UNCLOS – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Wed, 08 Feb 2023 04:11:54 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 Mỹ đang hỗ trợ các nước ven Biển Đông thúc đẩy thực thi công ước Liên hợp quốc về Luật Biển https://biendong.net/2022/11/05/my-dang-ho-tro-cac-nuoc-ven-bien-dong-thuc-day-thuc-thi-cong-uoc-lien-hop-quoc-ve-luat-bien/ Sat, 05 Nov 2022 04:06:54 +0000 https://biendong.net/?p=95954 Ngày 03/9/2022, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc Tạ Phong đã khởi động một đợt chỉ trích nữa nhằm vào chính phủ Mỹ vì đã viện dẫn Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS), văn bản luật pháp quốc tế chuyên trách các vấn đề và tranh chấp trong lĩnh vực hàng hải.

Các quan chức Trung Quốc vẫn tức giận với việc vào tháng 1/2022, Bộ Ngoại giao Mỹ đã công bố một nghiên cứu chỉ trích toàn diện về các yêu sách lãnh thổ hàng hải của Trung Quốc ở Biển Đông. Cường độ phản ứng của Trung Quốc cho thấy đây không chỉ là một cuộc tranh cãi pháp lý. Sự ủng hộ của Mỹ dành cho UNCLOS có thể đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn Trung Quốc đạt được một trong những mục tiêu địa chính trị lớn của họ là thiết lập một phạm vi ảnh hưởng đối với Đông Nam Á.

Các quan chức cấp cao của Trung Quốc liên tục khẳng định Bắc Kinh sẽ không bao giờ tìm kiếm một phạm vi ảnh hưởng ở Đông Nam Á. Người Đông Nam Á có lý khi hoài nghi về tuyên bố này. Trong quá trình tìm kiếm sự thịnh vượng thông qua thương mại và đầu tư từ Trung Quốc, hầu hết các nước Đông Nam Á đều lo sợ bị Trung Quốc chi phối và từ đó bị đánh mất chủ quyền của mình. Ngay cả ở Campuchia và Lào, những quốc gia Đông Nam Á bị ảnh hưởng nhiều nhất từ Trung Quốc, việc giới tinh hoa chính trị tham nhũng tìm cách điều chỉnh sao cho phù hợp với Trung Quốc không nhất thiết phản ánh mong muốn của toàn xã hội nước họ.

Trung Quốc, nước phê chuẩn UNCLOS vào năm 1996, tuyên bố “có quyền chủ quyền” đối với xấp xỉ 90% diện tích Biển Đông, khu vực nằm trọn trong “Đường 9 đoạn” đáng hổ thẹn mà nước này đặt ra. Mặc dù Bắc Kinh không xác định chính xác điều đó có nghĩa là gì, nhưng chúng ta đều biết chính phủ Trung Quốc tuyên bố quyền đơn phương cấm các hoạt động của người nước ngoài, bao gồm đánh bắt cá, khảo sát và khai thác dầu khí,… tại các khu vực trên Biển Đông nhưng nằm bên ngoài các Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) hợp pháp của Trung Quốc. Bắc Kinh thường xuyên ra tuyên bố cấm tất cả các tàu và máy bay nước ngoài hoạt động ở một số khu vực biển khơi mỗi khi họ tổ chức các cuộc tập trận quân sự. Chính phủ Trung Quốc cũng cố gắng hạn chế sự hiện diện của các đơn vị quân đội nước ngoài tại các khu vực mà theo các quy định của UNCLOS thì được phép qua lại một cách hòa bình.

Nếu Bắc Kinh được cộng đồng quốc tế mặc nhận những hành động xâm lấn này, Trung Quốc sẽ đạt được một bước tiến lớn hướng tới quyền bá chủ tiểu khu vực. Và những khẳng định táo bạo hơn của Trung Quốc về quyền sở hữu có thể sẽ tiếp tục được đưa ra, trong đó có các hạn chế có chọn lọc đối với các chuyến hàng thương mại của các quốc gia không ủng hộ Bắc Kinh và phải phụ thuộc các tuyến hàng hải đi qua Biển Đông.

Các điều khoản được nêu trong UNCLOS được coi là một bức tường thành ngăn ngừa những hành vi sai trái trên biển. Tuy nhiên, trên thực tế ngay cả khi có sự ủng hộ của Mỹ dành cho UNCLOS, khả năng kiềm chế tham vọng của Trung Quốc cũng bị hạn chế. Tuy nhiên, nếu không có sự hỗ trợ của Mỹ, UNCLOS sẽ không chỉ là một tập hợp các quy tắc và nguyên tắc mà từ đó Bắc Kinh sẽ trích dẫn một cách có chọn lọc những điều phù hợp với chương trình nghị sự của Trung Quốc, trong khi bỏ qua những điều còn lại.

Mỹ có khả năng trong việc chống lại sự xâm phạm của Trung Quốc ở Biển Đông bằng cách thiết lập hợp tác an ninh trong tiểu vùng, tiến hành các cuộc tập trận quân sự và thực hiện các hoạt động “tự do hàng hải” nhằm bác bỏ các tuyên bố chủ quyền trái pháp luật của Trung Quốc thông qua các chuyến quá cảnh của tàu hải quân Mỹ. Chẳng hạn, tín hiệu cực kỳ mạnh mẽ của Mỹ có lẽ đã ngăn cản Bắc Kinh xây dựng căn cứ quân sự trên bãi cạn Scarborough đang tranh chấp. Phản ứng của Trung Quốc trước việc Mỹ ủng hộ một trật tự dựa trên pháp luật ở Biển Đông là bằng chứng thuyết phục nhất cho thấy Bắc Kinh coi sự ủng hộ của Mỹ dành cho UNCLOS là trở ngại đáng kể đối với các kế hoạch thôn tính, độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc.

Các quan chức Trung Quốc và các phương tiện truyền thông của chính phủ Trung Quốc đã khẳng định một cách nhất quán rằng Mỹ không có tư cách viện dẫn UNCLOS vì Washington đã không phê chuẩn công ước này. Đáng tiếc là một số chuyên gia nước ngoài bị Trung Quốc mua chuộc cũng lặp lại luận điệu rằng Washington “đạo đức giả” hoặc “thiếu uy tín” khi kêu gọi tuân thủ UNCLOS. Họ nên nhớ rằng UNCLOS được coi là “Hiến pháp của đại dương” và cho dù phê chuẩn hay chưa phê chuẩn công ước và kể cả các nước không có biển đều cần tôn trọng và có thể viện dẫn khi cần. Không một điều khoản nào trong công ước loại bỏ các nước không có biển hoặc các nước chưa phê chuẩn Công ước.

Lập luận của Trung Quốc sẽ chỉ có giá trị nếu bản thân Mỹ không tuân theo các quy tắc của UNCLOS. Nhưng mặc dù Quốc hội Mỹ chưa phê chuẩn công ước, nhưng chính phủ Mỹ công nhận UNCLOS là một phần của luật quốc tế và tuân theo công ước đó. Như Gregory B. Poling, nhà nghiên cứu của CSIS Mỹ đã chỉ ra, “đối với mọi công dân Mỹ có liên quan đến các hoạt động hàng hải, cho dù là hải quân, thương mại hay khoa học, UNCLOS thực sự là một đạo luật có hiệu lực”.

Hơn nữa, như một số ý kiến bày tỏ hoài nghi, việc Mỹ phê chuẩn UNCLOS có lẽ sẽ không giúp được gì cho việc xoa dịu căng thẳng Trung-Mỹ trong khu vực. Theo quan điểm của Trung Quốc, Washington vẫn sẽ là đối thủ phản đối những điều có lợi cho Bắc Kinh. Ngay cả khi không có lập luận về việc Mỹ không phê chuẩn công ước, Bắc Kinh sẽ tiếp tục khẳng định rằng Mỹ không có tư cách gì trong các tranh chấp ở Biển Đông bởi vì Washington không phải là một bên tuyên bố chủ quyền.

Trong phát biểu của mình vào ngày 03/9, Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Tạ Phong đã đưa ra 3 lý do giải thích tại sao Mỹ “không có tư cách gì để viện dẫn UNCLOS nhằm buộc tội người khác”. Chúng ta cùng đi phân tích 3 lý do này để thấy rõ lẽ phải.

Thứ nhất, ông Tạ cho biết Mỹ đã từ chối phê chuẩn UNCLOS vì không sẵn lòng chấp nhận một số nghĩa vụ nêu trong công ước, chẳng hạn như chia sẻ tài nguyên dưới đáy biển với các nước đang phát triển. Điều đó đúng một phần, nhưng không liên quan bởi vì một lần nữa, Mỹ vẫn tuân theo các hướng dẫn của UNCLOS áp dụng cho các tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông và theo đó, Washington đã kêu gọi Trung Quốc từ bỏ tham vọng.

Thứ hai, Tạ Phong nói Washington ủng hộ UNCLOS “vì những động cơ ngầm”, cụ thể là sử dụng nó “như một công cụ để bôi nhọ, kiềm chế và đàn áp các quốc gia khác”. Các nhà ngoại giao Trung Quốc thường mô tả chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc là “chính sách ngăn chặn” – cản trở dòng của cải và công nghệ khổng lồ của Mỹ vào Trung Quốc – và gọi mọi lời chỉ trích về các hành vi của Trung Quốc đều là một sự “bôi nhọ”, một biểu hiện của tâm lý nạn nhân mà Trung Quốc vẫn tuyên truyền lâu nay. Cấn phải nhấn mạnh ở đây rằng nếu Trung Quốc tuân thủ UNCLOS, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các nước ven Biển Đông theo UNCLOS thì Mỹ làm gì có “đất diễn”, làm gì có lý do để phê phán, lên án Trung Quốc. Bắc Kinh hãy tự nhìn lại mình trước hết.

Thứ ba, Tạ Phong khẳng định rằng bản thân Mỹ đang vi phạm luật pháp quốc tế “bằng cách sử dụng sức mạnh quân sự của mình để thách thức các tuyên bố của các nước khác”. Lập luận này biến thực tế trở thành điều gây tranh cãi. Các chiến dịch tự do hàng hải của Mỹ là hợp pháp theo quy định của UNCLOS và thách thức các tuyên bố yêu sách của Trung Quốc vốn đi ngược lại những gì UNCLOS cho phép và đã bị Tòa Trọng tài theo Phụ lục VII của UNCLOS bác bỏ trong phán quyết về Biển Đông năm 2016.

Là một văn bản của luật quốc tế về biển, UNCLOS được chấp nhận rộng rãi trên thế giới với 168 quốc gia đã phê chuẩn. UNCLOS có thể có hiệu lực trong việc hạn chế hành vi của Trung Quốc. Tuy nhiên, Bắc Kinh thường phớt lờ Luật biển, điển hình nhất là phán quyết mang tính bước ngoặt về Biển Đông của Tòa Trọng tài năm 2016, theo đó bác bỏ các yêu sách của Trung Quốc. Nhưng Bắc Kinh cũng muốn được công nhận là một chính phủ tuân thủ luật pháp. Do đó, Trung Quốc luôn cao giọng nói rằng họ “tuân thủ công ước một cách nghiêm túc và có trách nhiệm”, nhưng trên thực tế họ lại là “kẻ phá hoại” UNCLOS khi viện dẫn sai lệch, bóp méo các điều khoản của công ước và luôn hành động bất chấp luật pháp quốc tế. Với vai trò điều chỉnh tất cả các hoạt động trên biển, UNCLOS là một điểm tập hợp tự nhiên cho Mỹ, nước muốn duy trì một trật tự khu vực tự do, còn các nước Đông Nam Á thì đang cố gắng duy trì quyền tự chủ của mình. Trên thực tế, Mỹ không có bất cứ hành động hung hăng nào đối với các nước nhỏ ven Biển Đông, còn công khai lên tiếng bảo vệ các quyền lợi chính đáng của các nước này và hỗ trợ họ nâng cao năng lực của các lực lượng quản lý biển. Trong khi đó, Trung Quốc thường xuyên có các hành động gây hấn hung hăng với các nước láng giềng ven Biển Đông vi phạm các quy định của luật pháp quốc tế. Do vậy giới phân tích có cùng chung một nhận định rằng, mặc dù chưa phê chuẩn UNCLOS (do vấn đề thủ tục nội bộ của Mỹ), nhưng Mỹ đang hỗ trợ các nước ven Biển Đông thực thi UNCLOS. Ngược lại, Trung Quốc là thành viên của UNCLOS và luôn cao giọng rằng họ là “thành viên có trách nhiệm của UNCLOS”, song luôn vi phạm các điều khoản của UNCLOS và chà đạp lên luật pháp quốc tế. Phát biểu của ông Tạ Phong chỉ là một sự ngụy biện, “đổi trắng thay đen”, càng thể hiện rõ dã tâm của họ.

]]>
Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ-ASEAN mở ra cơ hội bỏ phiếu phê chuẩn UNCLOS https://biendong.net/2022/05/05/hoi-nghi-thuong-dinh-my-asean-mo-ra-co-hoi-bo-phieu-phe-chuan-unclos/ Thu, 05 May 2022 03:58:49 +0000 https://biendong.net/?p=79287 Dịp Tổng thống Joe Biden và Nhà Trắng chào đón các lãnh đạo Đông Nam Á vào ngày 12 tháng 5 để bắt đầu Hội nghị Thượng đỉnh Mỹ-ASEAN kéo dài hai ngày, đáng chú ý cũng là thời điểm hai bên kỷ niệm 45 năm quan hệ, đồng thời là cơ hội để khẳng định Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Chính quyền Biden cũng như đề ra định hướng tương lai của quan hệ Mỹ – ASEAN.

Nếu một trong những mục tiêu của các nước ASEAN (Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam) trong việc tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh lần này là đảm bảo sự tham gia vào liên kết “hòa bình kiểu Mỹ” Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương hoặc “trật tự quốc tế dựa trên luật lệ” để kiềm chế sức mạnh gia tăng của Trung Quốc ở Biển Đông, thì còn thời điểm nào tốt hơn để Mỹ tham gia Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS).

Hội nghị thượng đỉnh Mỹ – ASEAN diễn ra vào ngày 12/5 tới đây

Nếu một trong những mục tiêu của các nước ASEAN (Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam) trong việc tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh lần này là đảm bảo sự tham gia vào liên kết “hòa bình kiểu Mỹ” Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương hoặc “trật tự quốc tế dựa trên luật lệ” để kiềm chế sức mạnh gia tăng của Trung Quốc ở Biển Đông, thì còn thời điểm nào tốt hơn để Mỹ tham gia Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS).

Trong bối cảnh Washington đang điều chỉnh lại chính sách đối ngoại với NATO nhằm đối phó với xung đột Nga – Ukraine, Chính quyền và các lợi ích của Quốc hội Mỹ cũng có thể đạt được lợi ích bằng cách bỏ phiếu phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS), công cụ pháp lý được thừa nhận để xử lý các vấn đề liên quan đến chủ quyền, lãnh hải, các quyền và nghĩa vụ của một quốc gia có biển.

Trong lúc Hội nghị Thượng đỉnh lần này nhằm khẳng định vai trò của Mỹ tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, qua đó củng cố cam kết tuân thủ luật pháp quốc tế, việc phê chuẩn Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển sẽ thuyết phục các thành viên ASEAN rằng Mỹ không còn chỉ đưa ra những lời hứa suông và hùng biện địa chính trị.

Những hoạt động gây hấn và quân sự hóa các tiền đồn ở Biển Đông của Trung Quốc không chỉ làm nổi bật sự cần thiết của việc Thượng viện Mỹ phê chuẩn UNCLOS. Hai tháng trước, Hạ viện Mỹ đã thông qua Đạo luật Cạnh tranh Mỹ năm 2022 nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh kinh tế của Mỹ với Trung Quốc. Dự luật bao gồm một điều khoản sửa đổi trong phần “Đánh giá của Quốc hội”, trong đó quy định rằng việc chính thức phê chuẩn UNCLOS là tốt nhất cho lợi ích quốc gia.

Hiệp ước Luật Biển trước đây được gọi là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển lần thứ ba được thông qua vào năm 1982. Một trăm sáu mươi hai quốc gia, bao gồm cả Trung Quốc và Nga, là các bên ký kết hiệp ước quản lý các đại dương trên thế giới. Mỹ thì không.
Ngay cả khi nhận được sự nhất trí trước đó của các Tổng thống Mỹ như Bill Clinton, George W. Bush và Barack Obama, dự luật cũng không thể được thúc đẩy thông qua.

Thật không may, một số nhà quan sát chính sách của Washington không cho rằng nghị quyết gần đây của Hạ viện Mỹ sẽ tác động đáng kể đến việc thông qua UNCLOS.

Theo Gregory Poling, thành viên cấp cao về Đông Nam Á và Giám đốc Tổ chức Minh bạch Hàng hải Châu Á thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế ở Washington, DC, “Chính quyền Biden tỏ ra không quan tâm đến việc xem xét lại Công ước, và ngay cả khi họ làm vậy, việc tham gia UNCLOS cũng sẽ thất bại. Lần cuối cùng Mỹ cố gắng xem xét Công ước là vào năm 2012 khi John Kerry giữ chức Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Thượng viện và đảng Dân chủ chiếm đa số 53 ghế.

Tuy nhiên, ngày càng có nhiều người ủng hộ lập luận rằng thỏa thuận này sẽ giúp Mỹ có thêm công cụ trong việc gây áp lực buộc các quốc gia khác phải làm điều tương tự. Hải quân và Cảnh sát biển Mỹ đã phần lớn tuân theo các quy tắc hàng hải mà Công ước đề ra.

Đã đến lúc gạt chính trị đảng phái sang một bên và tập trung vào lợi ích quốc gia. Trong khi Hạm đội 7 của Hải quân Mỹ tiếp tục củng cố quyền tự do trong các điểm nóng ở Biển Đông, Công ước chính thức xác định giới hạn lãnh hải của một quốc gia, thiết lập các quy tắc rõ ràng cho việc đi lại qua “eo biển quốc tế” và “vùng đặc quyền kinh tế (EEZ)”.

Với việc phê chuẩn UNCLOS, Mỹ sẽ có tư cách pháp lý để đưa bất kỳ khiếu nại nào lên cơ quan giải quyết tranh chấp quốc tế và do đó tránh được sự đối đầu có thể xảy ra với lực lượng hải quân và tàu đánh cá bán quân sự của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa.

Các nước ASEAN có tranh chấp với Trung Quốc ngày càng quan ngại, lên tiếng mạnh mẽ hơn trước các động thái gây hấn của Trung Quốc. Trong số đó, Việt Nam, Chủ tịch ASEAN 2020 và đối tác toàn diện của Mỹ, là một trong những nước chỉ trích mạnh mẽ nhất các hành động quyết đoán của Trung Quốc ở Biển Đông, sớm ủng hộ UNCLOS như một công cụ quan trọng để duy trì hòa bình, an ninh, tự do hàng hải và hàng không tại vùng biển “điểm nóng”.

Philippines, đồng minh chiến lược của Mỹ và Malaysia, đối tác quan trọng của Mỹ trong ASEAN, cũng có nhiều động thái cứng rắn để bảo vệ chủ quyền trước sự bắt nạt của Trung Quốc. Philippines, Malaysia và Việt Nam ngày càng mất kiên nhẫn hơn khi chờ đợi Quốc hội Mỹ phê chuẩn tham gia UNCLOS nhằm giải quyết và quản lý hiệu quả các hành động gây hấn hiện nay của Trung Quốc, qua đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp ở vùng biển tranh chấp.
Ngày càng có sự đồng thuận giữa các lãnh đạo từ Tham mưu trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ, các giám đốc điều hành Phòng Thương mại Mỹ, ngành dầu khí, các chuyên gia về chính sách đại dương và các nhóm môi trường để thông qua Công ước tại Thượng viện.

Mỹ sẽ tham gia Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS)?

Hiện tại, Mỹ công nhận hầu hết các nội dung của UNCLOS như cơ sở của tập quán quốc tế, đây là yếu tố quan trọng hơn nhiều so với việc phê chuẩn và là một điều khiến Mỹ nhận được nhiều ý kiến chỉ trích từ Trung Quốc – nước đã tham gia Công ước. Đối với nhiều nhà lãnh đạo ASEAN, việc Mỹ không tham gia Công ước sẽ làm suy yếu các cam kết của Mỹ ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Các hoạt động của Mỹ như tự do hàng hải, chống đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không được kiểm soát (IUFF) sẽ bị suy yếu nếu Mỹ không tham gia UNCLOS.

Chính sách đối ngoại Mỹ nhấn mạnh vai trò của chủ nghĩa đa phương và bác bỏ chủ trương của TQ đàm phán song phương với các quốc gia Đông Nam Á trong xử lý vấn đề Biển Đông. Chắc chắn, Mỹ sẽ mất đi tính chính danh nếu không phê chuẩn được cơ chế toàn diện nhất để giải quyết các tranh chấp hàng hải đa phương.

Hơn nữa, Công ước cung cấp cơ chế thúc đẩy hợp tác với các quốc gia khác, bởi hầu hết tất cả các đồng minh, láng giềng và bạn bè của Mỹ đều là thành viên của Công ước. Câu thần chú chính trị rất rõ ràng và đơn giản: Mỹ yêu cầu quyền tự do tối đa cho cả tàu hải quân và tàu thương mại để di chuyển và hoạt động ngoài khơi bờ biển nước ngoài mà không bị can thiệp.

Với sự chấp thuận của Quốc hội, Mỹ có thể tự tin đảm bảo quyền tự do hàng hải và quyền tiếp cận toàn cầu cho tàu quân sự và thương mại, máy bay và cáp quang biển. Mỹ hiện khẳng định các quyền đối với tự do hàng hải thông qua luật pháp quốc tế, những điều có thể thay đổi và thông qua diễn giải ngoại giao.

Hiện tại, Mỹ công nhận hầu hết các nội dung của UNCLOS như cơ sở của tập quán quốc tế, đây là yếu tố quan trọng hơn nhiều so với việc phê chuẩn và là một điều khiến Mỹ nhận được nhiều ý kiến chỉ trích từ Trung Quốc – nước đã tham gia Công ước. Đối với nhiều nhà lãnh đạo ASEAN, việc Mỹ không tham gia Công ước sẽ làm suy yếu các cam kết của Mỹ ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Các hoạt động của Mỹ như tự do hàng hải, chống đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không được kiểm soát (IUFF) sẽ bị suy yếu nếu Mỹ không tham gia UNCLOS.

Chính sách đối ngoại Mỹ nhấn mạnh vai trò của chủ nghĩa đa phương và bác bỏ chủ trương của TQ đàm phán song phương với các quốc gia Đông Nam Á trong xử lý vấn đề Biển Đông. Chắc chắn, Mỹ sẽ mất đi tính chính danh nếu không phê chuẩn được cơ chế toàn diện nhất để giải quyết các tranh chấp hàng hải đa phương.

Hơn nữa, Công ước cung cấp cơ chế thúc đẩy hợp tác với các quốc gia khác, bởi hầu hết tất cả các đồng minh, láng giềng và bạn bè của Mỹ đều là thành viên của Công ước. Câu thần chú chính trị rất rõ ràng và đơn giản: Mỹ yêu cầu quyền tự do tối đa cho cả tàu hải quân và tàu thương mại để di chuyển và hoạt động ngoài khơi bờ biển nước ngoài mà không bị can thiệp.

Với sự chấp thuận của Quốc hội, Mỹ có thể tự tin đảm bảo quyền tự do hàng hải và quyền tiếp cận toàn cầu cho tàu quân sự và thương mại, máy bay và cáp quang biển. Mỹ hiện khẳng định các quyền đối với tự do hàng hải thông qua luật pháp quốc tế, những điều có thể thay đổi và thông qua diễn giải ngoại giao.

Việc phê chuẩn UNCLOS sẽ cho phép Mỹ lấy lại vị trí chiến lược đúng đắn của mình ở Thái Bình Dương và biến những lời hùng biện thành hành động.

Giống như cái cách mà thế giới theo dõi, chờ đợi xem hành động và lời nói của Mỹ như thế nào để giúp Ukraine, thì Mỹ cũng cần đưa ra quyết định táo bạo khi phê chuẩn UNCLOS để thể hiện cam kết làm sâu sắc hơn quan hệ đối tác với các nước Đông Nam Á.

Việc phê chuẩn UNCLOS sẽ cho phép Mỹ lấy lại vị trí chiến lược đúng đắn của mình ở Thái Bình Dương và biến những lời hùng biện thành hành động.

Giống như cái cách mà thế giới theo dõi, chờ đợi xem hành động và lời nói của Mỹ như thế nào để giúp Ukraine, thì Mỹ cũng cần đưa ra quyết định táo bạo khi phê chuẩn UNCLOS để thể hiện cam kết làm sâu sắc hơn quan hệ đối tác với các nước Đông Nam Á.

]]>
Anh – Úc ra tuyên bố chung có nhấn mạnh về Biển Đông https://biendong.net/2022/01/23/anh-uc-ra-tuyen-bo-chung-co-nhan-manh-ve-bien-dong/ Sun, 23 Jan 2022 10:30:00 +0000 https://biendong.net/?p=73433 Các quan chức Anh – Úc lặp lại sự phản đối mạnh mẽ đối với những hành động gây căng thẳng, gồm việc quân sự hóa ở khu vực tranh chấp, sử dụng lực lượng hải cảnh và dân quân biển một cách nguy hiểm tại Biển Đông.

Tàu sân bay HMS Queen Elizabeth (bìa phải) và tàu chiến của Anh, Hà Lan tại Biển Đông hồi tháng 7.2021.

Ngoại trưởng và bộ trưởng quốc phòng hai nước Anh và Úc ngày 21.1 đã có cuộc tham vấn cấp bộ trưởng thường niên.

Theo tuyên bố chung được đăng trên website Ngoại trưởng Úc Marise Payne, các bộ trưởng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực thi quyền và tự do hàng hải của các nước tại Biển Đông, phù hợp với Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982.

Các quan chức lặp lại sự phản đối mạnh mẽ đối với những hành động gây căng thẳng, gồm việc quân sự hóa ở các khu vực tranh chấp, sử dụng lực lượng hải cảnh và dân quân biển một cách nguy hiểm và những nỗ lực cản trở các nước khác sử dụng tài nguyên biển.

Các quan chức tuyên bố phán quyết về Biển Đông năm 2016 của Tòa trọng tài là không thay đổi và ràng buộc với các bên. Các quan chức nhấn mạnh bất kỳ Bộ Quy tắc ứng xử nào cũng phải phù hợp với luật quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982, không được phương hại đến quyền hoặc lợi ích của các nước theo luật quốc tế hoặc gây ảnh hưởng cấu trúc khu vực.

Ngoài ra, những yêu sách biển và việc thực hiện luật trong nước, gồm luật hải cảnh và luật an toàn giao thông hàng hải của Trung Quốc, phải phù hợp với UNCLOS 1982.

Các quan chức tái khẳng định cam kết sẽ làm việc cùng nhau để đối phó những mối đe dọa ngày càng gia tăng đối với an ninh và ổn định, gồm tại khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific).

Quan chức hai nước tuyên bố ủng hộ một khu vực Indo-Pacific tự do, bao quát và có khả năng phục hồi, trong đó quyền chủ quyền của mọi quốc gia đều được tôn trọng. Các bộ trưởng cam kết sẽ làm việc với đối tác để định hình khu vực dựa trên quy tắc và luật lệ, không chịu sự cưỡng ép, nơi các tranh chấp được giải quyết hòa bình và tuân theo luật pháp quốc tế.

Ngoài ra, các quan chức Anh và Úc còn bàn bạc về nhiều vấn đề khác như an ninh, Covid-19, thương mại, hạ tầng, khí hậu…

T.P

]]>