khác, mặc dù không có tính ràng buộc về mặt pháp lý nhưng các biện pháp hòa giải có thể dẫn đến các thỏa thuận chính thức. Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) và Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS) là những diễn đàn giải quyết tư pháp theo tinh thần của UNCLOS.

Sự tham gia của bên hòa giải rất quan trọng, tạo điều kiện cho đối thoại và đảm bảo tính công bằng trong đàm phán. Các chủ thể quốc tế uy tín còn có thể nâng cao tính hợp pháp và sự chấp nhận của các giải pháp được đưa ra. Hòa giải viên có thể là quốc gia, tổ chức quốc tế hoặc cá nhân có chuyên môn về giải quyết xung đột và luật hàng hải. Liên hợp quốc, thông qua các cơ quan như Ban Chính trị và Xây dựng hòa bình (DPPA) có thể hỗ trợ hòa giải. Các tổ chức khu vực như ASEAN và Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) cũng có thể đóng góp vào quá trình này.

Ngoài ra, những nhân vật giàu kinh nghiệm bao gồm cả các cựu nguyên thủ quốc gia hoặc các nhà ngoại giao đều có thể đóng vai trò là những nhà hòa giải đáng tin cậy. Nói một cách khác, giải quyết xung đột ở Biển Đông đòi hỏi các giải pháp thực tế như cùng phát triển nguồn tài nguyên và tuân thủ các cơ chế giải quyết hòa bình được nêu trong UNCLOS. Các biện pháp đối thoại và xây dựng lòng tin hiệu quả có thể thúc đẩy niềm tin giữa các quốc gia, có khả năng biến cạnh tranh thành hợp tác khi phát triển các nguồn tài nguyên chung.

Bên cạnh đó, sự tham gia của các hòa giải viên (bên thứ ba) trung lập là cần thiết để tạo điều kiện cho đối thoại và đảm bảo tính công bằng. Bằng cách cùng nhau hợp tác và tôn trọng luật pháp, giải quyết hòa bình cách tranh chấp, ứng xử một cách minh bạch, công bằng, chúng ta có thể đạt được hòa bình ở Biển Đông. Tóm lại, bằng cách cùng nhau hợp tác và tôn trọng luật pháp, giải quyết hòa bình tranh chấp, ứng xử một cách minh bạch, công bằng, chúng ta có thể đạt được hòa bình ở Biển Đông. Giữa lúc Bắc Kinh đang tập trung các hành động hung hăng gây hấn vào Manila ở Biển Đông, Washington đã nhiều lần công khai lập trường ủng hộ phán quyết của Tòa Trọng tài về Biển Đông năm 2016 và nhấn mạnh cả Philippines lẫn Trung Quốc cần thực thi phán quyết này; đồng thời, nhấn mạnh điều quan trọng đối với các nhà ngoại giao Philippines, cũng như các nhà ngoại giao của Mỹ và tất cả các quốc gia khác, là phải tiếp tục lên tiếng công khai mạnh mẽ khẳng định một phán quyết quốc tế có hiệu lực về những yêu sách mà Manila đưa ra và những quyền lợi mà Philippines được hưởng ở Biển Đông.

]]>
Tuân thủ và thực thi nghiêm UNCLOS 1982, là bảo vệ nền tảng pháp lý quốc tế vững chắc và bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc ở Biển Đông https://biendong.net/2023/01/10/tuan-thu-va-thuc-thi-nghiem-unclos-1982-la-bao-ve-nen-tang-phap-ly-quoc-te-vung-chac-va-bao-ve-loi-ich-quoc-gia-dan-toc-o-bien-dong/ Tue, 10 Jan 2023 02:33:56 +0000 https://biendong.net/?p=95903 Trong quan hệ quốc tế giữa các quốc gia có chủ quyền trên thế giới, bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc là vấn đề nguyên tắc mang tính “bất biến”. Với Việt Nam, lãnh thổ không chỉ có phần diện tích trên đất liền, mà còn có cả các vùng biển, các đảo ở Biển Đông được xác định theo các quy định của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS 1982).

Hơn nữa, những lợi ích từ Biển Đông mang đến cho Việt Nam vô cùng to lớn và đương nhiên gắn liền với lợi ích quốc gia – dân tộc của Việt Nam, Vì vậy, việc tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982 cũng là bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia – dân tộc của Việt Nam.

Biển Đông có nhiều lợi ích gắn liền với lợi ích quốc gia – dân tộc của Việt Nam

Do có vị trí địa – kinh tế và địa – chính trị quan trọng, nên từ lâu Biển Đông đã trở thành nhân tố không thể thiếu trong chiến lược phát triển không chỉ của các nước, vùng lãnh thổ trong khu vực, mà còn của cả một số cường quốc hàng hải trên thế giới. Đó cũng là một trong nhiều lý do quan trọng dẫn đến những tranh chấp ở vùng biển này.

Việt Nam với bờ biển dài trên 3.260 km, trung bình khoảng 100 km2 đất liền có 1 km bờ biển, cao gấp 6 lần tỉ lệ của thế giới. Ven bờ có khoảng 3.000 đảo lớn, nhỏ, với diện tích khoảng l.700 km2, trong đó 3 đảo có diện tích hơn 100 km2, 23 đảo có diện tích hơn 10 km2, 82 đảo có diện tích hơn l km2 và hơn l.400 đảo chưa có tên. Vì vậy, Biển Đông gắn bó mật thiết, ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng – an ninh, bảo vệ môi trường của Việt Nam.

Tại Biển Đông có 2 quần đảo lớn là Hoàng Sa và Trường Sa. Đây là 2 quần đảo mà Việt Nam có đầy đủ bằng chứng địa lý, lịch sử và pháp lý cụ thể, thực tế, rõ ràng không thể tranh cãi, chứng minh về sự chiếm hữu và làm chủ thực sự, hòa bình và thực thi liên tục chủ quyền từ quá khứ đến hiện tại.

Biển, đảo Việt Nam nói chung và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nói riêng là một bộ phận quan trọng cấu thành phạm vi chủ quyền thiêng liêng của đất nước và dân tộc Việt Nam theo đúng quy định của UNCLOS 1982. Do đó, tuân thủ nghiêm chỉnh UNCLOS 1982 chính là bảo vệ vững chắc chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông, cũng chính là bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc của Việt Nam.

Việt Nam thực thi và tuân thủ nghiêm chỉnh UNCLOS 1982

Trước khi UNCLOS 1982 ra đời.

Từ năm 1967, Liên hợp quốc đã bắt đầu quá trình bàn thảo và xây dựng bộ luật quốc tế về biển cả và đại dương. Theo đó, các nước đã có các phiên họp trù bị và tiếp đó, từ năm 1973 chuyển sang các Hội nghị bàn về xây dựng Luật biển do Liên hợp quốc chủ trì. Trong những năm trên, Việt Nam do điều kiện đất nước bị tạm thời chia cắt, nên không có điều kiện tham gia vào quá trình trù bị (từ 1967 – 1973) và giai đoạn đầu của Hội nghị Luật Biển của Liên hợp quốc lần thứ ba (1973 – 1976). Việt Nam bắt đầu tham gia tiến trình trên tại khóa họp thứ sáu năm 1977 (tổng số có tất cả 11 phiên họp) và tham gia trong bối cảnh có rất nhiều khó khăn: đất nước vừa thoát khỏi chiến tranh, kiến thức và tư liệu về luật biển rất hạn chế, kinh nghiệm hoạt động tại diễn đàn đa phương đang còn thiếu, nhiều nội dung đã được hội nghị thảo luận.

Tuy nhiên, với nỗ lực là một thành viên tham gia đàm phán, Việt Nam đã vừa học hỏi, nắm bắt các khía cạnh lợi ích hoặc có tác động đối với mỗi nhóm nước, vừa xây dựng và thúc đẩy quan điểm pháp lý của Việt Nam trong các vấn đề mấu chốt với vị thế của một quốc gia ven biển trên một loạt vấn đề như: quy chế lãnh hải và quyền qua lại vô hại của tàu nước ngoài trong đó có tàu quân sự; qui định về đường cơ sở, quy chế các đảo và bãi đá, chế độ pháp lý vùng đặc quyền kinh tế và quyền tự do hàng hải; giới hạn ngoài cùng của thềm lục địa, các nguyên tắc về phân định biển, nguyên tắc và cơ chế giải quyết tranh chấp; chế độ khai thác đáy đại dương, chiến lược kinh tế biển… Đóng góp lớn nhất của Việt Nam là đã cùng Nhóm các nước ủng hộ nguyên tắc phân định biển công bằng, đưa ra được nhiều quy định mà sau này đã được chính thức hóa tại các Điều 74 và 83 của Công ước, như về chiều rộng lãnh hải là 12 hải lý, chế độ pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế… Đồng thời, trong quá trình tham gia, Việt Nam đã lên tiếng mạnh mẽ khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Mặt khác, Việt Nam đã tích cực vận dụng các quy định liên quan của luật pháp quốc tế để xây dựng các văn bản pháp luật trong nước về biển. Năm 1977, Việt Nam ban hành “Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam về các vùng biển Việt Nam” trong đó xác lập vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý, không chỉ giới hạn trong quyền đánh bắt cá mà còn có các quyền chủ quyền và quyền tài phán khác. Tuyên bố này đưa ra khi UNCLOS 1982 đang được xây dựng, điều đó thể hiện sự đóng góp của Việt Nam vào quá trình pháp điển hóa tiến bộ luật biển quốc tế. Với tuyên bố này, Việt Nam cùng với các quốc gia khác như Kenya, Mianmar, Cuba, Yemen, Cộng hòa Dominica, Guatemala, Ấn Độ, Pakistan, Mexico, Seychelles được coi như những quốc gia tiên phong trong việc đưa ra khái niệm vùng đặc quyền kinh tế, trở thành khái niệm có giá trị tập quán và sau này trở thành một nội dung quan trọng của UNCLOS 1982.

Sau khi UNCLOS 1982 ra đời

Việt Nam là một trong 107 quốc gia ký UNCLOS 1982 ngay sau khi văn kiện này được mở ký và cũng là một trong những quốc gia phê chuẩn sớm, trước khi Công ước có hiệu lực. Điều đó thể hiện thiện chí, sự coi trọng và kỳ vọng của Việt Nam vào một trật tự pháp lý mới về biển và đại dương. 

Từ khi Công ước ra đời (1982) đến nay, Việt Nam đã thực thi và tuân thủ nghiêm Công ước trên những mặt cơ bản sau:

Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện nhiều chủ trương, chính sách, luật pháp đúng đắn về biển để làm cơ sở cho việc thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền, quản lý, khai thác và sử dụng biển bền vững.

Về chủ trương, chính sách, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành một số văn kiện sau: Nghị quyết số 03-NQ/TW năm 1993 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong những năm trước mắt; Chỉ thị số 20-CT/TW của Trung ương Đảng năm 1997 về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Đặc biệt là sự ra đời Nghị quyết 09-NQ/TW (khóa X) năm 2007 về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, và Nghị quyết số 36-NQ/TW (khóa XII) năm 2018 về Chiến lược phát triển biển bền vững với tầm nhìn chiến lược sâu rộng, tính bao quát cao trên các lĩnh vực kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh, đối ngoại, hợp tác quốc tế, môi trường…

Nhà nước cũng đã ban hành hàng loạt văn bản pháp lý nhằm thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng, các quy định của UNCLOS 1982, như: Ngày 23/6/1994, Quốc hội Việt Nam ra Nghị quyết về việc phê chuẩn UNCLOS 1982, trong đó khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với nội thủy, lãnh hải, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam trên cơ sở các quy định của UNCLOS 1982 và các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, yêu cầu các nước tôn trọng các quyền nói trên của Việt Nam. Đồng thời, Nghị quyết còn khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và chủ trương giải quyết các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ cũng như các bất đồng khác liên quan đến Biển Đông thông qua thương lượng hòa bình, trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982.

Để thể hiện trách nhiệm và thiện chí của một quốc gia thành viên Công ước, Việt Nam luôn tôn trọng và thực thi đầy đủ các nghĩa vụ theo Công ước, từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia, vận dụng các quy định của Công ước trong xác định các vùng biển và phân định ranh giới biển với các nước láng giềng, quản lý và sử dụng biển, đồng thời hợp tác với các nước trong các lĩnh vực biển phù hợp với các quy định của Công ước theo hướng bảo tồn và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên biển, phục vụ phát triển bền vững.

Năm 2012, Việt Nam đã ban hành Luật Biển Việt Nam nhằm thống nhất việc hoạch định, sử dụng, thăm dò, khai thác tài nguyên biển và quản lý các vùng biển, thềm lục địa, hải đảo của Việt Nam, cũng như việc giải quyết tranh chấp trên biển giữa Việt Nam và các nước láng giềng. Đây được coi là bước tiến quan trọng trong việc chuyển hóa các quy định của UNCLOS 1982 vào hệ thống pháp luật trong nước, tạo thuận lợi cho việc quản lý thống nhất về biển và phát triển kinh tế biển của Việt Nam.

Cùng với việc ban hành Luật Biển, Quốc hội Việt Nam cũng đã thông qua Bộ Luật Hàng hải 2015, có hiệu lực từ ngày 01/7/2017 nhằm điều chỉnh các hoạt động giao thông hàng hải trên biển, chế độ ra vào các cảng biển Việt Nam. Đồng thời, Việt Nam đã thông qua nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đến quản lý và sử dụng biển, đại dương, như Luật Biên giới quốc gia (2003), Luật Bảo vệ môi trường (2014), Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (2015), Luật Cảnh sát biển năm 2018, Nghị định 143/2017/NĐ-CP ngày 14/12/2017 của Chính phủ quy định bảo vệ công trình hàng hải, Nghị định 71/2015/NĐ-CP ngày 03/9/2015 của Chính phủ về quản lý hoạt động của người và phương tiện trong khu vực biên giới biển.

Tất cả các văn kiện trên đã tạo bước chuyển mạnh về tư duy và hành động của toàn bộ hệ thống chính trị, là cơ sở pháp lý cho công tác quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo và đã đem lại các thành tựu to lớn trong việc khai thác, sử dụng, quản lý và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

Thứ hai, căn cứ các quy định của UNCLOS 1982, Việt Nam đã và đang tiến hành có hiệu quả và triển khai các hoạt động kinh tế biển trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa 200 hải lý, phục vụ phát triển đất nước. Việt Nam cũng chủ động thúc đẩy hợp tác cùng các bên liên quan trong việc bảo vệ môi trường biển, cứu hộ cứu nạn trên biển, phòng chống thiên tai và triển khai các biện pháp ngăn chặn tội phạm trên biển, góp phần thực hiện đầy đủ các quy định của Công ước. Đặc biệt là ngày 22/10/2018, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, thể hiện quyết tâm rất lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc phát triển bền vững kinh tế biển, đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển.

Thứ ba, với chủ trương nhất quán thông qua các biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp, bất đồng trên biển, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc áp dụng có hiệu quả UNCLOS 1982 để giải quyết các tranh chấp về phân định biển với các nước láng giềng, trong đó luôn đề cao nguyên tắc công bằng để tìm ra giải pháp hợp lý. Việt Nam đã ký với Thái Lan Hiệp định về phân định biển ngày 09/8/1997; ký với Trung Quốc Hiệp định về phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ ngày 25/12/2000; ký với Indonesia Hiệp định về phân định thềm lục địa ngày 26/6/2003.

Thực tiễn đàm phán và ký kết các văn kiện nêu trên đã thể hiện sự vận dụng sáng tạo các quy định của UNCLOS 1982 của Việt Nam, qua đó đóng góp và làm phong phú thêm luật pháp quốc tế về phân định biển.

Trên cơ sở các quy định của UNCLOS 1982, Việt Nam đang thúc đẩy đàm phán phân định và hợp tác cùng phát triển tại khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc; đàm phán phân định vùng đặc quyền kinh tế với Indonesia và đàm phán về các vấn đề trên biển với các nước láng giềng khác.

Thứ tư, trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS 1982, Việt Nam kiên quyết, kiên trì và kịp thời đấu tranh trước bất cứ vi phạm nào đối với chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam ở khu vực Biển Đông; tích cực định hình tiếng nói chung về vấn đề hòa bình, an ninh, ổn định ở khu vực Biển Đông trong các cơ chế khu vực, đa phương và toàn cầu; tham gia vào việc xây dựng các luật lệ quốc tế liên quan đến biển và đại dương ở quy mô khu vực và toàn cầu.

Tại các hội nghị bàn về vấn đề tranh chấp ở Biển Đông, Việt Nam luôn kiên trì yêu cầu các bên “tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982”, coi đây như một nguyên tắc để giải quyết và xử lý các tranh chấp liên quan đến biển, đảo. Việt Nam đã nỗ lực đưa nguyên tắc này vào các văn kiện của ASEAN, kể cả “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC); “Tuyên bố 6 điểm ngày 20/7/2012 của ASEAN về Biển Đông”; dự thảo Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC). Trong đàm phán COC, Việt Nam và các nước ASEAN thống nhất phải đưa UNCLOS 1982 vào trong tiến trình này, coi đây vừa là cơ sở, vừa là vấn đề có tính nguyên tắc.

Với nỗ lực của Việt Nam, nội dung “căn cứ luật pháp quốc tế, UNCLOS 1982 để tìm ra giải pháp cơ bản lâu dài cho các tranh chấp tại Biển Đông” đã được đưa vào “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc” ký ngày 10/11/2011. Điều đó cho thấy, Việt Nam không chỉ chủ động thực hiện nghiêm túc các quy định của Công ước, mà còn luôn có ý thức thúc đẩy việc tôn trọng và thực hiện đầy đủ các quy định của UNCLOS 1982.

Việt Nam còn tích cực tham gia các hoạt động trong khuôn khổ các cơ chế quốc tế được thành lập theo UNCLOS 1982. Việt Nam đã từng được bầu làm Phó Chủ tịch Đại hội đồng và thành viên Hội đồng của Cơ quan quyền lực quốc tế về đáy đại dương. Việt Nam tham gia đầy đủ Hội nghị các quốc gia thành viên UNCLOS 1982 được tổ chức hàng năm tại Đại hội đồng Liên hợp quốc và luôn có những đóng góp tích cực vào việc thúc đẩy thực thi hiệu quả Công ước; tham gia và có những đóng góp tích cực vào các hội nghị của Cơ quan quyền lực quốc tế về đáy đại dương; ủng hộ tăng cường hoạt động của Ủy ban Ranh giới thềm lục địa và nâng cao vai trò của Tòa án Luật Biển quốc tế…

Tại các diễn đàn liên quan, Việt Nam luôn khẳng định: trong hoạt động sử dụng biển, các quốc gia phải tuân thủ đúng các quy định của UNCLOS 1982, thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo Công ước. Việt Nam cũng đã tham gia xây dựng nhiều cơ chế, văn kiện pháp lý quốc tế và khu vực liên quan đến biển, như Công ước quốc tế về Tổ chức Vệ tinh hàng hải (INMARSAT), Hệ thống an toàn và cứu nạn hàng hải toàn cầu (GMDSS), tham gia Công ước Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO) và các công ước khác của IMO, như Công ước quốc tế về phòng ngừa ô nhiễm từ tàu 1973 và Nghị định thư bổ sung 1978 (MARPOL 73/78), Công ước về Tìm kiếm cứu nạn 1979 (SAR 79), Công ước quốc tế về an toàn sinh mạng trên biển 1974 (SOLAS 74), Công ước quốc tế về ngăn ngừa hành vi bất hợp pháp đe dọa an toàn hàng hải 1988 (SUA 88) và một số văn kiện pháp lý trong khuôn khổ Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO).

Ở cấp độ khu vực, Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định chung trong khuôn khổ hợp tác ASEAN liên quan đến vận tải biển và dịch vụ vận tải như: Hiệp định khung ASEAN về Tạo điều kiện thuận lợi cho vận tải hàng hóa quá cảnh 1998, Hiệp định khung ASEAN về Tạo điều kiện thuận lợi cho vận tải liên quốc gia 2012…

Những bằng chứng sinh động trên thể hiện thiện chí, sự tích cực, quyết tâm và cam kết thực tế của Chính phủ Việt Nam đối với việc tôn trọng và thực thi các quy định của UNCLOS 1982, đồng thời thể hiện nỗ lực và chủ trương nhất quán của Việt Nam trong việc hợp tác giải quyết các tranh chấp, bất đồng trên biển bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982, nhằm thúc đẩy hợp tác với các quốc gia, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của Việt Nam ở Biển Đông.

Có thể khẳng định rằng, kể từ khi ra đời cho đến nay, UNCLOS 1982 ngày càng thể hiện tầm quan trọng không thể phủ nhận trong đời sống pháp luật quốc tế. Văn kiện này đã thực sự trở thành căn cứ pháp lý vững chắc để xác định quyền và nghĩa vụ của các quốc gia ven biển, cũng như cách xử lý các vấn đề liên quan đến biển và đại dương, kể cả những tranh chấp về biển. Là một quốc gia gắn liền với biển, Việt Nam luôn đi đầu và không ngừng nỗ lực trong việc thực hiện UNCLOS 1982. Việt Nam tin tưởng chắc chắn rằng, nếu các quốc gia ven biển đều thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ được quy định bởi UNCLOS 1982 thì nhân loại không những sẽ tránh được những căng thẳng, xung đột trên biển mà còn có điều kiện tốt hơn để khai thác biển và đại dương bền vững, phục vụ lợi ích của con người.

]]>
ASEAN nên thúc đẩy Mỹ phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) https://biendong.net/2022/08/15/asean-nen-thuc-day-my-phe-chuan-cong-uoc-lien-hop-quoc-ve-luat-bien-unclos/ Mon, 15 Aug 2022 02:06:00 +0000 https://biendong.net/?p=87012 Tháng 12 năm nay, Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) tròn 40 năm. Mặc dù là nước tham gia tích cực vào quá trình xây dựng UNCLOS tại Hội nghị về luật biển, nhưng trong số các quốc gia ký kết UNCLOS vào năm 1982 không có Mỹ.

Hiện 167 quốc gia đã tham gia công ước này, trong đó có 164 quốc gia là thành viên của Liên hợp quốc (LHQ). Ngoài ra, 14 thành viên khác của Liên hợp quốc đã ký nhưng chưa phê chuẩn UNCLOS. Trong số 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Mỹ là nước duy nhất chưa tham gia UNCLOS mặc dù Mỹ đã tham gia tất cả các cuộc đàm phán UNCLOS từ năm 1974-1982 và hiện công nhận hiệp ước này là thông lệ quốc tế.

Nguyên nhân của việc Mỹ chưa tham gia UNCLOS là do vấn đề nội bộ nước Mỹ. Đảng Cộng hòa từ lâu đã ngăn cản việc gia nhập UNCLOS vì cho rằng nó sẽ làm tổn hại đến quyền chủ quyền của Mỹ và gần như không đóng góp gì cho việc chống lại các cuộc xâm nhập của Trung Quốc ở Biển Đông. Song có lẽ đây là một nhận thức sai lầm và đã đến lúc Mỹ cần gạt bỏ vấn đề nội bộ để thông qua việc phê chuẩn UNCLOS bởi lẽ:

Thứ nhất, Mỹ đã chính thức tuyên bố lập trường pháp lý về các vấn đề liên quan đến tranh chấp Biển Đông dựa trên UNCLOS 1982. Theo đó, Mỹ bác bỏ hầu hết các yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông, khẳng định các yêu sách về quyền lịch sử (bao gồm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán) của Trung Quốc ở Biển Đông là trái với luật pháp quốc tế theo UNCLOS. Mỹ ủng hộ và yêu cầu các bên tuân thủ phán quyết năm 2016 về của Tòa Trọng tài Thường trực La Haye – một cơ chế giải quyết tranh chấp trên biển được quy định trong UNCLOS. Công hàm của Mỹ gửi lên Liên hợp quốc (tháng 6/2020) và Tuyên bố của Ngoại trưởng Mỹ (tháng 7/2020) cũng như tài liệu của Bộ Ngoại giao Mỹ được công bố đầu năm nay đều khẳng định lập trường trên đây của Mỹ.

Lập trường của Mỹ về Biển Đông là đúng đắn, hoàn toàn dựa theo luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS. Tuy nhiên, Trung Quốc lại luôn cao giọng chỉ trích Mỹ, thậm chí trắng trợn nói rằng các phân tích về mặt pháp lý của Mỹ trên các vấn đề liên quan ở Biển Đông mang tính “đạo đức giả” vì bản thân Mỹ vẫn chưa phê chuẩn UNCLOS. Giới phân tích nhận định rằng chừng nào Mỹ vẫn chưa phê chuẩn UNCLOS thì những lời lên án của họ đối với Trung Quốc được coi là thiếu uy tín và không thể ngăn cản được hành vi vi phạm của Bắc Kinh. Ngược lại, Trung Quốc – kẻ hung hăng, côn đồ, bất chấp luật pháp quốc tế ở Biển Đông lại có thể lớn tiếng công kích Mỹ.

Mỹ yêu cầu quyền tự do tối đa đối với cả tàu hải quân và tàu thương mại để di chuyển và hoạt động ngoài khơi bờ biển của nước khác mà không bị can thiệp. Nếu Quốc hội Mỹ thông qua UNCLOS, Washington có thể tự tin đảm bảo quyền tự do hàng hải và khả năng tiếp cận toàn cầu đối với các tàu quân sự và thương mại, máy bay và hệ thống cáp quang dưới biển.

Như vậy, rõ ràng việc chưa phê chuẩn UNCLOS gây bất lợi cho Washington trong cuộc cạnh tranh với Bắc Kinh ở Biển Đông; hạn chế việc Mỹ thúc đẩy trật tự dựa trên pháp luật ở Biển Đông và trong khu vực; ảnh hưởng tiêu cực tới nỗ lực của Mỹ trong tập hợp lực lượng hình thành mặt trận pháp lý chống lại Trung Quốc ở Biển Đông; đặc biệt càng khó cho Mỹ trong việc đứng ra bảo vệ các nước ven Biển Đông trước sự cưỡng ép, bắt nạt của Trung Quốc.

Thứ hai, Mỹ hiện khẳng định quyền tự do hàng hải của mình thông qua luật tập quán quốc tế. Tuy nhiên, sự khẳng định này có thể thay đổi và chịu tác động của những diễn giải ngoại giao trong những tình huống khác nhau. Việc phê chuẩn UNCLOS sẽ cho phép Mỹ lấy lại vị trí chiến lược đúng đắn của mình ở Thái Bình Dương và biến những cam kết của Mỹ đối với khu vực thành hành động. Mỹ tiến hành các hoạt động tự do hàng hải (FONOPS) chính thức để thách thức những yêu sách chủ quyền rộng lớn và những biện pháp hạn chế đi lại mà những quốc gia ven biển đưa ra. Các tàu chiến Mỹ còn thường xuyên đi qua eo biển Đài Loan cũng là để bảo vệ trật tự dựa trên pháp luật.

Để duy trì tự do và an toàn hàng hải ở Biển Đông và thúc đẩy thực thi phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài Thường trực La Haye, các tàu chiến Mỹ đã nhiều lần đi vào phạm vi 12 hải lý các thực thể Trung Quốc chiếm đóng ở Trường Sa và đi cắt ngang qua quần đảo Hoàng Sa để phá cái gọi là “đường cơ sở thẳng” xung quanh quần đảo do Trung Quốc đơn phương vạch ra trái với UNCLOS. Không chỉ có các tàu Hải quân, Mỹ còn điều các tàu tác chiến ven biển của Lực lượng Bảo vệ bờ biển Mỹ tham gia các hoạt động bảo vệ luật pháp quốc tế ở Biển Đông, bao gồm hoạt động FONOPS và tới các điểm nóng ở Biển Đông giám sát các hoạt động của tàu hải cảnh Trung Quốc uy hiếp hoạt động dầu khí của các nước ven Biển Đông.

 Hải quân và Lực lượng Bảo vệ bờ biển của Mỹ đa phần tuân theo những quy tắc hàng hải mà UNCLOS đưa ra. Đã đến lúc chính quyền Mỹ cần gạt chính trị đảng phái sang một bên và tập trung vào lợi ích quốc gia. Hạm đội 7 của Hải quân Mỹ tiếp tục củng cố quyền tự do hàng hải trong các vùng biển tranh chấp ở Biển Đông dựa trên những điều khoản của UNCLOS chính thức xác định giới hạn lãnh hải của một quốc gia và thiết lập các quy tắc rõ ràng cho việc quá cảnh qua “những eo biển quốc tế” và “vùng đặc quyền kinh tế” (EEZ). Nếu Quốc hội Mỹ phê chuẩn UNCLOS, Washington sẽ có tư cách pháp lý để gửi bất kỳ khiếu nại nào lên cơ quan giải quyết tranh chấp quốc tế, do đó, tránh được nguy cơ xảy ra đối đầu với lực lượng hải quân và tàu đánh cá bán quân sự của Trung Quốc ở Biển Đông.

Trong khi đó, bất chấp luật pháp và dư luận quốc tế Trung Quốc tiếp tục viện cớ “các thực tiễn lịch sử”, “các quyền lịch sử” và “các bằng chứng lịch sử và pháp lý đa dạng” để duy trì các hoạt động gây hấn trên Biển Đông. Trong một số cuộc trao đổi, Trung Quốc thậm chí còn đi xa đến mức lập luận rằng họ đang hành động phù hợp với UNCLOS và tất cả luật pháp quốc tế có liên quan. Bắc Kinh còn tự ý ban hành các luật lệ trái với các quy định của UNCLOS (Luật hải cảnh và Luật an toàn giao thông hàng hải…)

Tuy nhiên, do chưa phê chuẩn UNCLOS, nên chính quyền Washington không được tham gia các thủ tục pháp lý liên quan. Ví dụ, yêu cầu của Mỹ được tham gia với tư cách quan sát viên trong vụ Philippines kiện Trung Quốc đã bị khước từ. Ngoài ra, UNCLOS cung cấp cơ chế hợp tác chính thức với các quốc gia khác vì hầu hết các đồng minh, láng giềng và bạn bè của Washington đều là thành viên của công ước này.

Trong hơn 1 năm qua, hưởng ứng sự vận động của chính quyền của Tổng thống Biden, các đồng minh của Mỹ đã tích cực can dự vào Biển Đông và khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương thông qua việc đưa tàu chiến tới khu vực. Tuy nhiên, việc Mỹ chưa phải là thành viên của UNCLOS khiến cho lời kêu gọi của Washington ít trọng lượng hơn. Giới phân tích cho rằng việc phê chuẩn UNCLOS sẽ giúp Mỹ có thêm đòn bẩy khi kêu gọi các quốc gia khác hành động tương tự.

Thứ ba, trong nội bộ Mỹ ngày càng có nhiều tiếng nói ủng hộ việc phê chuẩn UNCLOS. Các đời tổng thống Mỹ tiền nhiệm gồm Bill Clinton, George W. Bush và Barack Obama đều ủng hộ việc Quốc hội Mỹ cần thông qua UNCLOS song những nỗ lực của họ chưa đủ mạnh để thúc đẩy vấn đề đi đến kết quả như mong muốn. Thời gian gần đây, trước sự hung hăng ngày càng gia tăng của Bắc Kinh trên các vùng biển, tình hình nội bộ Mỹ đã có sự chuyển biến tích cực liên quan đến việc phê chuẩn UNCLOS.

Giới lãnh đạo quân đội Mỹ ủng hộ việc phê chuẩn, như được thấy trong các cuộc điều trần gần đây. Tư lệnh Lực lượng Bảo vệ bờ biển Mỹ, Đô đốc Karl Schultz đã bày tỏ sự ủng hộ “hết mình”, trong khi Phó Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, Đô đốc Christopher Grady nhận định rằng Mỹ “đang làm suy yếu ảnh hưởng của mình khi không phê chuẩn quy tắc mà chúng ta đang yêu cầu các quốc gia khác phải chấp nhận”. Bên cạnh đó, các giám đốc điều hành Phòng Thương mại Mỹ, ngành dầu khí, các chuyên gia về chính sách đại dương và các nhóm hoạt động bảo vệ môi trường ngày càng có nhiều sự đồng thuận về thúc đẩy Thượng viện Mỹ phê chuẩn UNCLOS.

Một nỗ lực mới của các thành viên Đảng Dân chủ trong Quốc hội nhằm phê chuẩn UNCLOS tạo cơ hội quan trọng để Mỹ thúc đẩy sự phản đối của mình đối với các yêu sách hàng hải của Trung Quốc ở Biển Đông. Tháng 2/2022, Hạ viện Mỹ đã thông qua một kiến nghị, trong đó cho rằng việc phê chuẩn UNCLOS là vì lợi ích quốc gia của Mỹ do các hoạt động ngày một gây rối của Trung Quốc. Văn bản được Hạ viện Mỹ thông qua là Đạo luật “America COMPETES Act of 2022” (tạm dịch là Đạo luật “Tạo Cơ hội Thúc đẩy Có ý nghĩa Sự trao đổi trong Công nghệ, Giáo dục và Khoa học” của Mỹ năm 2022) nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh kinh tế của Mỹ với Trung Quốc, bao gồm một sửa đổi quy định rằng việc phê chuẩn chính thức UNCLOS phục vụ lợi ích tốt nhất của Mỹ.

Ami Bera – Chủ tịch Tiểu ban Hạ viện về châu Á, Thái Bình Dương và Không phổ biến vũ khí – đã nêu rõ: “Việc phê chuẩn UNCLOS giúp tăng cường khả năng của Mỹ để hỗ trợ các đồng minh và đối tác của mình trong việc thúc đẩy một khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do, rộng mở và an toàn, và mang lại cho Mỹ quyền lãnh đạo và uy tín hơn khi Mỹ tiếp tục hoạt động trên biển, trên không và bất cứ nơi nào luật pháp quốc tế cho phép”.

Việc phê chuẩn sẽ cần sự ủng hộ của Tổng thống Biden, một cuộc bỏ phiếu tán thành từ Ủy ban Đối ngoại Thượng viện và 67 phiếu ủng hộ trong một Thượng viện đang bị chia rẽ. Mặc dù để đạt được đồng thuận trong Thượng viện là vô cùng khó khăn, nhưng ông Biden nên ủng hộ tầm quan trọng của UNCLOS, vì các vấn đề của Biển Đông đang vượt ra ngoài các vấn đề lãnh thổ đơn thuần. Thay vào đó, nó liên quan đến các ưu tiên quốc gia lớn hơn của Mỹ là: thúc đẩy trật tự hàng hải dựa trên luật lệ; bảo vệ môi trường biển và nhấn mạnh tình đoàn kết quốc tế trong thời điểm xung đột và biến động. Hơn thế nữa nó giúp Washington “rộng tay” thúc đẩy chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Các chuyên gia về luật quốc tế cho rằng vì lợi ích duy trì hòa bình ổn định ở khu vực, các nước Đông Nam Á, nhất là các nước ven Biển Đông cần chủ động thúc đẩy để Mỹ sớm phê chuẩn UNCLOS và Hội nghị Thượng đỉnh đặc biệt giữa Mỹ và ASEAN diễn ra tại Nhà Trắng vào 12-13/05 là dịp tốt để các nước ASEAN làm điều này. Hội nghị thượng đỉnh Mỹ-ASEAN lần này đúng vào dịp kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ Mỹ-ASEAN, một dấu mốc tạo đà cho chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Mỹ cũng như định hướng mối quan hệ trong tương lai giữa Mỹ và khối 10 nước thành viên này. Mặt khác, 2022 cũng là tròn 40 năm UNCLOS ra đời, phải chăng đây là thời điểm phù hợp để Mỹ phê chuẩn UNCLOS?

Một trong những mục tiêu của việc tổ chức hội nghị thượng đỉnh Mỹ-ASEAN là nhằm đảo bảo các nước Đông Nam Á này tham gia vào trật tự quốc tế dựa trên pháp quyền, hay còn được biết đến là trật tự theo mô hình “Hòa bình kiểu Mỹ” ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương trong đó có sự tham gia của các đồng minh và đối tác của Washington. Sự tham gia này sẽ giúp kiềm chế sức mạnh gia tăng của Trung Quốc ở vùng Biển Đông tranh chấp. Khi đó, một câu hỏi đặt ra là khi nào là thời điểm thích hợp hơn để Mỹ tham gia ký kết Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS)?

Giới phân tích nhận định kể từ khi Washington điều chỉnh quan hệ với Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) trong một phản ứng chung của phương Tây đối với hành động quân sự của Nga ở Ukraine, những lợi ích của chính quyền Biden và Quốc hội Mỹ cũng có thể được đáp ứng bằng cách đưa ra một cuộc bỏ phiếu phê chuẩn UNCLOS – một công cụ pháp lý được quốc tế công nhận để xác định những vấn đề liên quan đến chủ quyền, những vùng lãnh hải cũng như quyền và nghĩa vụ của một nước hàng hải. 

Trong bối cảnh đang phải tập trung vào khủng hoảng Ukraine, Tổng thống Mỹ Joe Biden chào đón các nhà lãnh đạo các nước Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á đến Washington dự Hội nghị thượng đỉnh Mỹ-ASEAN là nhằm giải thích sứ mệnh của Mỹ trong chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, qua đó tái củng cố cam kết đối với luật lệ quốc tế. Do vậy, việc Mỹ thông qua UNCLOS sẽ có ý nghĩa quan trọng thuyết phục các nước thành viên ASEAN rằng Mỹ không đơn thuần chỉ đưa ra những cam kết mang tính “thùng rỗng kêu to” hay những tuyên bố “đao to búa lớn” về những vấn đề địa chính trị. Rõ ràng, những hành động ngày càng quyết đoán và gây hấn của Trung Quốc ở Biển Đông cũng như hoạt động quân sự hóa các tiền đồn ở vùng biển tranh chấp càng khiến việc Quốc hội Mỹ thông qua UNCLOS trở thành một nhu cầu cấp thiết.

Hiện tại, Mỹ công nhận hầu hết các chương, mục và điều khoản của UNCLOS, coi đây là luật tập quán quốc tế. Tuy nhiên, việc thừa nhận như vậy vẫn chưa đủ mạnh bằng việc Quốc hội Mỹ phê chuẩn chính thức công ước này. Hơn nữa, việc phê chuẩn sẽ trao cho Washington công cụ pháp lý để lớn tiếng chỉ trích Trung Quốc mà không vấp phải những chỉ trích đáp trả của Bắc Kinh về việc Mỹ chưa phải là thành viên UNCLOS. Đối với nhiều nhà lãnh đạo ASEAN, việc Mỹ không phê chuẩn công ước này sẽ làm suy yếu các cam kết của Washington ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Việc Mỹ không ký kết UNCLOS cũng sẽ làm suy yếu các hoạt động tự do hàng hải của Mỹ ở Biển Đông cũng như làm suy yếu nỗ lực ngăn chặn những hoạt động đánh bắt bất hợp pháp, không báo cáo và không được kiểm soát vốn được coi là những thách thức đối với luật pháp quốc tế. Chính sách đối ngoại của Mỹ đã nhấn mạnh vai trò của chủ nghĩa đa phương và lên án hành vi cưỡng ép của Bắc Kinh đối với các nước ven Biển Đông giải quyết song phương các vấn đề tranh chấp ở Biển Đông. Chắc chắn, cơ sở đạo lý của Washington sẽ yếu thế nếu không phê chuẩn UNCLOS, vốn được coi là cơ chế toàn diện nhất để giải quyết các tranh chấp hàng hải. Chúng ta cùng chờ đợi một quyết định mạnh mẽ của nước Mỹ để có thể đóng góp nhiều hơn vào hòa bình, ổn định an ninh trên Biển Đông và trong khu vực.

]]>
Liệu có hình thành một liên minh vì tự do hàng hải ở Biển Đông? https://biendong.net/2021/12/22/lieu-co-hinh-thanh-mot-lien-minh-vi-tu-do-hang-hai-o-bien-dong/ Wed, 22 Dec 2021 10:49:00 +0000 https://biendong.net/?p=71370 Thời gian gần đây, trong khi Trung Quốc gia tăng các cuộc tập trận quân sự ở Biển Đông với sự tham gia của nhiều loại khí tài hiện đại, trong đó có cả tàu sân bay, máy bay ném bom chiến lược tầm xa… hòng kiểm soát vùng biển này, thì tàu chiến của các nước như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Australia… cũng lần lượt xuất hiện tại Biển Đông, báo hiệu sự can thiệp của nhiều bên với những toan tính lợi ích khác nhau.

Câu hỏi đặt ra là, để đối phó với các hoạt động “không bình thường” của Trung Quốc, thì liệu có thể hình thành một liên minh vì tự do hàng hải ở Biển Đông không? Giới nghiên cứu bắt đầu tìm câu trả lời thông qua việc tập trung phân tích, làm rõ cơ sở pháp lý và thực tiễn để cho thấy khả năng, triển vọng về một liên minh vì tự do hàng hải ở vùng biển này trong tương lai.

Trả lời cho câu hỏi này, trước hết phải tìm ra nhân tố chủ yếu, chủ lực để có thể đứng ra kết nối, xây dựng liên minh đã. Có lẽ không ai khác hơn, làm ứng cử viên nặng ký cho vấn đề này là Mỹ. Có thể nói, Mỹ có đủ thực lực và cơ sở để gia tăng và mời gọi các nước đồng minh cùng tham gia hoạt động tự do hàng hải ở Biển Đông vì những lý do sau:

Một là, tự do hàng hải trên biển là vấn đề đã được luật biển quốc tế khẳng định; Mỹ thực hiện tự do hàng hải ở Biển Đông là nhằm duy trì và bảo vệ trật tự thế giới trên biển theo quy định của luật pháp quốc tế, mục đích này rất dễ được các nước đồng minh chấp nhận và cùng tham gia.

Tuy không phải là thành viên của UNCLOS 1982, nhưng Mỹ luôn cổ súy cho các quyền tự do biển cả, coi đó là các quyền mang tính tập quán và cần phải được bảo vệ. FONOP là một trong những biện pháp cơ bản được Mỹ sử dụng từ năm 1979, kết hợp giữa ngoại giao và các hoạt động thực địa nhằm bảo vệ các quyền lợi thương mại hàng hải và sự cơ động của lực lượng quân sự Mỹ. Các hoạt động này được lên kế hoạch cẩn thận, chuyên nghiệp, dựa trên UNCLOS 1982 nhằm đề cao tính tuân thủ luật pháp quốc tế mà không gây ra xung đột vũ trang. FONOP của Mỹ vì thế không tập trung vào một bên yêu sách cụ thể nào mà được áp dụng cho cả các đồng minh, các đối tác và các đối thủ cạnh tranh, được thực hiện không chỉ nhằm đáp trả các sự kiện hiện thời. Mỹ khuyến khích và mời các nước tham gia vào các chiến dịch FONOP để bảo vệ luật pháp quốc tế và trật tự thế giới trên biển dựa trên luật lệ.

Hai là, Trung Quốc tăng cường các hành động bá quyền ở Biển Đông, gây quan ngại cho khu vực và là nguyên nhân chủ yếu để Mỹ và đồng minh có thể hình thành một liên minh vì tự do hàng hải ở Biển Đông.

Để thực hiện tham vọng về chủ quyền ở Biển Đông theo yêu sách “đường chín đoạn”, Trung Quốc đã triển khai quyết liệt chiến lược “Tam chủng chiến pháp” trên cả ba mặt trận: pháp lý, tuyên truyền và thực địa. Trên mặt trận pháp lý, ngoài việc chuyển đổi từ yêu sách “đường chín đoạn” sang yêu sách “Tứ sa” (có phạm vi rộng hơn cả yêu sách “đường chín đoạn”), Trung Quốc còn kiên quyết bác bỏ phán quyết của Tòa trọng tài năm 2016; đơn phương áp đặt một loạt các quy định luật pháp và củng cố các yêu sách trên biển, như thành lập hai “quận” Tây Sa và Nam Sa để quản lý Hoàng Sa và Trường Sa, đặt tên mới cho 80 thực thể chủ yếu nằm trên thềm lục địa của Việt Nam, ban hành Luật Hải cảnh vào tháng 02/2021. Luật này cho phép lực lượng chấp pháp biển có quyền sử dụng vũ khí hạng nặng cả trên không, trên biển, chống lại tàu thuyền nước ngoài được coi là “vi phạm” các vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc. Điều này sẽ dẫn tới nguy cơ hạn chế quyền tự do hàng hải, tự do hàng không của các nước trong và ngoài Biển Đông. Trên thực địa, Trung Quốc ráo riết thể hiện sức mạnh thông qua việc tịch thu ngư cụ, bắt người, đâm chìm tàu cá ngư dân các nước xung quanh Biển Đông; tổ chức diễn tập quân sự với quy mô lớn và dài ngày với sự tham gia của cả tàu sân bay; o ép các công ty dầu khí nước ngoài từ bỏ các hợp đồng dầu khí trên thềm lục địa các nước xung quanh Biển Đông… Năm 2020, Trung Quốc tiến hành 37 cuộc tập trận quân sự trên biển (số lượng lớn nhất từ trước đến nay), trong đó có mục bắn thử tên lửa chống hạm DF-26 vào các tàu chiến đang đi lại bình thường trên Biển Đông. Mỹ và nhiều nước trên thế giới đánh giá, đây là hành động bắt nạt các nước láng giềng nhỏ bé của Trung Quốc, vi phạm nghiêm trọng trật tự thế giới dựa trên luật lệ, gây tác động xấu đến an ninh khu vực.

Ba là, tại Biển Đông, tuy chưa đầy đủ, nhưng đã xuất hiện một số điều kiện để hình thành một liên minh vì tự do hàng hải.

Đầu tiên là các hoạt động FONOP của Mỹ được tổ chức ngày càng bài bản, đi vào chiều sâu, có sự gia tăng cả về sức mạnh và số lần hoạt động. Nếu như trước đó, sau khi lên nắm quyền, chính quyền Tổng thống D.Trump phải cần tới 5 tháng để nối lại các hoạt động FONOP thì ngay trong tháng đầu tiên cầm quyền, khi Trung Quốc thông qua Luật Hải cảnh (02/2021), chính quyền Tổng thống Joe Biden lập tức cùng lúc cử hai tàu sân bay và số lượng lớn tàu chiến tham gia FONOP ở Biển Đông. Hành động này cho thấy, ông Joe Biden không có dấu hiệu nhân nhượng với Trung Quốc và không thay đổi đường lối cứng rắn đã được người tiền nhiệm vạch ra. Tuy nhiên, ông Joe Biden đang có sự thay đổi trong cách tiếp cận. Theo đó, chính quyền Joe Biden đang tích cực điều chỉnh chiến lược biển, tăng cường phối hợp với các đối tác, đồng minh mà nòng cốt là nhóm “Bộ Tứ” tham gia bảo đảm tự do hàng hải. An ninh hàng hải được “Bộ Tứ” xác định là một trong những “thách thức thời đại”. Việc Mỹ thúc đẩy “Bộ Tứ” tham gia bảo đảm an ninh hàng hải cho thấy Washington đang rất cần hợp tác với tất cả các đồng minh và đối tác trong khu vực để đạt được sự ổn định, duy trì an ninh, trật tự khu vực dựa trên luật pháp.

Tiếp theo là, trong khi Mỹ đang thúc đẩy sự tham gia của các đồng minh, đối tác vào việc đảm bảo tự do hàng hải, thì các nước lớn khác bên ngoài khu vực như Anh, Pháp, Đức cũng tỏ ra rất quan ngại trước sự lớn mạnh của Trung Quốc sẽ đe dọa các quyền lợi thiết thân của họ, đặc biệt là tự do và an ninh hàng hải. Vì thế, dưới sự dẫn dắt của Mỹ, các nước này cũng bắt đầu tham gia các hoạt động tự do hàng hải ở Biển Đông theo cách làm của riêng họ để vừa duy trì sự tôn nghiêm của luật pháp quốc tế, vừa bảo vệ lợi ích của mình. Sau Công hàm chung gửi Tổng Thư ký Liên hợp quốc ngày 16/9/2020 bác bỏ các yêu sách phi lý của Trung Quốc ở Biển Đông, ủng hộ sự toàn vẹn của UNCLOS 1982, đề cao sự tôn trọng quyền tự do biển cả, nhất là quyền tự do hàng hải, hàng không trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa và quyền qua lại không gây hại trong vùng lãnh hải, ba nước Anh, Pháp, Đức cũng đã đưa tàu chiến đến thực hiện các hoạt động tự do hàng hải tại Biển Đông. Đến nay, các nước thành viên nhóm G7, trừ Italia, đều có kế hoạch cử tàu chiến đến Biển Đông. Hoạt động này nhằm mục đích tăng cường hiện diện trong khu vực, bảo vệ tự do hàng hải, bảo vệ thương mại cũng như trật tự quốc tế dựa trên luật pháp. Nó cũng cho thấy các nước trên rất quan tâm tới khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, muốn hợp tác với các nước trong khu vực, với Mỹ và nhóm “Bộ tứ” để bảo vệ các quyền lợi kinh tế ở khu vực.

Cuối cùng là sáu nước ASEAN xung quanh Biển Đông đều ủng hộ lập trường coi UNCLOS 1982 là văn bản pháp lý duy nhất để giải quyết tranh chấp trên biển và ủng hộ phán quyết của Tòa Trọng tài năm 2016. Đây là điều kiện thuận lợi để các nước bên ngoài khu vực có thể hình thành một liên minh vì tự do hàng hải ở Biển Đông.

Tuy nhiên, bên cạnh những lý do kể trên, cũng còn nhiều khó khăn, thách thức không nhỏ để Mỹ và các đồng minh tiến tới hình thành một liên minh vì tự do hàng hải ở Biển Đông. Đó là:

Trong lịch sử quan hệ quốc tế, liên minh được hiểu là sự cam kết chính thức giữa các quốc gia nhằm phối hợp hay tương trợ lẫn nhau để đối phó với các vấn đề an ninh, chống lại các mối đe dọa chung. Liên minh cho phép kết hợp các nguồn lực và phối hợp hành động nhằm nâng cao vị thế của các quốc gia trong liên minh so với các quốc gia không tham gia liên minh. Trên quan điểm chủ nghĩa hiện thực, các quốc gia thành lập liên minh phải dựa trên lợi ích quốc gia của mình và các mục tiêu chung. Tuy nhiên, liên minh cũng có thể là nguồn gốc gây xung đột giữa các quốc gia. Vì vậy, việc thành lập liên minh phải có sự dàn xếp linh hoạt, đòi hỏi phải có chính sách ngoại giao khéo léo.

Sau cuộc gặp cấp cao lịch sử đầu tiên của nhóm “Bộ tứ”, đã có nhiều kỳ vọng về nhóm này sẽ tạo ra một liên minh hàng hải ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Tuy nhiên, “Bộ tứ” không phải là cơ chế chính thức về quân sự như kiểu “NATO châu Á”, mà chỉ là một diễn đàn không chính thức nhằm trao đổi thông tin và phối hợp các cuộc diễn tập quân sự. “Bộ tứ” tuy có các tuyên bố cứng rắn nhưng không đề cập trực tiếp đến Trung Quốc vì hầu như tất cả các nước trong nhóm này đều có “va chạm” với Trung Quốc. Các nước này đều có nhu cầu đối trọng với sự lớn mạnh và bành trướng của Trung Quốc tại châu Á – Thái Bình Dương, nhưng lại có sự quan tâm khác nhau. Ấn Độ sẽ ưu tiên hơn cho Ấn Độ Dương, trong khi đó Australia và Nhật Bản sẽ mong muốn có nhiều hoạt động tại Biển Đông và biển Hoa Đông. Điều này sẽ ảnh hưởng đến cơ chế ra quyết định của nhóm “Bộ tứ” dựa trên nguyên tắc đồng thuận. Nhóm “Bộ tứ” có thể sẽ hành động hữu hiệu khi có chiến tranh nổ ra, nhưng Trung Quốc rất khôn ngoan, mặc dù rất hung hăng và hiếu chiến ở Biển Đông, nhưng họ chỉ tiến hành các hoạt động dưới ngưỡng chiến tranh, không tạo cớ cho nước ngoài can thiệp.

Các nước Anh, Pháp, Đức và Australia tham gia vào các hoạt động FONOP tại Biển Đông đều có mục tiêu chung là bảo vệ trật tự biển được xây dựng trên cơ sở UNCLOS 1982, chống lại các hành vi trái với luật pháp quốc tế của Trung Quốc. Sự vào cuộc của các nước này có thể hình thành một mặt trận để kiềm chế Trung Quốc do Mỹ cầm đầu. Song, các hoạt động FONOP này chủ yếu mang tính biểu tượng, chưa nhiều và chưa đủ sức răn đe để buộc Trung Quốc phải từ bỏ hành vi cứng rắn.

Các nước phương Tây nói trên tuy ủng hộ Mỹ và tham gia các hoạt động FONOP ở Biển Đông, nhưng họ lại không có căn cứ quân sự, hậu cần tại Biển Đông hoặc gần đó để có thể duy trì thường xuyên hoạt động này, cũng như tiết kiệm chi phí. Hơn nữa, họ cũng có những quan tâm chiến lược khác biệt đối với đối thủ cạnh tranh là Trung Quốc, nên khó có thể đưa ra được sự đồng thuận trong phối hợp hành động.

Cuối cùng, muốn hình thành một liên minh vì tự do hàng hải ở Biển Đông thì nhất thiết phải có sự ủng hộ của chính các nước trong khu vực. Sáu nước ASEAN xung quanh Biển Đông tuy đều ủng hộ lập trường coi UNCLOS 1982 là văn bản pháp lý duy nhất để giải quyết tranh chấp trên Biển Đông, nhưng việc Malaysia từng tỏ thái độ không hài lòng với sự hiện diện của tàu chiến nước ngoài trong khu vực sẽ làm cho các nước ASEAN quan ngại. Trong khi đó, Trung Quốc luôn đổ lỗi cho Mỹ và các nước đồng minh lợi dụng tự do hàng hải để xâm phạm chủ quyền, an ninh của các nước ven Biển Đông, chia rẽ ASEAN, gây mâu thuẫn, xung đột, để gia tăng hoạt động mạnh hơn.

Ông Kurt Campbell – Điều phối viên khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Ủy ban An ninh quốc gia Mỹ đã khẳng định: “Tôi cho rằng vấn đề quan trọng nhất trong tranh chấp Biển Đông là quyền tự do hàng hải”. Lời khẳng định này cho thấy, FONOP là một trong những phương cách hữu dụng nhất hiện nay để đối phó với những thách thức của Trung Quốc ở Biển Đông. Nó đề cao sự bảo vệ luật pháp quốc tế và buộc Trung Quốc phải cân nhắc thận trong hơn về cách xử sự ở Biển Đông. Hiện tại, điều kiện để hình thành một liên minh vì tự do hàng hải ở Biển Đông đang hình thành nhưng chưa đủ sức để gắn kết các thành viên với nhau. Điều này còn phụ thuộc vào hành vi và mức độ phản ứng của Trung Quốc và sự đồng lòng của các nước trong và ngoài khu vực ngăn chặn các hành vi vi phạm luật pháp quốc tế đó của Trung Quốc.

Chí Bảo

]]>