Việt Nam – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Fri, 31 Oct 2025 03:10:14 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 Kỷ niệm ngày Quốc khánh, nghĩ về kế sách bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc từ sớm, từ xa https://biendong.net/2025/09/02/ky-niem-ngay-quoc-khanh-nghi-ve-ke-sach-bao-ve-chu-quyen-bien-dao-cua-to-quoc-tu-som-tu-xa/ Tue, 02 Sep 2025 03:05:04 +0000 https://biendong.net/?p=158979 Trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa đã được các thế hệ tiền nhân áp dụng hiệu quả thông qua những biện pháp bang giao hòa hiếu, giữ gìn quan hệ hữu nghị với các nước láng giềng, đồng thời chú trọng củng cố quốc phòng, xây dựng quân đội vững mạnh. Khoan thư sức dân làm kế sâu rễ, bền gốc”, “lo giữ nước từ lúc nước chưa nguy”, v.v… đấy chính là nội hàm của chiến lược “quốc phú binh cường, nội yếu ngoại tĩnh” giúp tạo nên nền tảng cho sự trường tồn của đất nước.

Bước sang thời đại Hồ Chí Minh, các chiến lược này tiếp tục được kế thừa, phát huy, phát triển phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tế như lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh: “Bất kỳ hòa bình hoặc chiến tranh, ta cũng phải nắm vững, chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước”. Ngày nay, trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta đã kế thừa, sáng tạo, vận dụng linh hoạt di sản của cha ông, đưa lên thành chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa nói chung, cũng như bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng nói riêng, với nội dung ngày càng đa dạng và toàn diện.

Nội hàm cơ bản về chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa của Đảng ta

Chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa được xác định rõ trong Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, đó là: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”. Chính sách quốc phòng “bốn không” trong Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 đã thể hiện rất rõ tư tưởng trên.

Như vậy có thể hiểu, thời gian để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa là phải có sự chuẩn bị, chủ động từ thời bình, từ lúc nước chưa nguy; không gian để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa không chỉ là bên trong lãnh thổ, mà còn từ bên ngoài lãnh thổ. Mấu chốt của thượng sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa là ngăn chặn xung đột, hóa giải và không để chiến tranh nổ ra; giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế.

Trên nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa đã được Đảng ta phát triển lên một tầm cao mới, với những nội hàm chủ yếu sau đây: 1/ Chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy là tư tưởng nhất quán, xuyên suốt của Đảng, là định hướng chiến lược, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới. 2/ Xác định bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa là sự nghiệp của toàn dân, trong đó lực lượng Quân đội, Công an là nòng cốt, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước. 3/ Tích cực, chủ động nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược; giữ vững thế chủ động chiến lược; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. 4/ Phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển, nâng cao thế, lực, uy tín của đất nước.5/ Thường xuyên chăm lo xây dựng đất nước vững mạnh về mọi mặt, tạo nền tảng vật chất, tinh thần để chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. 

Kiến nghị một số giải pháp cơ bản trong chiến lược bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc từ sớm, từ xa

Bảo vệ Tổ quốc trước hết là bảo vệ chủ quyền của dân tộc và lãnh thổ của đất nước. Biển, đảo là một phần lãnh thổ thiêng liêng, bất khả xâm phạm của Tổ quốc, là kết quả của quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của dân tộc ta. Do đó, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa không chỉ bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ trên đất liền, trên không, mà còn có cả bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ biển, đảo của Tổ quốc; là bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc. Đây là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước; là sự kết hợp chặt chẽ, toàn diện giữa quốc phòng, an ninh, kinh tế, chính trị, ngoại giao, pháp lý, lịch sử và xã hội, nhằm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Để thực hiện chiến lược này, chúng ta đã và cần tiếp tục quán triệt, thực hiện tốt các nội dung kế sách sau:

Thứ nhất, nâng cao hơn nữa nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc

Mục tiêu sâu sắc của hoạt động này là đảm bảo toàn thể cán bộ các cấp và nhân dân đều nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của biển, đảo không chỉ dưới góc độ lãnh thổ mà còn như một không gian sinh tồn và phát triển của dân tộc trong tương lai. Khi mọi công dân đều có chung hiểu biết và nhận thức, xã hội sẽ hình thành sự đồng thuận mạnh mẽ đối với các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo vệ chủ quyền tại Biển Đông. Nói cách khác, điều này góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc – nền tảng cho sức mạnh quốc gia nói chung và cho sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo nói riêng. Hơn thế, đây cũng là việc làm để đấu tranh, phản bác, làm thất bại mọi âm mưu, ý đồ xuyên tạc, gây chia rẽ nội bộ trong vấn đề Biển Đông của các thế lực thù địch. Phương thức để triển khai là thông qua chương trình giáo dục trong nhà trường với các hình thức đa dạng, sinh động; thông qua các phương tiện truyền thông, đặc biệt là mạng xã hội để lan tỏa thông tin chính thống, các câu chuyện truyền cảm hứng về những người đang ngày đêm bám biển, giữ đảo, các bài viết chính luận sắc sảo, lập luận chặt chẽ trong đấu tranh, phản biện và bảo vệ chủ quyền hợp pháp của đất nước; xây dựng các sản phẩm truyền thông hiện đại, như phim tài liệu, phóng sự, video ngắn… để tiếp cận các tầng lớp nhân dân, nhất là giới trẻ. Phát huy vai trò của văn hóa, nghệ thuật nhằm nuôi dưỡng tình yêu và niềm tự hào dân tộc về chủ quyền biển, đảo một cách tự nhiên và sâu sắc.

Thứ hai, phát triển nhanh, mạnh và bền vững kinh tế biển

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định tài nguyên đất nước qua hình ảnh “rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu”. Câu nói hàm súc này nhấn mạnh vị thế của biển như một thành tố cốt lõi của tài nguyên quốc gia, một không gian sinh tồn và là nguồn lực trọng yếu cho sự phát triển của đất nước. Trong bối cảnh hiện nay, việc phát triển kinh tế biển một cách nhanh, mạnh và bền vững không chỉ mang ý nghĩa kinh tế đơn thuần mà còn là một kế sách bảo vệ chủ quyền sâu sắc và toàn diện.

 Trước hết, phát triển kinh tế biển nhằm tạo dựng sự hiện diện dân sự thường xuyên, liên tục trên các vùng biển, đảo của Tổ quốc, qua đó khẳng định chủ quyền một cách hòa bình và hữu hiệu. Chúng ta khẳng định chủ quyền dựa trên cơ sở phù hợp với luật pháp quốc tế và có quyền triển khai mọi hoạt động kinh tế hợp pháp trong các vùng biển của mình. Sự có mặt của ngư dân bám biển, các hoạt động du lịch, nghiên cứu khoa học hay khai thác dầu khí trên các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam là những bằng chứng sống động, không thể chối cãi về việc chúng ta thực thi quyền làm chủ của mình phù hợp luật pháp quốc tế. Đây cũng là lời khẳng định đanh thép, bác bỏ luận điệu phi lý của một bộ phận mang tư tưởng bành trướng cực đoan tại Trung Quốc cho rằng hoạt động kinh tế của Trung Quốc tới đâu, chủ quyền của họ vươn tới đó, trong khi thực chất lại vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế và chủ quyền hợp pháp của các nước khác.

Hơn thế nữa, khi kinh tế biển phát triển, đời sống người dân ấm no, các doanh nghiệp thịnh vượng, chính họ sẽ trở thành những người bảo vệ chủ quyền biển đảo tích cực và kiên quyết nhất. Sự gắn kết hữu cơ giữa lợi ích kinh tế với chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc sẽ biến mỗi người dân, mỗi doanh nghiệp thành những “cột mốc chủ quyền” kiên cường, góp phần tạo nên thế trận lòng dân vững chắc trên biển

Bên cạnh đó, cần nhận thức sâu sắc mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng, an ninh trên biển. Một nền kinh tế biển vững mạnh sẽ tạo ra nguồn lực vật chất dồi dào để hiện đại hóa lực lượng vũ trang, tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ vững chắc biển, đảo. Ngược lại, một nền quốc phòng, an ninh vững mạnh sẽ là lá chắn tin cậy, bảo đảm môi trường hòa bình, an toàn cho các hoạt động kinh tế biển diễn ra thuận lợi và bền vững. Có thể khẳng định, phát triển kinh tế biển là một “biện pháp mềm” nhưng đóng vai trò then chốt trong chiến lược bảo vệ chủ quyền biển, đảo từ sớm, từ xa. Đây không chỉ là nền tảng vật chất để gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia mà còn là phương thức hữu hiệu để khẳng định và thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên Biển Đông.

Thứ ba, xây dựng quân đội nhân dân, đặc biệt là lực lượng hải quân, cảnh sát biển ngày càng hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ chủ quyền biển, đảo từ sớm, từ xa

Chúng ta chủ trương xây dựng sức mạnh quân sự, quốc phòng không phải để gây chiến, xâm lược bất cứ ai, mà là để ngăn chặn ý đồ gây chiến, xâm lược của đối phương. Nếu ta có một lực lượng hải quân, không quân, cảnh sát biển đủ mạnh thì sẽ làm cho bất kỳ thế lực nào cũng phải cân nhắc kỹ trước khi có hành động phiêu lưu trên biển. Mặt khác, khi lực lượng hải quân, cảnh sát biển vững mạnh thì mới đủ khả năng tuần tra, kiểm soát, duy trì an ninh, an toàn hàng hải, cứu hộ cứu nạn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trên các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam. Hơn nữa, trước tình hình an ninh Biển Đông ngày càng có nhiều diễn biến phức tạp, căng thẳng, trong tình huống xấu nhất, khi các biện pháp hòa bình không còn hiệu quả, lực lượng vũ trang phải đủ sức mạnh để chiến đấu và chiến thắng, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ. Vì thế, để đạt được những yêu cầu trên, có rất nhiều việc phải làm, trong đó cần tập trung hiện đại hóa đồng bộ sức mạnh quân sự, quốc phòng cả trên biển, trên không lẫn trên bờ; làm chủ vũ khí, trang bị và công nghệ; xây dựng lực lượng dân quân biển trở thành những “cánh tay nối dài” để họ phối hợp hiệu quả với các lực lượng chính quy trong việc tuần tra, phát hiện mục tiêu, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Thứ tư, đấu tranh trên mặt trận pháp lý, ngoại giao, coi đây là “mũi nhọn” trong thời bình

Đây là kế sách đấu tranh thông minh, hiệu quả, tận dụng sức mạnh của công lý, lẽ phải và luật pháp quốc tế cũng như sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc. Mục tiêu cốt lõi của kế sách này là bảo vệ công lý, chính nghĩa và luật pháp quốc tế, giúp thế giới hiểu rằng, chủ quyền và mọi hành động thực thi các quyền và lợi ích của Việt Nam trên Biển Đông là hoàn toàn tuân thủ và dựa trên cơ sở vững chắc của luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982. Từ đó, có thể tranh thủ sự ủng hộ của các nước, các tổ chức quốc tế, các học giả có uy tín trên thế giới để tạo thành một mặt trận rộng rãi ủng hộ lập trường của Việt Nam, bác bỏ các yêu sách và hành động phi pháp. Hơn nữa, thông qua đối thoại, đàm phán và các cơ chế hợp tác để tìm kiếm giải pháp hòa bình cho các tranh chấp, đồng thời quản lý các bất đồng để không leo thang thành xung đột vũ trang.

Để triển khai hiệu quả các giải pháp liên quan, cần mở rộng và đa dạng hóa các hoạt động ngoại giao với các quốc gia liên quan, nhằm duy trì đối thoại, xây dựng sự tin tưởng và xử lý các vấn đề phát sinh. Chủ động đưa vấn đề Biển Đông vào chương trình nghị sự của nhiều diễn đàn khu vực và quốc tế như Liên hợp quốc, ASEAN, ARF, EAS… góp phần thúc đẩy quốc tế hóa vấn đề, tìm kiếm sự đồng thuận và các giải pháp dựa trên luật pháp. Việc hình thành đội ngũ chuyên gia am hiểu về pháp lý, lịch sử, luật biển, đại dương và quan hệ quốc tế cũng đóng vai trò cần thiết để tham gia tranh luận, hội thảo quốc tế, bảo vệ quan điểm của Việt Nam, đồng thời có thể đảm nhận vai trò trọng tài hay thẩm phán tại các tòa án quốc tế về Luật Biển. Những nỗ lực này giúp tăng cường khả năng bảo vệ quyền lợi biển của Việt Nam.

Thứ năm, tăng cường nghiên cứu và ứng dụng khoc học – công nghệ, coi đây là “mắt thần” và “đòn bẩy” để bảo vệ chủ quyền biển, đảo từ sớm, từ xa

Khoa học – công nghệ là yếu tố gia tăng sức mạnh theo cấp số nhân, giúp chúng ta “biết mình, biết người” và làm chủ không gian biển một cách hiệu quả. Có khoa học – công nghệ thì mới có thể giúp chúng ta nâng cao khả năng nhận thức biển, bao gồm cả trên mặt nước, dưới lòng biển và trên không trong thời gian thực, từ đó đưa ra quyết sách kịp thời, chính xác; hiểu rõ về tài nguyên, hệ sinh thái biển để có thể khai thác hiệu quả mà không hủy hoại môi trường, đảm bảo sự phát triển lâu dài; giúp các ngành kinh tế biển của Việt Nam có sức cạnh tranh cao hơn, đồng thời tạo ra các phương thức bảo vệ chủ quyền mới, hiệu quả hơn.

Để triển khai nội dung kế sách này, cần tập trung vào ba vấn đề chính bao gồm: 1/ Đẩy mạnh đầu tư cho các chương trình điều tra, khảo sát cơ bản về hải dương học, địa chất biển và đa dạng sinh học. Những dữ liệu thu thập được từ các hoạt động này nên được xem là nguồn thông tin quan trọng ở cấp quốc gia. 2/ Xây dựng một hệ thống giám sát biển đa lớp, tích hợp thông tin từ vệ tinh, radar bờ, hệ thống nhận dạng tự động (AIS), máy bay không người lái (UAV) và các thiết bị ngầm (UUV). 3/ Nghiên cứu và ứng dụng các công nghệ năng lượng tái tạo như điện gió ngoài khơi, công nghệ nuôi trồng và chế biến thủy sản tiên tiến, công nghệ xử lý môi trường biển… Những giải pháp được đề cập trên đây nhấn mạnh rằng, bảo vệ chủ quyền biển đảo của đất nước từ sớm và từ xa là một quá trình đòi hỏi sự huy động tổng thể mọi nguồn lực quốc gia, trong đó bao gồm các lực lượng kinh tế, quốc phòng, ngoại giao, khoa học – công nghệ, lịch sử, xã hội… Sự phối hợp hiệu quả, nhịp nhàng giữa các lực lượng này giữ vai trò quyết định trong việc tạo ra sức mạnh tổng hợp vững chắc. Việc quán triệt, thực hiện tốt và thường xuyên cập nhật các nội dung, chiến lược bảo vệ chủ quyền biển, đảo từ sớm, từ xa chính là hiện thực hóa mục tiêu bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong thời bình, tránh xung đột, chiến tranh; là biện pháp tối ưu bảo đảm an ninh cho Tổ quốc. Hiệu quả của những giải pháp này không chỉ giúp giữ vững toàn vẹn lãnh thổ, mà còn tạo nền tảng cho sự phát triển thịnh vượng, bền vững từ nguồn lực biển, đảo cho Việt Nam trong thế kỷ 21.

]]>
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và bài học vận dụng cho sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc https://biendong.net/2025/09/02/cach-mang-thang-tam-nam-1945-va-bai-hoc-van-dung-cho-su-nghiep-bao-ve-chu-quyen-bien-dao-cua-to-quoc/ Tue, 02 Sep 2025 01:56:00 +0000 https://biendong.net/?p=158976 Cách đây 80 năm về trước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cả dân tộc Việt Nam đã cùng đứng lên, tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, làm nên thắng lợi “long trời, lở đất” trong cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, lập nên một nhà nước của dân, do dân và vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng; đưa dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Năm tháng đã trôi qua, nhưng ý nghĩa lịch sử và những bài học kinh nghiệm của cuộc cách mạng này vẫn vẹn nguyên giá trị, nhất là đối với công cuộc bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc hiện nay, cũng như trong tương lai.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 có ý nghĩa lịch sử to lớn, để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước

Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một sự kiện trọng đại, có ý nghĩa lịch sử to lớn đối với dân tộc Việt Nam và phong trào cách mạng thế giới. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một minh chứng hùng hồn cho sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, khi toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, dân tộc, đã đồng lòng đứng lên dưới ngọn cờ của Việt Minh để giành lại quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc. Đối với thế giới, thắng lợi của cuộc cách mạng trên là một đòn giáng mạnh vào hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc ở các nước Á, Phi, Mỹ – Latinh. Nó đã chứng tỏ rằng, trong điều kiện quốc tế thuận lợi, các dân tộc bị áp bức hoàn toàn có khả năng tự giải phóng mình.

Cùng với ý nghĩa lịch sử lớn lao trên, Cách mạng tháng Tám năm 1945 còn để lại cho Đảng ta, dân tộc ta nhiều bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Trước hết, đó là bài học về nắm bắt thời cơ. Một trong những yếu tố then chốt dẫn đến thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 là việc Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã theo dõi, đánh giá và nhận định đúng tình hình, chớp lấy thời cơ “ngàn năm có một”, khi phát xít Nhật đầu hàng quân đồng minh, tạo ra khoảng trống quyền lực trên đất nước ta, để huy động toàn dân cướp lấy chính quyền. Sự nhạy bén, quyết đoán trong việc phát động tổng khởi nghĩa đúng thời điểm đã giúp cách mạng giành thắng lợi nhanh chóng, triệt để và ít đổ máu. Đây là bài học kinh nghiệm quý báu đối với Đảng ta trong việc theo dõi, nắm bắt, phân tích, đánh giá tình hình một cách chính xác, khoa học để đưa ra quyết sách kịp thời, không bỏ lỡ thời cơ chiến lược trong quá trình lãnh đạo cách mạng.

Thứ hai, bài học về sự lãnh đạo của Đảng. Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 không thể tách rời vai trò lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ra đời từ năm 1930, ngay từ đầu Đảng đã đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam, biết tập hợp và phát huy sức mạnh của toàn dân tộc. Dù còn non trẻ, Đảng đã tận dụng thời cơ, phát động quần chúng, nhận được sự ủng hộ rộng rãi và giành chính quyền về cho nhân dân. Bài học này không chỉ có tác dụng riêng đối với thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, mà còn trở thành một vấn đề có tính quy luật, đó là sự lãnh đạo của Đảng luôn luôn là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Thứ ba, bài học về xây dựng lực lượng cách mạng. Có đường lối đúng là yếu tố đầu tiên trong phương thức lãnh đạo cách mạng của Đảng. Nhưng để biến đường lối đó thành hiện thực thì phải có lực lượng thực hiện. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công vang dội là nhờ có sự chuẩn bị chu đáo về lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang ngay từ khi Đảng ra đời. Theo đó, Đảng đã xây dựng được một đội ngũ cán bộ trung kiên, có năng lực hoạt động cách mạng, đồng thời phát triển các tổ chức quần chúng rộng khắp, tạo nên một lực lượng chính trị hùng hậu. Cùng với đó, các đội quân vũ trang như Việt Nam Giải phóng quân, Cứu quốc quân đã được xây dựng và phát triển, đóng vai trò nòng cốt trong các cuộc khởi nghĩa từng phần và tiến tới tổng khởi nghĩa. Bài học này cho thấy, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay cũng như trong tương lai, cần phải chú trọng xây dựng lực lượng toàn diện, cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, cả về lực lượng quần chúng và lực lượng vũ trang.

Thứ tư, bài học về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và Đảng ta luôn coi trọng và ra sức chăm lo xây dựng sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong cuộc cách mạng, Đảng đã thông qua Mặt trận Việt Minh tiến hành tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, giai cấp, thống nhất cùng chung một ý chí, giành độc lập, tự do. Sức mạnh của khối đại đoàn kết trên đã tạo nên một lực lượng vô cùng to lớn, đánh đổ ách thống trị của kẻ thù.

Thứ năm, bài học về kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang. Trong quá trình chuẩn bị và tiến hành cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng ta đã linh hoạt kết hợp các hình thức đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, từ khởi nghĩa từng phần đến tổng khởi nghĩa. Sự kết hợp nhuần nhuyễn này đã tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn và bất ngờ, làm cho kẻ thù không kịp trở tay chống đỡ. Bài học này cho thấy, quá trình lãnh đạo xây dựng và bảo vệ đất nước, Đảng phải biết vận dụng linh hoạt các hình thức đấu tranh, phù hợp với từng giai đoạn và điều kiện cụ thể của cách mạng.

Thứ sáu, bài học về giành và giữ chính quyền. Như V.I.Lênin đã dạy: “Chính quyền là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng” và chính ông cũng cho rằng “Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn”. Nhưng cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 không chỉ thành công trong việc giành chính quyền, mà còn thành công cả trong việc giữ vững chính quyền non trẻ trước sự chống phá điên cuồng của các đảng phái, các thế lực thù địch lúc bấy giờ. Đó là do trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã có sự kiên cường, mưu trí, sáng tạo và đoàn kết trong toàn Đảng và toàn dân tộc; đã nhanh chóng và khẩn trương xây dựng một chính quyền từ trung ương tới cơ sở thực sự là của dân, do dân và vì dân, được nhân dân ủng hộ tuyệt đối.

Vận dụng những bài học kinh nghiệm quý báu của Cách mạng tháng Tám năm 1945 vào công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc

Việt Nam là quốc gia ven biển, với bờ biển dài khoảng 3.260km, trải dài từ Bắc đến Nam. Được xác lập phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982), nước ta có diện tích biển hơn 1 triệu km2, gấp ba lần diện tích đất liền. Trên vùng biển, đảo đó có hơn 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, hình thành nên những tuyến, lớp đảo từ xa đến gần, có vị trí đặc biệt quan trọng về quốc phòng – an ninh, là tuyến phòng thủ tiền tiêu để bảo vệ đất nước từ hướng biển. Tuyến phòng thủ đó, kết hợp với các tuyến phòng thủ trên đất liền khác, hình thành thế trận hiểm hóc, làm tăng chiều sâu thế trận quốc phòng toàn diện của đất nước.

 Một số đảo ven bờ có vị trí thiết yếu được sử dụng làm các điểm cơ sở để vạch đường cơ sở quốc gia. Đường cơ sở này là căn cứ pháp lý để xác định phạm vi các vùng biển, bao gồm nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, qua đó xác lập không gian thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên biển theo UNCLOS 1982.

Bên cạnh đó, do nằm trên Biển Đông – tuyến đường hàng hải huyết mạch của khu vực và thế giới, biển, đảo Việt Nam còn có vị trí địa lý và giá trị kinh tế quan trọng. Sự hình thành mạng lưới cảng biển cùng các tuyến đường bộ, đường sắt dọc ven biển và nối với các vùng sâu trong nội địa, kể cả với các nước láng giềng phía sau, cho phép vùng biển và ven biển nước ta có khả năng chuyên chở hàng hóa xuất, nhập khẩu một cách nhanh chóng, thuận lợi. Đáng kể nhất, biển, đảo Việt Nam có tiềm năng tài nguyên rất phong phú, nhất là dầu mỏ, khí đốt. Dọc theo bờ biển nước ta có nhiều bãi triều, eo vịnh, đầm phá rất thuận lợi cho du lịch biển, đảo và nuôi, trồng thủy, hải sản có giá trị; thuận lợi cho xây dựng cảng biển, trong đó một số nơi có khả năng xây dựng cảng nước sâu quy mô lớn.

Có thể khẳng định, biển, đảo Việt Nam có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Đây không chỉ là bộ phận cấu thành nên chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán thiêng liêng của Tổ quốc, mà còn là không gian sinh tồn và phát triển của các thế hệ người Việt Nam, đồng thời là nơi lưu giữ và phát triển các giá trị văn hóa biển Việt Nam.

Tuy nhiên, tình hình Biển Đông hiện nay đang diễn biến phức tạp, với các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ và tranh chấp biển phức tạp; các hoạt động vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam liên tục diễn ra, đặt ra những thách thức rất lớn cho an ninh – quốc phòng và phát triển kinh tế Việt Nam. Để bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc, đòi hỏi phải vận dụng và phát huy hơn nữa giá trị lịch sử và những bài học kinh nghiệm vô cùng quý báu của Cách mạng tháng Tám năm 1945. Trong số những bài học đó, nên tập trung vào một số nội dung sau:

Một là, Đảng cần duy trì tầm nhìn chiến lược trong đấu tranh bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Tầm nhìn chiến lược có vai trò đặc biệt quan trọng, không chỉ giúp toàn Đảng và toàn xã hội thống nhất tư tưởng, hiểu rõ vị trí, vai trò đặc biệt của biển, đảo đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước; mà còn giúp định hướng hành động đúng đắn phát huy hiệu quả ngọn cờ chính nghĩa, lẽ phải, công lý để giải quyết các vấn đề trên biển một cách hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, Đồng thời, tầm nhìn chiến lược giúp kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; giúp phát huy tổng hợp các nguồn lực trong xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển, đảo.

Tầm nhìn chiến lược trong việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc của Đảng nên bảo đảm những yếu tố sau:

1/ Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, quyền và lợi íc biển hợp pháp, chính đáng của đất nước, không khoan nhượng trước mọi hành vi xâm phạm;

2/ Giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982;

3/ Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại;

4/ Phát triển kinh tế biển bền vững gắn với việc đảm bảo quốc phòng, an ninh, xây dựng tiềm lực và thế trận phòng thủ biển, đảo vững chắc;

5/ Nâng cao nhận thức cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân về vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của biển, đảo. Đồng thời, tuyên truyền rộng rãi đối với cộng đồng quốc tế về chủ quyền hợp pháp của Việt Nam.

Hai là, cần nhạy bén trong nắm bắt và tận dụng thời cơ. Thời cơ ở đây được hiểu là thời cơ chính trị, quân sự, ngoại giao, pháp lý nhằm khẳng định và bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam. Trong bối cảnh tình hình Biển Đông ngày càng diễn biến phức tạp, việc theo dõi, nắm bắt tình hình thực địa, diễn biến quốc tế, đánh giá, nhận định, phát hiện thời cơ, qua đó linh hoạt tranh thủ sự ủng hộ quốc tế, đưa ra quyết sách phù hợp, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo, và củng cố vị thế Việt Nam trên trường quốc tế là vô cùng quan trọng. Gần đây, Tòa án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS) chú trọng bổ sung chuyên gia luật biển quốc tế. Nếu Việt Nam không sớm có chiến lược đào tạo nhân lực bài bản, khả thi, sẽ khó có nhân lực chất lượng cao có kinh nghiệm và tầm vóc quốc tế để tham gia giải quyết hiệu quả tranh chấp chủ quyền biển, đảo. Nhận thức vấn đề này từ sớm, Đảng và Nhà nước đã chủ động từng bước xây dựng đội ngũ chuyên gia, do đó, hiện chúng ta đã có ứng viên phù hợp cho vị trí Thẩm phán ITLOS.  Đây là ví dụ tiêu biểu về tầm nhìn và tranh thủ thời cơ.

Ba là, thường xuyên chăm lo về xây dựng lực lượng cách mạng vững mạnh về mọi mặt. Để bảo vệ chủ quyền biển, đảo, cần tiếp tục xây dựng lực lượng nòng cốt vững mạnh, bao gồm Hải quân, Cảnh sát biển, Kiểm ngư và các lực lượng dân quân tự vệ biển. Lực lượng này không chỉ cần được trang bị hiện đại, mà còn phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thần yêu nước, sẵn sàng chiến đấu và hy sinh. Đồng thời, cần phát huy vai trò của ngư dân, những người trực tiếp bám biển ngày đêm, vừa khai thác kinh tế biển vừa làm “tai, mắt” trong canh giữ biển, trời, là lực lượng quan trọng góp phần bảo vệ chủ quyền trên biển.

Bốn là, nâng cao hơn nữa việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo là sự nghiệp của toàn dân, do đó cần tiếp tục củng cố và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nên “thế trận lòng dân” trên biển. Điều này bao gồm việc tăng cường tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mọi tầng lớp nhân dân về chủ quyền biển, đảo; khuyến khích người dân bám biển, phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền; huy động sự ủng hộ, đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đối với sự nghiệp bảo vệ đất nước. Đặc biệt là phải có chính sách đãi ngộ phù hợp đối với những cá nhân, tập thể có đóng góp lớn vào sự nghiệp bảo vệ biển, đảo.

Năm là, kết hợp đấu tranh chính trị với năng lực phòng thủ quốc gia. Trong bối cảnh hiện nay, việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo cần kết hợp linh hoạt các hình thức đấu tranh, từ đấu tranh pháp lý, ngoại giao, kinh tế đến các biện pháp bảo đảm quốc phòng – an ninh. Ưu tiên giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhưng cũng không ngừng củng cố tiềm lực quốc phòng để sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống phức tạp, hiểm nguy. Chúng ta phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Tuy nhiên, đấu tranh ở đây không phải là “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay” với nhau, mà đấu tranh nhưng tránh xung đột, đối đầu, mắc mưu khiêu khích từ các thế lực thù địch; thực hành tư tưởng “thêm bạn bớt thù”, đối sách mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo, kiên quyết ngăn chặn kịp thời, không để đất nước bị động, bất ngờ, không để tình hình diễn biến phức tạp, dẫn tới các hành động xâm phạm chủ quyền lãnh thổ biển, đảo, xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc. Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một mốc son chói lọi trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam, để lại rất nhiều bài học kinh nghiệm sâu sắc và vô cùng quý giá đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa nói chung, công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay của đất nước nói riêng. Trước bối cảnh tình hình Biển Đông đã và đang có nhiều diễn biến phức tạp, việc vận dụng sáng tạo và linh hoạt những bài học này sẽ giúp Việt Nam củng cố sức mạnh tổng hợp, phát huy nội lực, tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán trên biển, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước./

]]>
Cuộc chiến cáp ngầm và sự lựa chọn cho Việt Nam https://biendong.net/2025/07/02/cuoc-chien-cap-ngam-va-su-lua-chon-cho-viet-nam/ Wed, 02 Jul 2025 01:28:00 +0000 https://biendong.net/?p=155017 Các quốc gia Đông Nam Á, điểm trung chuyển chính cho các tuyến cáp kết nối châu Á với châu Âu, đang tìm cách mở rộng mạng lưới của mình để đáp ứng nhu cầu bùng nổ về các dịch vụ AI và trung tâm dữ liệu. Năm đường cáp dưới biển đã cũ của Việt Nam, kết nối với internet toàn cầu, thời gian qua đã liên tục gặp sự cố, nên việc lắp đặt đường cáp mới hiện là ưu tiên của Hà Nội. Để thúc đẩy mạnh mẽ nên kinh tế công nghệ số, bao gồm công nghệ AI, Việt Nam có kế hoạch xây dựng 10 tuyến cáp ngầm mới vào năm 2030.

Trong quá trình triển khai kế hoạch này, Việt Nam được cho là chịu sức ép  từ cả hai phía Mỹ và Trung Quốc trong việc trao gói thầu lắp đặt 10 đường cáp ngầm trọng yếu dưới biển. Hai cường quốc này đang cạnh tranh giành hợp đồng, đặc biệt là ở châu Á, để xây dựng và duy trì cơ sở hạ tầng chiến lược truyền tải hầu hết dữ liệu internet, bao gồm cả các thông tin nhạy cảm. Một số chuyên gia còn nhận định cáp ngầm đang là trung tâm của cuộc chiến công nghệ Mỹ-Trung. Đây là một phần của chiến dịch toàn cầu của Mỹ nhằm kiềm chế sự trỗi dậy của giới nhà thầu Trung Quốc.

Tháng 9/2024, khi có tin Việt Nam đang xem xét lựa chọn công HMN Technologies của Trung Quốc cho dự án lắp đặt 10 tuyến cáp ngầm dưới biển của mình, một số chuyên gia đã lên tiếng chỉ ra ba rủi ro chính nếu Việt Nam chọn công ty HMN Technologies hay bất cứ công ty nào của Trung Quốc để lắp cáp biển:

Thứ nhất, Trung Quốc sẽ có khả năng theo dõi mọi hoạt động truyền dữ liệu qua hệ thống này và khai thác chúng cho chương trình phân tích big data của nước này, gây ra mối nguy tiềm tàng đối với an ninh quốc phòng. Liên quan đến vấn đề này, cần lưu ý thêm rằng Trung Quốc đã ban hành luật quy định các cá nhân, tổ chức phải hợp tác về mặt cung cấp thông tin tình báo nếu được yêu cầu. Luật Tình báo Quốc gia của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (2017) quy định tại Điều 7 và 14 về việc “tất cả các tổ chức và công dân phải hỗ trợ, giúp đỡ và hợp tác với các nỗ lực tình báo quốc gia“các tổ chức làm công tác tình báo quốc gia khi tiến hành các hoạt động tình báo hợp pháp có thể yêu cầu các cơ quan, tổ chức và công dân có liên quan cung cấp sự hỗ trợ, giúp đỡ và hợp tác cần thiết.

Thứ hai, Trung Quốc sẽ có thể làm gián đoạn lưu lượng thông tin trên các tuyến cáp ngầm của Việt Nam vào thời điểm khủng hoảng hoặc xung đột. Về vấn đề này, cần lưu ý đến bi cnh tranh chp gia hai nưc ti Bin Đông. Nếu xy ra xung đt, hoc nếu Trung Quc có các tính toán riêng, không loi tr kh năng Trung Quc có th tác đng đến cáp ngm ca Vit Nam. Tình hình tại Eo biển Đài Loan có thể là một ví dụ điển hình. Khi căng thẳng ở Eo biển Đài Loan leo thang, Trung Quốc bị cáo buộc là phá hoi các tuyến cáp ngm gia các đo ca Đài Loan và gia Đài Loan vi quc tế. Chính quyền Đài Bắc đã nhiu ln t cáo Trung Quc ct cáp ngm ca Đài Loan. Tháng 2/2025, các cơ quan chc năng ca Đài Loan đã bt gi mt tàu liên quan ti Trung Quccác thuyn viên trên tàu này do nghi ng tàu này đã ct cáp ngm ca Đài Loan; mi đây, tháng 6/2025, thuyn trưng ca tàu đã b tuyên án 3 năm tù do hành vi phá hoại cáp.

Thứ ba, Việt Nam có thể trở nên phụ thuộc vào công nghệ thông tin, truyền thông của Trung Quốc, trong khi đó xu hướng hiện nay do Mỹ khởi xướng, đó là tách rời công nghệ và thiết bị do Mỹ thiết kế và sản xuất khỏi các hệ thống của Trung Quốc. Việc để công ty HMN Technologies hay bất cứ công ty nào của Trung Quốc xây dựng tuyến cáp ngầm sẽ khiến Việt Nam khó có thể tham gia vào các chuỗi công nghệ tiến tiến của Mỹ và phương Tây.

Trong bối cảnh cuộc cạnh tranh địa chính trị giữa Mỹ và Trung Quốc ở Biển Đông và khu vực ngày càng gay gắt, giữa Bắc Kinh và Washington đồng thời xảy ra cuộc chiến cáp ngầm. Cả Trung Quốc và Mỹ đều ráo riết lôi kéo các nước trong khu vực hợp tác trong các dự án xây dựng cáp viễn thông trên biển. Từ đầu năm 2024, giới chức và các công ty Mỹ đã tổ chức nhiều cuộc họp với giới chức Việt Nam và nước ngoài, cùng các giám đốc điều hành doanh nghiệp, nhằm thuyết phục Hà Nội loại HMN Technologies khỏi chiến lược cáp của mình.

Theo quan chức (đề nghị không nêu tên) tham dự các cuộc họp, mục đích của các cuộc họp là nhằm thuyết phục Việt Nam rằng ngành công nghiệp lắp cáp, vốn phụ thuộc vào bốn ông lớn trên toàn cầu, lựa chọn người chơi tương đối mới như công ty HMN Technologies của Trung Quốc là một lựa chọn tồi. Tại các cuộc họp, giới chức Mỹ và APTelecom đã nói rõ rằng việc lựa chọn các công ty lắp cáp ít kinh nghiệm hơn và ít có khả năng tiếp cận với các thành phần quan trọng sẽ khiến các công ty Mỹ nản lòng trong việc đầu tư vào Việt Nam. Mỹ coi HNM Technologies là một công ty có liên kết với gã khổng lồ công nghệ Huawei của Trung Quốc. Cả hai đều đang nằm trong danh sách trừng phạt của Mỹ do Washington lo ngại các công ty này là mối đe dọa cho an ninh quốc gia. Để thuyết phục Việt Nam, phía Mỹ thậm chí đưa ra các thông tin tình báo cảnh báo nguy cơ phá hoại và gián điệp từ phía Trung Quốc.

Giáo sư Carl Thayer từ Đại học New South Wales của Australia chỉ ra hai động lực chính để Mỹ tích cực vận động hành lang cho việc này:

Động lực đầu tiên là về an ninh quốc gia. Các công ty Mỹ, đặc biệt là các công ty hoặc tổ chức tư nhân được chính phủ Mỹ thuê để cung cấp dịch vụ hoặc sản phẩm liên quan đến quốc phòng đang làm việc tại Việt Nam, có khả năng bị xâm phạm thông tin liên lạc. Nói cách khác, sự hợp tác giữa ngành công nghiệp quốc phòng của Mỹ và Việt Nam có thể bị hạn chế (nếu Việt Nam thuê Trung Quốc lắp cáp) do các quy định của chính phủ Mỹ.

Động lực thứ hai là về thương mại. HMN Technologies có thể rẻ hơn so với các công ty của Mỹ, Nhật Bản và Pháp. Tuy nhiên, một hợp đồng giữa Việt Nam với HMN Technologies của Trung Quốc sẽ là một phần của “Con đường Tơ lụa Kỹ thuật số” – một trong ba trụ cột chính của Sáng kiến Vành đai và Con đường của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Và hẳn việc này sẽ được Bắc Kinh đánh giá cao. Nhưng nếu HMN Technologies giành được hợp đồng thì đây sẽ là tổn thất đối với các công ty Mỹ đang mong muốn đầu tư vào Việt Nam.

Bà Elina Noor, thành viên cấp cao của Chương trình châu Á tại Quỹ Carnegie vì Hòa bình Quốc tế (Mỹ), nói với BBC Tiếng Việt rằng Washington đã tuyên bố rất rõ ràng là họ sẽ không đứng thứ hai trong bất kỳ khía cạnh nào của cơ sở hạ tầng công nghệ, dù đó là cáp ngầm, 5G hay nền tảng mạng xã hội. Và do đó, trên mọi phương diện, Mỹ đã đồng ý cách tiếp cận liên ngành – tức là các cơ quan khác nhau của chính phủ Mỹ cùng làm việc với nhau để đảm bảo rằng Mỹ duy trì vị thế thống trị trong chuỗi cung ứng công nghệ.

Bà Elina Noor nhấn mạnh: Tôi cho rằng áp lực mà Mỹ gây ra cho các quốc gia ở Đông Nam Á, nơi mà họ coi là một khu vực có ảnh hưởng cần nắm giữ, chỉ là một biểu hiện nữa của sự cạnh tranh chiến lược này giữa những người khổng lồ. Và vì vậy, điều tôi nghĩ chúng ta sẽ tiếp tục thấy là Mỹ và các đối tác của mình cố gắng tác động đến càng nhiều quyết định của các quốc gia chủ chốt như Việt Nam càng tốt. Họ coi Việt Nam là một quốc gia dao động, một quốc gia cần được tán tỉnh và quyến rũ.

Giới quan sát cho rằng nỗ lực của Mỹ nhằm chuyển hướng các kế hoạch cáp ngầm của Việt Nam rời xa các công ty Trung Quốc làm nổi bật sự cạnh tranh địa chính trị rộng lớn hơn giữa Mỹ và Trung Quốc ở Đông Nam Á. Các quyết định mà Việt Nam đưa ra sẽ có ý nghĩa quan trọng đối với tương lai kỹ thuật số và mối quan hệ của nước này với cả hai siêu cường. Chúng không chỉ định hình cơ sở hạ tầng internet của Việt Nam mà còn ảnh hưởng đến bối cảnh chiến lược rộng lớn hơn trong khu vực.

Để tránh bị nằm trong thế kẹt trong cuộc chiến cáp ngầm giữa Mỹ và Trung Quốc, giới chuyên gia cho rằng sự lựa chọn đối tác của Việt Nam là hết sức quan trọng cả về khía cạnh an ninh lấn kinh tế, nhất là trên vấn đề Biển Đông. Theo đó, Hà Nội nên đa dạng hoá các đối tác hợp tác trong các tuyến cáp ngầm mới, ưu tiên những đối tác tiêến tiến có nhiều kinh nghiệm của phương Tây, tuy nhiên tránh tạo cảm giác “tẩy chay Trung Quốc” mà nên hợp tác với các công ty Trung Quốc trong các tuyến cáp nối liền giữa hai nước.

Theo khuyến nghị của giới chuyên gia, Việt Nam đang xúc tiến thảo luận triển khai các dự án cáp ngầm với các đối tác thứ 3. Công ty quản lý tài sản Singapore Keppel và tập đoàn Sovico Group của Việt Nam đang thảo luận về kế hoạch xây dựng hai tuyến cáp quang ngầm mới với mục tiêu thúc đẩy ngành dữ liệu của hai nước. Theo một kế hoạch đang được thảo luận, một tuyến cáp sẽ được lắp đặt để kết nối trực tiếp Việt Nam với Singapore với chi phí sẽ là 150 triệu đô la.

Sovico tỏ ý quan tâm phương án này, nhưng các cuộc đàm phán với Keppel về tuyến cáp trực tiếp đang diễn biến phức tạp và vẫn chưa đạt được thỏa thuận nào.

Theo một số nguồn tin, Keppel thiên về một kế hoạch cáp tham vọng hơn liên quan đến một nhóm các nhà đầu tư. Theo kế hoạch y, tuyến cáp kết nối với Việt Nam do Sovico phát triển sẽ là một nhánh của một tuyến cáp dài hơn. Tuyến cáp này sẽ chạy từ Singapore đến Nhật Bản, với các tuyến cáp nhánh kết nối các quốc gia dọc theo tuyến đường. Theo các kế hoạch sơ bộ, chưa có quyết định nào được đưa ra về việc nhà thầu nào sẽ xây dựng bất kỳ tuyến cáp nào. Tuy nhiên, theo nguồn tin thân cận, Trung Quốc sẽ không tham gia vào tuyến cáp liên kết trực tiếp giữa Việt Nam và Singapore. Đáng chú ý, trong Tuyên bố chung nhân chuyến thăm Singapore của Tổng Bí thư Tô Lâm (ngày 11-13/3/2025) cũng đề cập tới việc hợp tác giữa Việt Nam và Singapore trong lĩnh vực cáp ngầm.

Hai dự án nói trên tách biệt với các khoản đầu tư vào bốn tuyến cáp ngầm mới của Việt Nam, trong đó hai tuyến sẽ do NEC của Nhật Bản; một tuyến do công ty viễn thông Viettel của Việt Nam và Singtel của Singapore công bố vào tháng Tư và sẽ kết nối trực tiếp Việt Nam với Singapore theo một kế hoạch sơ bộ, không có hợp đồng xây dựng nào được công bố; tuyến thứ 4 kết nối Việt Nam với các tuyến cáp quốc tế hiện có do HMN Technologies của Trung Quốc xây dựng.

Giới phân tích nhận định sự lựa chtrọn kể trên của Việt Nam là tương đối phù hợp khi hầu hết các tuyến cáp mới nối với quốc tế đều là sự hợp tác giữa các đối tác Việt Nam với các đối tác Nhật Bản và Singapore. Viêc lựa chọn HMN Technologies cho dự án tuyến cáp nối với các tuyến cáp cũ hiện có thể là để thể hiện “Bắc Kinh không bị loại bỏ”, tránh ảnh hưởng đến quan hệ song phương. Việc Hà Nội không để công ty Trung Quốc tham gia vào các dự án tuyến cáp quốc tế mới là để tránh những rủi ro như cảnh báo của Mỹ và giới chuyên gia. Điều này giúp Hà Nội tránh rơi vào thế kẹt trong cuộc chiến cáp ngầm giữa Bắc Kinh và Washington. Việt Nam, với dân số gần 100 triệu người, là một thị trường lớn cho các nền tảng trực tuyến, nhưng hiện chỉ được kết nối với cơ sở hạ tầng internet toàn cầu thông qua năm nhánh ngầm dưới biển đến các tuyến cáp quốc tế. Các chuyên gia trong ngành nhận định trong bối cảnh chính quyền Hà Nội đã xác định phát triển kinh tế số với mũi nhọn là công nghệ AI là trọng tâm thì kế hoạch tăng gấp ba số lượng cáp ngầm của Việt Nam là một động lực có thể thúc đẩy cơ hội trở thành một trung tâm dữ liệu trong khu vực. Tuy nhiên, việc lựa chọn đối tác sẽ là một bài toán tương đối thách thức với Hà Nội khi phải bảo đảm được 03 yếu tố: quan hệ song phương với các nước liên quan, lợi ích quốc gia không bị xâm phạm, và chất lượng của các tuyến cáp ngầm nhằm phục vụ mục đích kinh tế, phát triển.

]]>
Nâng cao hơn nữa hoạt động đấu tranh, bảo vệ chủ quyền của đất nước ở Biển Đông https://biendong.net/2025/06/21/nang-cao-hon-nua-hoat-dong-dau-tranh-bao-ve-chu-quyen-cua-dat-nuoc-o-bien-dong/ Sat, 21 Jun 2025 05:20:00 +0000 https://biendong.net/?p=153754 Trong công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền của đất nước ta trên Biển Đông, ngoài những lực lượng đấu tranh trên thực địa, đấu tranh trên trường quốc tế và mặt trận pháp lý, trên lĩnh vực tâm lý ra, còn một lực lượng quan trọng không thể thiếu vắng và hết sức hiệu quả trong bảo vệ chủ quyền biển đảo của tổ quốc, đó là báo chí Việt Nam.

Còn nhớ từ năm 2003, chính quyền Trung Quốc đã đề ra thuyết “Tam chủng chiến pháp”, bao gồm chiến tranh tâm lý, chiến tranh truyền thông và chiến tranh pháp lý, hợp thành một “bộ ba” đối sách để nước này thực thi trong tuyên truyền đấu tranh giành và giữ chủ quyền mà Bắc Kinh tuyên bố “thuộc về họ”. Mục tiêu ban đầu của học thuyết này là nhằm vào Đài Loan, nhưng sau này được mở rộng ra các khu vực và các lĩnh vực khác, đặc biệt là trong các hoạt động tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc với các nước khác ở Biển Đông.

Trong đó, chiến tranh truyền thông, báo chí, bao gồm báo in, báo điện tử, phát thanh, truyền hình và các nền tảng truyền thông mới, kết hợp với nhau, được xem là một công cụ sắc bén, góp phần định hình nhận thức, gây ảnh hưởng và kết hợp với các hoạt động khác nhằm phục vụ cho ý đồ “độc chiếm Biển Đông” của Trung Quốc.

Nhìn lại hoạt động sử dụng truyền thông, báo chí để tuyên truyền về chủ quyền phi pháp ở Biển Đông của Trung Quốc thời gian gần đây

Năm 2009, Trung Quốc trưng tấm bản đồ “đường đứt đoạn” ra trước cộng đồng quốc tế để khẳng định chủ quyền ở Biển Đông, nhưng tấm bản đồ đó lại không dựa trên một quy chuẩn quốc tế nào cả và chiếm hơn 80% diện tích Biển Đông, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của nhiều quốc gia trong khu vực. Hành động này là sai trái nên bị các nước phản đối. Năm 2016, Tòa Trọng tài về Biển Đông được thành lập theo Phụ lục VII của UNCLOS đã ra Phán quyết, bác bỏ yêu sách phi lý này của Trung Quốc. Thế nhưng, Bắc Kinh ngoan cố không chịu thừa nhận phán quyết đó, tiếp tục dùng mọi biện pháp, mánh khóe, thủ đoạn khác nhau, trong đó có truyền thông, báo chí để tuyên truyền yêu sách và chủ quyền phi lý của họ trên Biển Đông. Nội dung và cách thức mà truyền thông, báo chí Trung Quốc tiến hành bao gồm các vấn đề cơ bản sau:

Thứ nhất, họ sử dụng các ấn phẩm chính thống như báo chí và truyền hình nhà nước để tuyên truyền nhằm gia tăng độ tin cậy và tính chính xác. Nhiều tờ báo lớn, hãng thông tấn, đài truyền hình quốc gia của Trung Quốc như Tân hoa xã, Nhân Dân nhật báo, Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc (CCTV), China Daily, Global Times, thường xuyên được huy động để đăng tải, truyền bá các bài viết, phóng sự, bình luận khẳng định “chủ quyền không thể tranh cãi” của Trung Quốc đối với Biển Đông, kèm theo bản đồ “đường đứt đoạn”. Nội dung của các bài viết, phóng sự này thường nhấn mạnh vào giá trị “quyền lịch sử” về chủ quyền, quá trình “khai thác lâu đời” đối với các vùng biển, đảo của Trung Quốc, đồng thời trắng trợn bác bỏ các tuyên bố chủ quyền của các quốc gia khác. Hay như trong các tạp chí học thuật và chuyên san, các bài nghiên cứu, phân tích, đánh giá, bình luận do các học giả Trung Quốc công bố cũng được lồng ghép những quan điểm ủng hộ “đường đứt đoạn” như là sản phẩm lâu đời, từng mặc nhiên được công nhận; cố gắng tạo ra những “cơ sở khoa học” cho yêu sách phi pháp để tuyên truyền trong nước và ra thế giới. Năm 2020, một bài viết trên trang Sáng kiến Minh bạch hàng hải châu Á (AMTI) 2020 cho biết, có đến trên 20 tạp chí khoa học nổi tiếng của nhiều nhà xuất bản khác nhau trên thế giới, như Springer’s Nature, Science, Elsevier… đã phản ánh nhiều nội dung khác nhau liên quan đến vấn đề Biển Đông, nhưng trong đó có khoảng 260 bài báo đã sử dụng bản đồ “đường đứt đoạn” theo giọng điệu của Trung Quốc. Điều đó cho thấy một phần nào đó, truyền thông, báo chí quốc tế cũng bị truyền thông, báo chí Trung Quốc “lũng đoạn” và lôi kéo. Nhưng trên thực tế, số bài báo khoa học được phía Trung Quốc cài cắm “đường đứt đoạn” còn nhiều hơn thế. Không ít các công ty nước ngoài đang làm ăn ở Trung Quốc cho biết, muốn “bám trụ” và làm ăn lâu dài ở đây thì họ bị chính quyền nước này ép phải có website thể hiện “đường đứt đoạn”. Nhiều bài báo khoa học của một số nhà nghiên cứu muốn đăng tải trên các tạp chí quốc tế mà Trung Quốc có ảnh hưởng cũng chịu cảnh tương tự, nghĩa là phải có đăng tải “đường đứt đoạn” thì mới được “lên makets”, còn không thì chịu cảnh “om dưa”. Còn với báo chí trong nước của họ thì đương nhiên “bảo sao phải nghe vậy”.

Một số sách báo, nhất là báo in và báo điện tử, hay sách giáo khoa, truyện tranh, được tận dụng tối đa để đưa hình ảnh “đường đứt đoạn” lên đó nhằm “thẩm thấu dần” vào nhận thức về “chủ quyền” của Trung Quốc ở Biển Đông. Đây là kênh tuyên truyền được Trung Quốc rất coi trọng vì nó phục vụ cho chiến lược tuyên truyền lâu dài bởi đối tượng của kênh này là giới trẻ.

Thứ hai, cắt gọt một cách tinh vi “đường đứt đoạn” rồi lồng ghép vào các sản phẩm văn hóa, giải trí. Mặc dù không phải là “báo chí” theo nghĩa đen, nhưng các sản phẩm văn hóa, giải trí được lan truyền rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng đóng vai trò như một kênh tuyên truyền mạnh mẽ về yêu sách chủ quyền phi lý của Trung Quốc ở Biển Đông. Phim ảnh và chương trình truyền hình là một trong những hình thức phổ biến nhất của hoạt động này. Do đó, “đường đứt đoạn” đã được lồng ghép vào phim hoạt hình, phim điện ảnh, phim truyền hình, chương trình giải trí một cách rất khéo léo, đôi khi chúng chỉ xuất hiện vài giây nhưng cũng đủ để gây “ấn tượng mạnh” trong tiềm thức của người xem. Nhiều bộ phim hoạt hình như “Everest: Người Tuyết bé nhỏ”, “Điệp vụ Biển Đỏ”, hay như phim truyền hình “Flight to you” (Hướng gió mà đi), ra mắt cuối năm 2022, phát trên nền tảng Netflix, ngoài việc đưa hình ảnh “đường đứt đoạn” xuất hiện trong nhiều tập, còn kèm theo những lời thoại rất ngang ngược như: “Rồi sẽ có ngày, tấm bản đồ này đi đến rất nhiều nơi trên thế giới”… Ai cũng biết, không gian trên mạng là không gian không biên giới, Trung Quốc đã và đang lợi dụng yếu tố “không biên giới” này để tuyên truyền về “đường đứt đoạn” phi pháp của họ bằng các loại hình của báo chí nhằm thay đổi nhận thức của công chúng về Biển Đông theo ý đồ của họ.

Thứ ba, thông qua các kênh truyền thông xã hội và kỹ thuật số để tuyên truyền yêu sách phi lý ở Biển Đông. Các Đại sứ quán, lãnh sự quán và các cơ quan ngoại giao của Trung Quốc thường xuyên sử dụng các tài khoản chính thức trên các nền tảng mạng xã hội, như Facebook, X – trước đây là Twitter, Weibo… để đăng tải các thông tin, hình ảnh, bài viết ủng hộ yêu sách “đường đứt đoạn”, đồng thời phản bác lại các quan điểm đối lập. Trên một số ứng dụng, phần mềm của Trung Quốc, ví dụ như ứng dụng dự báo thời tiết, bản đồ định vị… cũng hiển thị “đường đứt đoạn” phi pháp. Hay như các dịch vụ bản đồ trực tuyến của Trung Quốc như Baidu Maps chẳng hạn, luôn hiển thị “đường đứt đoạn”. Do thị trường Trung Quốc quá rộng lớn, nên nhiều tập đoàn kinh tế quốc tế khi xâm nhập thị trường này buộc phải sử dụng bản đồ Baidu, vô tình buộc phải thừa nhận và cũng trở thành luôn “công cụ” tuyên truyền cho yêu sách của Trung Quốc.

Thứ tư, Trung Quốc sử dụng các loại hình báo chí tuyên truyền về các hoạt động phi pháp của mình, nhưng lại vu cáo, bóp méo sự thật về các hoạt động bảo vệ chủ quyền hợp pháp của các nước khác ở Biển Đông. Báo chí là một trong những kênh được Trung Quốc sử dụng nhiều nhất để biện minh cho các hành động xâm phạm chủ quyền của các nước khác, như xây dựng đảo nhân tạo, quân sự hóa các thực thể trên biển, triển khai dân quân biển và tàu hải cảnh. Họ thường miêu tả các hoạt động này là “bảo vệ chủ quyền”, “duy trì hòa bình và ổn định”, hoặc “thực thi pháp luật”. Khi yêu sách “đường đứt đoạn” bị quốc tế phản đối mạnh, thậm chí trở thành “cuộc chiến pháp lý” với Trung Quốc, thì Bắc Kinh lại giở chiêu trò, mánh khóe khác, như ban hành và công bố rộng rãi các quy định nội địa liên quan đến Biển Đông, chẳng hạn như Luật Hải cảnh hay các quy định về việc bắt giữ ngư dân nước ngoài, nhằm củng cố yêu sách phi pháp của mình. Báo chí Trung Quốc thường theo đó nhanh chóng vào cuộc và đóng vai trò tiên phong trong việc thông tin rộng rãi về các quy định này để khẳng định “quyền tài phán” của họ.

Cùng với việc ra sức biện bạch cho các hoạt động phi pháp của mình, thì ở chiều ngược lại, báo chí Trung Quốc lại thường xuyên đưa tin sai lệch, bóp méo sự thật về các hoạt động hợp pháp của các quốc gia khác ở Biển Đông, đặc biệt là về các hoạt động của Việt Nam và Philippines. Dư luận gọi đây là hành động “vừa ăn cướp, vừa la làng” của Bắc Kinh. Ví dụ: Đảo Phan Vinh là của Việt Nam, mọi hoạt động của Việt Nam ở đây chỉ là để phòng thủ, bảo vệ chủ quyền hợp pháp của mình theo đúng quy định của luật pháp quốc tế, không có ý đồ tấn công hay đe dọa bất cứ nước nào ở Biển Đông. Ấy vậy mà, ngày 26/10/2021, nhiều tờ báo của Trung Quốc, trong đó có tờ Sina đã bóp méo sự thật, cho rằng, “Việt Nam đang cải tạo, mở rộng đá ngầm trái phép để cưỡng bức Trung Quốc bằng những việc đã rồi”. Nực cười hơn, báo này còn đánh đồng hoạt động xây dựng thế phòng thủ hợp pháp của Việt Nam trên lãnh thổ của mình với hoạt động lấp biển, tạo đảo nhân tạo trái phép và biến nó thành các căn cứ quân sự trên Biển Đông của Trung Quốc. Báo này còn kêu gọi Trung Quốc “cảnh giác” trước những hành động của Việt Nam vì “Việt Nam là kẻ chiến thắng lớn nhất trong cuộc chiến tranh giành các đảo ở Biển Đông với số đảo và bãi đá ngầm bị họ chiếm giữ lên tới 29 cái, trong khi Trung Quốc chỉ kiểm soát 9 đảo, bãi đá ở Nam Sa, bao gồm cả đảo Ba Bình do chính quyền Đài Loan kiểm soát…”; hơn nữa “hành vi xây đảo của Việt Nam ở Trường Sa có khả năng bị phương Tây lợi dụng và xúi giục nhằm bao vây Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông”. So sánh luận điệu này với các hành động phi pháp mà Trung Quốc đã làm ở Biển Đông trong những năm qua cho thấy, báo chí Trung Quốc thực ra ngoài việc bẻ cong sự thật về hành động chiếm đóng ngang ngược, trái phép chủ quyền của các nước nhỏ khác ở Biển Đông, nhưng cũng có phần “cay đắng” mà ngầm nhìn nhận “nước to như thế mà chỉ chiếm có mấy hòn đảo”, nên phải trâng tráo, to mồm rằng, “đường đứt đoạn” là “chủ quyền lịch sử không thể tranh cãi”, mặc dù yêu sách này hoàn toàn không có cơ sở pháp lý và đã bị Phán quyết thẳng thừng bác bỏ vào năm 2016.

Chưa hết, Trung Quốc còn bỏ tiền ra “thuê” học giả người nước ngoài viết bài tuyên truyền về chủ quyền và hoạt động phi pháp của họ ở Biển Đông. Điển hình nhất là trường hợp của giáo sư người Mỹ Mark J.Valencia. Ông này đã có nhiều bài viết, trong đó đáng chú ý là giữa lúc cả giới đang tập trung chống đại dịch Covid-19 và lên án các hành động phi pháp của Trung Quốc ở Biển Đông vào những tháng đầu năm 2020, thì vị học giả này lại có bài viết bênh vực Trung Quốc về Biển Đông bằng những ngôn từ phiến diện và vô căn cứ. Rút cục là “vì tiền” nên ông Mark J.Valencia đã “bẻ cong” sự thật và pháp luật, đánh mất nhân phẩm của nhà khoa học chân chính, “bán mình” cho Trung Quốc. 

Những cách làm trên đây cho thấy, truyền thông, báo chí Trung Quốc không chỉ là công cụ truyền tải thông tin, mà còn là một phần không thể thiếu và được Trung Quốc rất quan tâm, chú trọng trong chiến lược tổng thể nhằm hiện thực hóa tham vọng “độc chiếm Biển Đông”.

Trước thực trạng trên, báo chí Việt Nam cần nâng cao hơn nữa vai trò trong đấu tranh với các luận điệu sai trái của Trung Quốc ở Biển Đông, bảo vệ chủ quyền chính đáng của quốc gia

Trong những năm qua, các loại hình truyền thông, báo chí Việt Nam đã có đóng góp rất lớn vào công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước, nhất là tạo sự đồng thuận trong xã hội theo đúng các chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước. Đó là những lúc dư luận trong, ngoài nước sục sôi vì hành động Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam (2014), hay những hành động Bắc Kinh đưa tàu cảnh sát biển vào cắt cáp thăm dò của tàu dầu khí Việt Nam đã được báo chí thông tin kịp thời, phản ánh chính xác, động viên, hướng dẫn quân và dân cả nước đấu tranh kiên quyết, toàn diện và kịp thời với đối phương nhưng vẫn coi trọng và đảm bảo giữ gìn được hòa bình. Đó là những lúc báo chí kịp thời thông tin tình hình trên biển, dư luận quốc tế, cuộc đấu tranh pháp lý khi những căng thẳng đang diễn ra không chỉ với Trung Quốc mà còn cả với Philippines, đồng thời hướng dẫn dư luận trong nước đấu tranh đúng nơi, đúng lúc và hiệu quả. Tất cả những hoạt động đó không những được nhân dân cả nước ghi nhận mà còn được cộng đồng quốc tế hoan nghênh và đánh giá cao.

Phát huy những kết quả trên, thời gian tới, để công cuộc đấu tranh với các thủ đoạn, biện pháp và luận điệu tuyên truyền sai trái của Trung Quốc ở Biển Đông có hiệu năng, hiệu quả hơn, báo chí Việt Nam cần có một chiến lược toàn diện, bài bản và linh hoạt hơn, trong đó cần:

Một là, không chỉ phản bác các luận điệu sai trái từ phía đối phương đưa ra, mà còn phải chủ động đưa tin nhiều chiều về các hoạt động hợp pháp, chính đáng và các bằng chứng lịch sử, pháp lý khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi theo quy định của luật pháp quốc tế của Việt Nam ở Biển Đông. Ngạn ngữ nhiều quốc gia, dân tộc đều dùng câu giống nhau: “mưa dầm thấm lâu”; tục ngữ Việt Nam thì có câu “Nói phải củ cải cũng nghe”. Khi truyền thông, báo chí lập luận có lý lẽ, đúng đắn, chặt chẽ, có sức thuyết phục cao thì không chỉ tập hợp, khơi dậy được tinh thần yêu nước của cả dân tộc, mà còn nhận được sự đồng tình ủng hộ lớn của dư luận thế giới.

Hai là, đa dạng hóa nguồn tin, nghĩa là cung cấp thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm từ các cơ quan chức năng, các chuyên gia, nhà nghiên cứu uy tín ở trong và ngoài nước, cũng như từ những ngư dân, thủy thủ, lực lượng chấp pháp biển đang hoạt động trên thực địa… để tăng độ dày và độ tin cậy của thông tin từ báo chí.

Ba là, mặc dù truyền thông, báo chí có vai trò đấu tranh, bảo vệ chủ quyền, bảo vệ chân lý, bênh vực lẽ phải nhưng việc đưa tin luôn luôn phải nhất quán là dựa trên sự thật, phản ánh đúng sự thật và có bằng chứng rõ ràng, tránh thổi phồng hoặc cường điệu hóa, nhằm đảm bảo duy trì sự tin cậy. Một khi sự thật đã là sự thật rồi thì không cần thiết phải tô vẽ, cường điệu mà cần sự chính xác, đáng tin.

Bốn là, cần có những bài phân tích chuyên sâu, vạch trần bản chất sai trái, phi lý của “đường đứt đoạn” và các yêu sách của Trung Quốc trái với hoặc không thực sự phù hợp với luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS 1982. Đối tượng tuyên truyền của truyền thông, báo chí có nhiều tầng lớp khác nhau, nhận thức, trình độ khác nhau, ở các vùng miền khác nhau nên các vấn đề liên quan đến pháp lý, địa lý, lịch sử phức tạp khi chuyển tải tới họ phải làm sao cho chính xác, dễ hiểu, dễ tiếp cận đối với công chúng cả trong và ngoài nước.

Năm là, đẩy mạnh hơn nữa hoạt động phối kết hợp với các nước trên thế giới trong lĩnh vực truyền thông, báo chí để tuyên truyền về chủ quyền hợp pháp của Việt Nam trên Biển Đông. Ví dụ như mời gọi chuyên gia quốc tế về luật biển, về lịch sử, về quan hệ quốc tế tham gia viết bài, hội thảo để tăng tính thuyết phục và khách quan cho các bài viết; tăng cường sản xuất và phổ biến các nội dung về Biển Đông bằng nhiều ngôn ngữ trên các nền tảng quốc tế; tham gia vào các diễn đàn quốc tế về Biển Đông để trình bày quan điểm của Việt Nam, phản bác các thông tin sai lệch. Ngoài việc bảo vệ chủ quyền, báo chí cần thể hiện Việt Nam là một quốc gia yêu chuộng hòa bình, tuân thủ luật pháp quốc tế, là đối tác đáng tin cậy trong khu vực.

Sáu là, tăng cường ứng dụng công nghệ và đa dạng hóa hình thức truyền tải để lan tỏa thông tin, tương tác với công chúng và phản bác nhanh chóng các tin tức giả mạo, sai trái.

Bảy là, nâng cao nhận thức trong nước và huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Tám là, cần thấy thuyết “Tam chủng chiến pháp” của Trung Quốc đưa ra và thực thi chính là một cuộc chiến dài hơi, dai dẳng, mang tính chiến lược nên truyền thông, báo chí Việt Nam cũng cần phải có chiến lược dài hạn, kiên trì theo dõi, phân tích và phản ứng với từng động thái thông tin, tuyên truyền của Trung Quốc. Khi có sự kiện thì phải phản ứng nhanh, nhưng cần thận trọng, không để sai sót, nhầm lẫn thông tin, gây bất lợi. Như vậy, Trung Quốc đã và đang sử dụng báo chí và các kênh truyền thông khác để tuyên truyền về chủ quyền phi pháp của họ ở Biển Đông. Đây là một loại hoạt động nổi bật nhằm thực hiện nhiều mục tiêu khác nhau, như củng cố yêu sách chủ quyền phi pháp; thay đổi nhận thức quốc tế theo hướng ủng hộ các tuyên bố của Trung Quốc, hoặc ít nhất là tạo ra ảo tưởng rằng các yêu sách của họ được chấp nhận rộng rãi; giáo dục lòng yêu nước trong nước; làm suy yếu ý chí phản kháng của các nước đối địch; biện minh cho các hành động gây hấn; định hướng dư luận và xây dựng hình ảnh “trỗi dậy hòa bình” nhằm che đậy những ý đồ bá quyền thực sự. Trước thực trạng này, hơn bao giờ hết, báo chí cách mạng Việt Nam cần làm tốt hơn nữa vai trò của mình như Le Nin đã dạy, đó là “người tuyên truyền tập thể, cổ động tập thể và tổ chức tập thể”, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ các vùng biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc, tạo môi trường an ninh thuận lợi ở Biển Đông để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình phát triển của dân tộc.

]]>
Bắc Kinh vi phạm nghiêm trọng DOC và phá hoại quá trình đàm phán COC https://biendong.net/2025/06/16/bac-kinh-vi-pham-nghiem-trong-doc-va-pha-hoai-qua-trinh-dam-phan-coc/ Mon, 16 Jun 2025 01:30:00 +0000 https://biendong.net/?p=152103 Phát biểu tại cuộc họp báo bên lề kỳ họp “Lưỡng hội” Trung Quốc hồi đầu tháng 3/2025, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị khẳng định nước này sẵn sàng cùng các nước ASEAN tăng cường đối thoại, hóa giải khác biệt và đạt được tiếng nói chung, sớm đạt được Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC) để thực sự đưa Biển Đông thành vùng biển hòa bình, hữu nghị và hợp tác.

Ông Vương Nghị còn leo lẻo nói rằng, trong năm qua, với nỗ lực chung, Biển Đông vẫn duy trì hòa bình và ổn định, là vùng biển an toàn và bận rộn nhất thế giới cho hoạt động hàng hải và hàng không.

Hải cảnh Trung Quốc đổ bộ lên Sandy Cay trong cụm đảo Thị Tứ thuộc quần đảo Trường Sa

Thế nhưng sau đó chỉ hơn 1 tháng, chính Trung Quốc lại vi phạm nghiêm trọng Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) khi Hải cảnh Trung Quốc đổ bộ lên một bãi cạn tại cụm Thị Tứ thuộc quần đảo Trường Sa giăng cờ Trung Quốc. Điều 5 của DOC quy định các quốc gia tự kiềm chế, không có các hành động gây phức tạp và gia tăng tranh chấp có thể ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định. Quy định rõ việc chiếm giữ đảo, đá, bãi cạn, bãi ngầm và các cấu trúc chưa có người ở là hành vi cần kiềm chế.

Giới chuyên gia cho rằng hành vi của Trung Quốc không chỉ vi phạm nghiêm trọng DOC mà còn phá hoại tiến trình đàm phán về COC vì hành động của Bắc Kinh gây mất niềm tin của các nước trong ASEAN. Điều đáng nói là Tân Hoa Xã – hãng thông tấn chính thức của chính quyền Bắc Kinh cũng như một loạt đài truyền hình, trang mạng Trung Quốc lại còn ngang nhiên công bố hình ảnh Hải cảnh Trung Quốc đổ bộ lên bãi cạn này để giăng cờ Trung Quốc. Đây là việc làm hoàn toàn có chủ ý của Bắc Kinh nhằm thách thức cộng đồng quốc tế, cho thấy Bắc Kinh chà đạp cả lên những thoả thuận đa phương lẫn dư luận quốc tế.

Cũng trong ngày 25/4/2025, Bộ Tài nguyên Thiên nhiên Trung Quốc đã công bố Báo cáo về “hệ sinh thái Thiết Tuyến Tiêu (đá Hoài Ân) và Ngưu Ách Tiêu (Việt Nam gọi là đá Ba Đầu và tên tiếng Anh là Witsun Reef)”. Báo cáo của Bộ Tài nguyên Thiên nhiên Trung Quốc, dựa trên vệ tinh viễn thám và khảo sát thực địa, cho biết bốn bãi cát trên các rạn san hô “Thiết Tuyến” và “Ngưu Ách” đều được hình thành tự nhiên, nhô lên khỏi mặt nước khi thủy triều lên. Ở mức thủy triều trung bình, các bãi cát này cao hơn mặt nước chừng 1,1 đến 1,47 mét.

Việc Trung Quốc tuyên bố các thực thể nổi lên trên mặt nước một cách tự nhiên khi thủy triều lên cao là một trong những bước nhằm tuyên bố chủ quyền. Theo UNCLOS 1982, các thực thể tự nhiên cao hơn mặt nước khi thủy triều cao được coi là đảo hoặc đá, có thể tuyên bố chủ quyền nếu không đang thuộc chủ quyền của nước khác. Trái lại, các thực thể nửa nổi nửa chìm (low-tide elevations – LTE) không thể là cơ sở để tuyên bố chủ quyền lãnh thổ hay vùng biển riêng nếu chúng nằm ngoài lãnh hải của một quốc gia ven biển. LTE là các thực thể hình thành tự nhiên, chỉ nổi lên mặt nước khi thủy triều xuống thấp.

Hoài Ân nằm trong cụm Thị Tứ thuộc quần đảo Trường Sa. Đá Ba Đầu nằm trọng cụm Sinh Tồn Đông. Cả hai thực thể này chưa có lực lượng thường trực của nước nào. Trung Quốc đã nhiều lần nhòm ngó 2 thực thể này. Đá Ba Đầu là nơi tàu bè của Trung Quốc nhiều lần tập trung với số lượng lớn trong những năm gần đây, có thời điểm (tháng 3/2021), Trung Quốc đưa tới đây gần 200 tàu cùng lúc, và ở lại trong nhiều ngày. Cộng đồng quốc tế đã lên tiếng phê phán mạnh mẽ những hành động này của phía Trung Quốc.

Giới chuyên gia nhận định việc Báo cáo của Bộ Tài nguyên Thiên nhiên Trung Quốc đưa ra các số liệu nói Hoài Ân và Ba Đầu nổi lên trên mặt biển lúc thuỷ triều lên cao có thể là để chuẩn bị lập luận cho việc chiếm đóng 2 thực thể này trong tương lai. Đặc biệt, hành động “tuyên bố chủ quyền” của Hải cảnh Trung Quốc ở đá Hoài Ân trên truyền thông là dấu hiệu cho thấy Bắc Kinh có thể đang hướng tới việc thiết lập sự đồn trú thường xuyên tại đây.

Việc Bắc Kinh công bố các hình ảnh giăng cờ trên đá Hoài Ân ở vào thời điểm rất đáng chú ý khi Mỹ đang cùng Philippines tiến hành cuộc tập trận Balikatan 2025 với nhiều vũ khí hiện đại ở phía Bắc đảo Luzon gần Đài Loan. Chủ đề chính của Balikatan năm nay là chuẩn bị cho một “kịch bản chiến tranh quy mô lớn” trong bối cảnh căng thẳng gia tăng giữa Trung Quốc và Philippines tại nhiều khu vực ở Biển Đông. Một số chuyên gia đánh giá đây có thể là một sự trả đũa đối với cuộc tập trận này, đồng thời qua đây Bắc Kinh muốn chuyển tới Manila lời cảnh báo nếu tiếp tục “vào hùa với Mỹ”, Trung Quốc sẽ có sự đáp trả mạnh mẽ ở đá Hoài Ân, cách đảo Thị Tứ mà Philippines đang đóng giữ chỉ vài hải lý.

Mặc dù đang rất bận rộn với các công việc liên quan đến cuộc chiến ở Ukraine và xung đột Trung Đông, Mỹ cũng đã nhanh chóng lên tiếng. Nhà Trắng đã nói rằng thông tin Trung Quốc chiếm rạn san hô là “vô cùng đáng lo ngại nếu đúng sự thật”. Ngày 26/4/2025, Người phát ngôn Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ, ông James Hewitt nhấn mạnh “những hành động như vậy đe dọa sự ổn định khu vực và vi phạm luật pháp quốc tế”, đồng thời cho biết Nhà Trắng đang “tham vấn chặt chẽ với các đối tác của mình”. Điều này thể hiện rõ chính quyền Trump luôn theo dõi sát tình hình Biển Đông và không “buông tay” để Trung Quốc hoành hành.

Bên cạnh đó, điều được giới quan sát hết sức quan tâm là việc Hải cảnh Trung Quốc đổ bộ lên giăng cờ ở đá Hoài Ân diễn ra vào trung tuần tháng 4/2025, thời Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình có chuyến thăm 3 nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam và Malaysia liên quan trực tiếp tới tranh chấp Biển Đông.

Trong tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc nhân chuyến thăm của ông Tập Cận Bình, hai bên đã “nhất trí kiểm soát và giải quyết thỏa đáng bất đồng, giữ gìn đại cục hữu nghị Việt – Trung”. Tuyên bố chung viết: “Hai bên trao đổi ý kiến chân thành, thẳng thắn về vấn đề trên biển, nhấn mạnh cần kiểm soát tốt hơn và tích cực giải quyết bất đồng trên biển, cùng duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Đông. Hai bên nhất trí tuân thủ nhận thức chung quan trọng giữa lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước, kiên trì thông qua hiệp thương hữu nghị, tích cực tìm kiếm các giải pháp cơ bản, lâu dài mà hai bên có thể chấp nhận được, phù hợp với ‘Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc’, luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982; không có hành động làm phức tạp tình hình, mở rộng tranh chấp, cùng duy trì ổn định trên biển”. thông cáo chung viết.

Các nhà quan sát cho rằng việc Trung Quốc giăng cờ trên đá Hoài Ân vào thời điểm đó đã vi phạm ngay những thoả thuận mà ông Tập Cận Bình vừa mới cam kết trong chuyến thăm Việt Nam. Điều này càng chứng tỏ Bắc Kinh luôn nói một đằng làm một nẻo, ngay khi người đứng đầu Trung Quốc đang có những lời nói mỹ miều tại Hà Nội thì Hải cảnh của họ lại có những hành động xâm lấn mới trên Biển Đông. Đây có thể được coi là bản chất của những kẻ bành trướng.

Một điểm đáng chú ý nữa là ngày Bắc Kinh công bố hình ảnh Hải cảnh đổ bộ lên giăng cờ ở đá Hoài Ân thì cũng là ngày mà 118 binh sĩ quân đội Trung Quốc đến thành phố Hồ Chí Minh tham gia Lễ diễu binh mừng 50 năm thống nhất đất nước của Việt Nam. Những hoạt động này được coi là nhằm thúc đẩy tình hữu nghị, hợp tác, làm sâu sắc thêm mối quan hệ “Cộng đồng chia sẻ tương lai”. Song, cách làm xảo trá, mang tính hai mặt này không chỉ làm mất đi sự tin cậy giữa hai bên mà còn làm xói mòn tình cảm của người dân.

Ngang ngược hơn, ngày 28/4/2025, Người phát Ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Quách Gia Côn còn ngang nhiên nói trong họp báo rằng: “Đá Hoài Ân là một phần của quần đảo Nam Sa (Trường Sa) của Trung Quốc”

Giới chuyên gia cho rằng chính kẻ vi phạm DOC lại cao giọng nói về bảo vệ DOC. Điều này khiến đàm phán về COC khó được hoàn tất theo kế hoạch mong đợi, hay nói cách khác Trung Quốc đang phá hoại tiến trình đàm phán về COC./.

]]>
Tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức về lĩnh vực hàng hải ở Biển Đông và khu vực https://biendong.net/2025/06/14/tam-quan-trong-cua-viec-nang-cao-nhan-thuc-ve-linh-vuc-hang-hai-o-bien-dong-va-khu-vuc/ Sat, 14 Jun 2025 01:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=152096 Đông Nam Á có một số tuyến đường biển (SLOC) được xếp vào hàng quan trọng nhất thế giới. 45% lượng hàng hoá vận tải đường biển của thế giới đi qua Biển Đông.

Ngoài các nước Đông Nam Á, nhiều nước khác trong khu vực đều phụ thuộc lớn vào tuyến đường hàng hải qua Eo biển Malacca và Biển Đông. Trong đó, khoảng 60% hàng hoá xuất nhập khẩu của Trung Quốc, 45% hàng hoá của Nhật Bản đi qua Biển Đông; khoảng 67% giá trị xuất khẩu và hơn 40% giá trị nhập khẩu của Australia đi qua quần đảo Indonesia, nơi được kết nối với các tuyến hàng hải quan trọng như Eo biển Malacca, Biển Đông và Biển Sulawesi.

Khu vực Đông Nam Á

Trong bối cảnh cạnh tranh địa chính trị giữa các siêu cường ngày càng gay gắt, các tuyến đường hàng hải qua khu vực đối mặt với cả các thách thức an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống. Việc Trung Quốc ngày càng trở nên quyết đoán và hung hăng hơn trong quan hệ với các nước láng giềng ảnh hưởng tiêu cực tới an ninh hàng hải trong khu vực. Trong khi đó, dữ liệu hàng hải ở Đông Nam Á bị phân mảnh từ nhiều nguồn khác nhau, qua đó làm phức tạp thêm nỗ lực xác định dữ liệu liên quan.

Nhận thức về Lĩnh vực Hàng hải (MDA) được tổ chức Hàng hải Quốc tế định nghĩa là sự hiểu biết hiệu quả về bất cứ điều gì liên quan đến lĩnh vực hàng hải có thể tác động đến an ninh, an toàn, kinh tế hoặc môi trường. MDA được cho là hoạt động như một “công cụ hỗ trợ chính” cho các vấn đề an ninh hàng hải khác, bao gồm việc thu thập, tích hợp và phân tích dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau để theo dõi tàu, giám sát hoạt động vận chuyển hàng hoá, phát hiện các hoạt động vận chuyển gian lận và đánh giá các rủi ro an ninh quốc gia hoặc toàn cầu tiềm ẩn.

Bất kỳ sự gián đoạn nào đối với các tuyến đường biển ở Đông Nam Á này, vốn dễ bị tổn thương trước nhiều mối đe dọa hàng hải khác nhau, sẽ gây bất lợi cho thương mại toàn cầu. Điều này làm cho Nhận thức về Lĩnh vực Hàng hải (MDA) ở Đông Nam Á trở nên quan trọng, bao gồm cả việc thông qua chia sẻ thông tin cho phép các quốc gia và cơ quan thực thi pháp luật thiết lập một “Bức tranh hoạt động chung” toàn diện.

Đông Nam Á thiếu một hệ thống cơ sở dữ liệu thống nhất để tích hợp và lưu trữ dữ liệu về các hoạt động cũng như mối đe dọa hàng hải đa dạng. Các hoạt động kinh tế hàng hải của khu vực tạo ra dữ liệu lịch sử có giá trị về khối lượng vận chuyển và các mối đe dọa hàng hải khác nhau như sự cố cướp biển, tràn dầu, xả thải… đồng thời có thể mang lại lợi ích đáng kể cho nghiên cứu, lập kế hoạch quốc phòng và ra quyết định chiến lược. Tuy nhiên, dữ liệu này hiện bị phân mảnh, thường chỉ giới hạn trong các báo cáo hàng năm của các tổ chức chia sẻ thông tin hoặc cơ quan thực thi pháp luật, trong khi các hồ sơ cũ khó truy cập trực tuyến. Vì vậy, việc thiết lập một cơ sở dữ liệu hàng hải chung là cần thiết.

Không giống như Cổng chia sẻ thông tin ASEAN không còn tồn tại và đã được thay thế bằng Hệ thống chia sẻ thông tin thời gian thực (IRIS) của Trung tâm tổng hợp thông tin (IFC), kho lưu trữ này nên tập trung vào việc tích hợp và lưu trữ dữ liệu lịch sử về các hoạt động và mối đe dọa hàng hải như vận chuyển hàng hải, đăng ký tàu, cướp có vũ trang và đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), cùng nhiều hoạt động khác, thay vì cung cấp thông tin cập nhật trực tiếp. Để giảm thiểu những lo ngại về chủ quyền và sự miễn cưỡng từ các quốc gia, cơ sở dữ liệu chung có thể được phân loại theo quốc gia và hoạt động.

Một cơ sở dữ liệu hàng hải chung lý tưởng nhất sẽ có sự đóng góp và phối hợp từ nhiều bên liên quan, bao gồm cả các quốc gia như Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc, kể cả những quốc gia ngoài khu vực quan tâm đến trật tự hàng hải trong khu vực. Các quốc gia thành viên ASEAN sẽ phải cung cấp dữ liệu cơ bản và đầu vào từ các cơ quan hàng hải quốc gia của mình, bao gồm lực lượng bảo vệ bờ biển, hải quân, cơ quan ngư nghiệp, hàng hải và cơ quan biên giới.

Trong khi đó, các tổ chức chia sẻ thông tin khu vực như Trung tâm báo cáo cướp biển của Cục Hàng hải quốc tế (IMB PRC), Thỏa thuận hợp tác khu vực về chống cướp biển của Trung tâm chia sẻ thông tin châu Á (ReCAAP ISC), Trung tâm tổng hợp thông tin (IFC), giới học thuật, các viện nghiên cứu và ngành hàng hải cũng có thể đảm nhận vai trò hỗ trợ không thể thiếu bằng cách đóng góp thông tin và dữ liệu.

Bằng cách hợp nhất dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau và lưu trữ dữ liệu lưu trữ, cơ sở dữ liệu hàng hải chung có thể cung cấp cái nhìn toàn diện và tổng thể hơn về các hoạt động và mối đe dọa hàng hải ở Đông Nam Á. Nó sẽ cho phép các cơ quan thực thi pháp luật hàng hải xác định các mô hình, xu hướng và các mối đe dọa mới nổi cũng như các điểm nóng một cách hiệu quả hơn, nâng cao khả năng chuẩn bị và ứng phó một cách chủ động trước các thách thức an ninh hàng hải.

Cơ sở dữ liệu hàng hải cũng có thể tăng cường chia sẻ thông tin và phối hợp cho các hoạt động chung và phân bổ nguồn lực, nâng cao hiệu quả tổng thể của các nỗ lực an ninh hàng hải trong khu vực.[*]

Ngoài ra, cộng đồng nghiên cứu và vận chuyển cũng có thể sử dụng dữ liệu cho mục đích riêng của họ, góp phần tạo nên MDA toàn diện hơn. Ngoài chức năng là kho lưu trữ dữ liệu hàng hải, cơ sở dữ liệu hàng hải chung còn có thể giúp nâng cao niềm tin giữa các bên liên quan khác nhau trong ngành.

Thật vậy, việc thu hút các cơ quan quốc gia khác nhau tham gia với tư cách là các đơn vị sử dụng cơ sở dữ liệu hàng hải chung đòi hỏi phải có sự hợp tác và minh bạch, khuyến khích mỗi cơ quan chia sẻ dữ liệu và thông tin của mình. Tính minh bạch ngày càng tăng thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau, từ đó xây dựng niềm tin giữa các bên liên quan. Nguyên tắc này cũng có thể mở rộng sang khu vực tư nhân – những người có thể hưởng lợi từ nền tảng này với tư cách là người dùng.

Nhiều nước lớn trong lĩnh vực hàng hải rất quan tâm đến việc nghiên cứu các mối đe dọa hàng hải và một nền tảng như vậy sẽ tỏ ra có giá trị đối với họ. Những đánh giá tăng cường về rủi ro được hỗ trợ bởi dữ liệu có thể giúp các công ty vận tải thương lượng để giảm phí bảo hiểm. Tuy nhiên, quyền truy cập cơ sở dữ liệu phải phụ thuộc vào sự đóng góp của họ về dữ liệu liên quan hoặc thậm chí là nguồn tài trợ, đảm bảo luồng thông tin qua lại giúp nâng cao tiện ích tổng thể và tính bền vững của nền tảng.

Trong khi đó, các hội thảo và chương trình đào tạo khu vực cần được tổ chức để đảm bảo tất cả các bên liên quan áp dụng hiệu quả cơ sở dữ liệu hàng hải chung. Các khóa đào tạo cũng có thể hoạt động như một phương tiện để các bên liên quan gặp gỡ, gắn kết và tương tác với nhau. Nó có thể được tiến hành như một phần của Diễn tập chia sẻ thông tin an ninh hàng hải ASEAN, Diễn tập chia sẻ thông tin hàng hải hoặc Diễn tập đoàn kết ASEAN.

Những cuộc tập trận này sẽ mở rộng sự tham gia của các ngành công nghiệp tư nhân, các cơ quan liên quan đến hàng hải khác và các tổ chức chia sẻ thông tin khu vực. Thông qua các cuộc diễn tập bàn tròn, các buổi đào tạo và hội thảo, cách tiếp cận toàn diện này sẽ nâng cao nhận thức chung về tình huống hàng hải và thúc đẩy sự hợp tác lớn hơn giữa các lĩnh vực.

Giới quan sát cho rằng trong bối cảnh Bắc Kinh quân sự hóa tuyến đường thủy chiến lược, năm 2024 Philippines và Việt Nam có nhiều động thái tăng cường hợp tác giữa lực lượng tuần duyên nhằm mở rộng Nhận thức về Lĩnh vực Hàng hải và giúp đảm bảo trật tự dựa trên luật lệ ở Biển Đông.

Trong chuyến thăm Hà Nội cuối tháng 1/2024, Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. lưu ý rằng Việt Nam là “đối tác chiến lược duy nhất của Philippines” ở Đông Nam Á; nhấn mạnh hoạt động hợp tác hàng hải là nền tảng cho mối quan hệ; khẳng định cam kết hợp tác với Việt Nam, một “quốc gia cùng chí hướng”. Ông Marcos nhấn mạnh: “Là các quốc gia hàng hải, chúng tôi chia sẻ đánh giá tương tự về tình trạng hiện tại của môi trường khu vực với các quốc gia hàng hải khác”. “Hai quốc gia chúng tôi có vai trò quan trọng trong việc định hình diễn ngôn an ninh khu vực và duy trì trật tự quốc tế dựa trên luật lệ.”

Nhà phân tích địa chính trị của Philippines Don McLain Gill nhận định các thỏa thuận đã được ký kết trong chuyến thăm có thể “mở đường cho việc xây dựng lòng tin mạnh mẽ hơn, nhận thức về lĩnh vực hàng hải và hợp tác tương tác để không chỉ ổn định các điều kiện dọc theo biên giới hàng hải của họ mà còn có khả năng góp phần đảm bảo rằng toàn bộ Biển Đông vẫn mở và dựa trên các quy tắc trong bối cảnh Trung Quốc mong muốn giữ nó đóng cửa và quân sự hóa bất đối xứng”. Ông Gill nhấn mạnh “Từ quan điểm của Manila, điều này thể hiện mong muốn nhất quán và chủ động của chính quyền Tổng thống Marcos Jr. để thoát khỏi bế tắc kéo dài mà chúng ta đã gặp phải trong nhiều năm do Bắc Kinh không sẵn sàng hợp tác vì hòa bình trên biển”.

Thực hiện thoả thuận trong chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Marcos, tháng 8/2024, Lực lượng Bảo vệ bờ biển Philippines và Cảnh sát biển Việt Nam đã lần đầu tiên tiến hành cuộc diễn tập chung ở Biển Đông. Đây là cơ sở cho việc mở rộng hợp tác giữa các nước Đông Nam Á để nâng cao Nhận thức về Lĩnh vực Hàng hải. Ông Don McLain Gill đánh giá: “Các nước ASEAN có tầm nhìn chung với việc duy trì hòa bình dựa trên luật pháp quốc tế trong lĩnh vực hàng hải tại Đông Nam Á. Do đó, mục tiêu bao quát này, cùng với việc không có tham vọng bành trướng, đóng vai trò là nền tảng tích cực cho quá trình nở rộ của mối quan hệ song phương và đa phương”, góp phần nâng cao Nhận thức về Lĩnh vực Hàng hải ở Biển Đông và trong khu vực./.


[*] Ban Thư ký ASEAN, thông qua Diễn đàn Hàng hải ASEAN (AMF) hoặc Diễn đàn Hàng hải ASEAN mở rộng (EAMF), có thể lãnh đạo và quản lý cơ sở dữ liệu hàng hải chung. Khi các Đối tác Đối thoại của ASEAN như Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc và Liên minh châu Âu (EU) tìm cách mở rộng quan hệ đối tác và hội nhập với các thành viên ASEAN, một cơ sở dữ liệu chung sẽ cung cấp một dự án đáng tin cậy và hữu ích để tăng cường hợp tác hàng hải với các quốc gia trong khu vực. Họ có thể cung cấp chuyên môn kỹ thuật và hỗ trợ để phát triển cơ sở dữ liệu vì họ cũng là quốc gia sử dụng các tuyến đường biển quan trọng của Đông Nam Á.

]]>
Vấn đề an ninh ở Biển Đông tại đối thoại Shangri-la năm 2025 https://biendong.net/2025/06/05/van-de-an-ninh-o-bien-dong-tai-doi-thoai-shangri-la-nam-2025/ Thu, 05 Jun 2025 01:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=153757 Từ ngày 30/5 đến 01/6/2025, Đối thoại Shangri-La (SLD) thường niên lần thứ 22 đã diễn ra tại Singapore, với sự tham gia của hơn 550 đại biểu đại diện cho 47 quốc gia, trong đó có 40 đại biểu cấp bộ trưởng quốc phòng; 20 tổng tham mưu trưởng lực lượng vũ trang, hơn 20 quan chức quốc phòng cấp cao và nhiều học giả uy tín.

Đáng chú ý, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron tham dự hội nghị và phát biểu khai mạc; Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth cũng có mặt trong khi Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc lại không tham dự, thay vào đó là đoàn đại biểu đến từ Đại học Quốc phòng Trung Quốc. Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Đại tướng Phan Văn Giang cũng tham dự hội nghị.

So với năm 2024, SLD năm 2025 diễn ra trong bối cảnh an ninh thế giới ngày càng bất ổn và khó lường hơn; châu Á – Thái Bình Dương căng thẳng; Biển Đông vẫn tồn tại những diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định.

Trên phạm vi toàn cầu, mặc dù hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song không thể phủ nhận bức tranh xung đột vẫn bao trùm. Tại châu Âu, cuộc chiến khốc liệt giữa Nga – Ukraine đã bước sang năm thứ tư nhưng dường như cả hai bên đều chưa muốn xuống thang và hạ nhiệt chiến tranh bởi lập trường còn cách nhau khá xa. Thay vào đó, tính chất khốc liệt không ngừng tăng lên, đi cùng là sự can dự có tính toán theo hướng bảo vệ lợi ích vị kỷ của các lực lượng thứ ba càng làm cho con đường đi đến hòa bình thêm nhiều chông gai. Tại Trung Đông, chiến sự kèm khủng hoảng nhân đạo đối với người Palestine ở dải Gaza đã làm xói mòn lòng tin vào các cam kết nhân quyền toàn cầu. Lại thêm bùng phát đối đầu Israen và Iran liên quan đến chương trình hạt nhân của Iran khiến “thùng thuốc súng” ở đây nổ tung ra toàn khu vực bất cứ lúc nào. Cùng lúc đó, căng thẳng giữa Ấn Độ và Pakistan bùng phát, trở thành cuộc đụng độ quân sự dẫn đến nguy cơ mất kiểm soát, tiềm ẩn một cuộc chiến tranh khác tại châu Á. Tại Đông Nam Á, nội chiến vẫn tiếp diễn, tạo ra một cuộc khủng hoảng nhân đạo lớn và trầm trọng hơn sau vụ động đất khốc liệt vào tháng 3/2025 ở Mianma. Gần đây, quan hệ Thái Lan – Campuchia ở khu vực biên giới hai nước lại bùng phát một vụ bạo lực, tiềm ẩn nguy cơ xảy ra xung đột quân sự.

Bên cạnh đó, sự trở lại cương vị Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ hai của ông Donald Trump đã thổi bùng làn sóng chủ nghĩa bảo hộ trên mặt trận kinh tế. Mức thuế quan không tưởng mới do chính quyền Trump đưa ra không chỉ “gây sốc trực tiếp” đối với các quốc gia bị áp thuế, mà còn gián tiếp phủ lên nền kinh tế toàn cầu một gam màu ảm đạm. Ngoài ra, các đòn tăng thuế của D.Trump còn khoét sâu thêm mức độ căng thẳng trong quan hệ giữa Washington với các quốc gia như Mexico, Canada và nhất là Trung Quốc, kéo theo nhiều hệ lụy khác. Chính trong bối cảnh đó, cạnh tranh chiến lược Mỹ – Trung tiếp tục là trục chính định hình các cuộc thảo luận tại SLD năm 2025.

Tại Biển Đông, các hoạt động đơn phương, thách thức luật pháp quốc tế và nguy cơ tính toán sai lầm vẫn hiện hữu. Từ đầu năm 2025 đến nay, các vụ va chạm giữa lực lượng Hải cảnh Trung Quốc và tàu dân sự Philippines vẫn diễn ra. Thêm vào đó là hoạt động quân sự hóa trên các thực thể tại Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam vẫn được phía Trung Quốc âm thầm thực hiện, nhất là ở đá Chữ Thập, đá Vành Khăn và đá Subi. Cuối tháng 4/2025, Trung Quốc, sau đó là Philippines, đã đưa người lên một số thực thể ở quần đảo Trường Sa hòng xác lập “chủ quyền”. Tại đá Hoài Ân, không chỉ đưa người, Trung Quốc còn cắm cờ nhằm khẳng định “chủ quyền”, trong khi thực thể này thuộc chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam. Chưa hết, Trung Quốc lại còn tiếp tục ban hành lệnh cấm đánh bắt cá trái phép áp dụng từ ngày 1/5 đến ngày 16/8/2025, xâm phạm chủ quyền nhiều nước ở xung quanh Biển Đông, nhất là với Việt Nam. Trước đây, cựu Bộ trưởng Tuyên truyền của Đức Quốc xã Joseph Goebbels từng nói rằng, “nếu một sự dối trá được lặp đi lặp lại đủ nhiều thì nó sẽ trở thành sự thật”. Hiện nay, Bắc Kinh đang đi theo hướng đó, nên hàng năm, kể từ năm 1999, họ liên tục ban hành lệnh trên.

SLD năm 2025 cho thấy, dịch chuyển chiến lược hướng vào châu Á – Thái Bình Dương của các nước cao hơn, trong đó Biển Đông là chủ đề được đề cập nhiều, nhất là trong các tham luận của Pháp, Mỹ và một số nước trong khu vực

Theo quy định, mở đầu phiên khai mạc SLD là bài phát biểu quan trọng của một nguyên thủ quốc gia. Năm 2024, ông Marcos Jr – Tổng thống Philippines, quốc gia cùng với Trung Quốc là “tâm điểm” của những căng thẳng, rối ren diễn ra trên Biển Đông suốt trong năm 2023 và 2024, lĩnh xướng nhiệm vụ này. Thế nhưng năm nay, mặc dù SLD là hội nghị quốc phòng hàng đầu của khu vực châu Á, nhưng người lĩnh xướng vai trò đó lại không phải là nguyên thủ của một nước châu Á, mà là Tổng thống Pháp Emmanuel Macron. Trong bài phát biểu của mình, Tổng thống Pháp đã đề cập đến các thách thức mà khu vực châu Á – Thái Bình Dương phải đối mặt, như cuộc xung đột Nga – Ukraine; xung đột tại Trung Đông; những thách thức trên biển trải dài từ Biển Đông đến Biển Đỏ; vấn đề hạt nhân của Iran và các cuộc đàm phán đầy khó khăn với Mỹ; chính sách thuế quan mà Mỹ áp dụng, đã và đang tạo ra sự lung lay trong quan hệ xuyên Đại Tây Dương, thậm chí là những rủi ro trong sử dụng trí tuệ nhân tạo. Tuy nhiên, ông Macron cho rằng, thế giới sẽ vượt qua những thách thức đó nếu có chung tầm nhìn và châu Âu sẽ phải đóng vai trò lớn hơn bằng cách tự chủ và tự đảm bảo an ninh của khối. Đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Pháp cam kết sẽ duy trì một môi trường cởi mở, trật tự dựa trên luật lệ trong khu vực. Pháp muốn trở thành đối tác đáng tin cậy cho điều đó. Đây không chỉ là cốt lõi trong các cam kết song phương mà Pháp đã có với nhiều quốc gia trong khu vực, mà còn được Pháp triển khai thực hiện với các nước trong những năm qua, như: các cuộc tập trận chung, xây dựng năng lực chung, các chương trình phối hợp chung… Hoạt động này tuy có tính rủi ro, nhưng không đối đầu và cho thấy Pháp có quyền tự chủ về mặt chiến lược trong chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Đặc biệt, ông Macron cảnh báo: sự chia rẽ, đối đầu Mỹ – Trung đang là “rủi ro chính” mà thế giới phải đối mặt, do đó “nếu chúng ta buộc phải chọn phe, điều đó đồng nghĩa với việc sẽ giết chết trật tự toàn cầu và từng bước phá hủy toàn bộ các thể chế mà chúng ta đã xây dựng sau Thế chiến thứ hai để duy trì hòa bình”. Theo Tổng thống Pháp, cạnh tranh Mỹ – Trung đang tác động tiêu cực đến lợi ích của các nước châu Á và châu Âu. Trong khi đó, châu Âu và châu Á có điểm đồng nhất về lợi ích chiến lược và đang phải ứng phó trước sự can thiệp và tìm cách gia tăng ảnh hưởng từ một số nước. Trong đó, có nước “muốn áp đặt sự kiểm soát toàn diện từ biên giới châu Âu đến các đảo ở Biển Đông mà không quan tâm đến lợi ích của các đối tác tại khu vực cũng như pháp luật quốc tế”; có nước muốn “độc quyền khai thác nguồn tài nguyên khoáng sản và thủy sản”; có nước “muốn áp đặt đường lối chính sách đối ngoại lên các nước khác”, và có nước “có những thành kiến tiêu cực đối với đồng minh của mình”.

Từ thực tế trên, Tổng thống Pháp tuyên bố, châu Âu và châu Á sẽ không chấp nhận sự áp đặt này, đồng thời nhấn mạnh đây là thời khắc hết sức quan trọng, đòi hỏi hai châu lục cùng hợp tác chặt chẽ, thiết thực hơn nữa trên cơ sở các giá trị và nguyên tắc chung, để “không bị mắc kẹt trong cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn” (ám chỉ Mỹ và Trung Quốc), đảm bảo sự tự chủ về đường lối, chính sách cũng như lợi ích, an ninh đất nước. Ông Macron đề xuất các bên cần đề cao “sự hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng và an ninh”; khẳng định mong muốn thúc đẩy hợp tác thực chất với Mỹ, đồng thời cạnh tranh, song không đối đầu với Trung Quốc.

Sau phát biểu của Tổng thống Pháp, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth đã có bài phát biểu dài 30 phút vào sáng 31/5. Toàn bộ bài phát biểu này cho thấy, chính quyền Trump 2.0 đã bắt đầu triển khai các chính sách ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, trong đó ông Pete Hegseth đã có những lời lẽ rất cứng rắn về Trung Quốc và Biển Đông. Đối với Trung Quốc, ông cảnh báo, Bắc Kinh đang “tích cực huấn luyện” để “xâm chiếm Đài Loan” và mối đe dọa này là “thực tế và có thể sắp xảy ra”; Trung Quốc cũng đã và đang tìm cách trở thành “cường quốc bá quyền” và “kiểm soát quá nhiều khu vực” ở châu Á. Ông  Hegseth tuyên bố: “Mỹ tự hào trở lại Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và chúng tôi sẽ ở lại đây”, Mỹ không tìm kiếm chiến tranh hay xung đột với Trung Quốc, nhưng sẽ không để Trung Quốc “thống trị Mỹ hoặc các đồng minh và đối tác”, sẽ không để bị đẩy ra khỏi khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Ông Hegseth kêu gọi các nước trong khu vực tăng chi tiêu quốc phòng lên mức 5% GDP, bởi vì “các nước ở châu Âu đang làm điều đó, trong khi các đồng minh chủ chốt ở châu Á lại chi tiêu ít hơn cho quốc phòng, nhưng lại đang đối mặt với một mối đe dọa thậm chí còn đáng gờm hơn”.

Đối với Biển Đông, ông Hegseth chỉ trích Trung Quốc đang tìm cách đe dọa các nước ở Biển Đông ngay trong vùng biển của các nước này; quân sự hóa các đảo nhân tạo trái phép ở Biển Đông, quấy rối các nước láng giềng bằng các hành động như đâm va, dùng vòi rồng chế áp tàu thuyền các nước và sử dụng khả năng mạng để đánh cắp công nghệ; cho rằng, những hành động này thể hiện “sự thiếu tôn trọng cơ bản của Trung Quốc đối với các nước láng giềng và thách thức chủ quyền, tự do hàng hải và hàng không”.

Sau phát biểu của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, phái đoàn Trung Quốc cũng đã có phát biểu phản bác, cho rằng những phát biểu của ông Hegseth là “vô căn cứ” nhằm “kích động đối đầu” và gây bất ổn khu vực. Hợp lực với đoàn Trung Quốc, ngày 01/6/2025, Bộ Ngoại giao Trung Quốc ra tuyên bố phản đối những phát biểu của ông Pete Hegseth, gọi những phát ngôn này là “phỉ báng” Trung Quốc và nhằm mục đích “gây chia rẽ”, đồng thời cáo buộc Washington đã triển khai vũ khí tấn công tại Biển Đông – ám chỉ việc Mỹ triển khai hệ thống tên lửa Typhon tại Philippines, gây căng thẳng tại châu Á – Thái Bình Dương; cho rằng, việc ông Hegseth kêu gọi thiết lập “sự răn đe tập thể” ở khu vực là biến Biển Đông thành “thùng thuốc súng” và nhằm vào Trung Quốc. Ngoài ra, Bộ Ngoại giao Trung Quốc cũng cảnh báo Mỹ “không nên đùa với lửa” về vấn đề Đài Loan.

Tại SLD năm 2025, nhiều quốc gia Đông Nam Á cũng có tham luận, trong đó tiếp tục nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Đông và không đứng về bên nào trong cạnh tranh cường quốc. Tuy nhiên, so với năm 2024, ASEAN đã thể hiện quan điểm thực tế hơn, thẳng thắn hơn về những thách thức đang làm suy giảm vai trò trung tâm của khối. Trong phát biểu của mình, Bộ trưởng Quốc phòng Singapore Chan Chun Sing khẳng định, ASEAN “không chỉ là người điều phối, mà cần phải giữ vai trò kiến tạo” trong cấu trúc an ninh khu vực. Philippines tiếp tục lên án các hành động vi phạm chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông, đồng thời ủng hộ sự hiện diện của Mỹ trong khu vực như một yếu tố cân bằng chiến lược cần thiết. Indonesia thể hiện vai trò trung gian tích cực hơn trong các sáng kiến duy trì đối thoại khu vực, trong khi Việt Nam tiếp tục đề cao và khẳng định quan điểm độc lập, tự chủ, không liên minh quân sự, kiên trì thúc đẩy giải pháp hòa bình dựa trên luật pháp quốc tế trong giải quyết tranh chấp biển, đảo.

Thấy gì về diễn biến hội nghị và nội dung các tham luận, thảo luận của các nước tại SLD lần thứ 22

Thứ nhất, tại SLD năm 2025, Biển Đông và an ninh Biển Đông vẫn là vấn đề được đề cập nhiều. Nghĩa là, vấn đề này không chỉ giới hạn trong một phiên họp đặc biệt, mà còn được tích hợp liền mạch, cả trực tiếp và gián tiếp vào các phiên họp toàn thể rộng hơn trong suốt quá trình diễn ra SLD. Nhiều tham luận và phát biểu bày tỏ mối quan ngại, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm duy trì môi trường hòa bình, ổn định và phát triển ở Biển Đông, trong đó các giải pháp của Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam được dư luận đánh giá cao.

Thứ hai, việc Tổng thống Pháp Emmanuel Macron được mời và phát biểu trong phiên khai mạc SLD năm 2025 là động thái cho thấy vai trò, sự quan tâm và cam kết nhiều hơn của Pháp trong khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Tuy tập trung nhiều vào bức tranh an ninh toàn cầu, đặc biệt là mối quan ngại về đối đầu Mỹ – Trung, không nêu chi tiết về vấn đề Biển Đông, nhưng qua phát biểu của ông Macron, cũng như thực tế kể từ khi công bố Chiến lược Ấn Ðộ Dương – Thái Bình Dương (2018) cho thấy, Pháp đã và đang gia tăng và đa dạng hóa hiện diện quân sự trong khu vực, như ký một số thỏa thuận vũ khí với Indonesia, Singapore, gần đây là dự án viện trợ trị giá 438 triệu USD để cung cấp 40 tàu tuần tra cũng như hỗ trợ hậu cần cho Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines. Mới đây, Pháp cử tàu sân bay hạt nhân Charles de Gaulle tham gia một nhiệm vụ ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Động thái này được cho là nhằm gửi “thông điệp” tới các đồng minh và cả những cường quốc đối thủ trong khu vực về cam kết của Pháp trong bảo vệ Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương hòa bình, ổn định và phát triển, trong đó có Biển Đông. Điều cần lưu ý ở đây là, trong đề xuất hợp tác với khu vực tại SLD năm 2025, Pháp đề cao hợp tác trong lĩnh vực quốc phòng – an ninh hơn.

Thứ ba, về phía Mỹ, cách tiếp cận chiến lược đối với khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, trong đó có Biển Đông, của Washington đã có sự điều chỉnh rõ rệt. Ông Pete Hegseth không chỉ thể hiện lập trường cứng rắn, mà còn nâng tầm cảnh báo khi gọi Trung Quốc là “một mối đe dọa thực tế”. Nếu như tại SLD năm 2024, người tiền nhiệm của ông là Bộ trưởng Lloyd Austin còn để ngỏ cơ hội tìm kiếm các biện pháp xây dựng lòng tin với Bắc Kinh, thì tại SLD năm 2025, diễn ngôn của ông Pete Hegseth đã cứng rắn, chỉ trích và tấn công trực diện nhiều hơn vào Trung Quốc. Chính sách mới của Mỹ là giảm bớt cam kết đa phương để thúc đẩy quan hệ song phương với các đồng minh, đối tác theo hướng “lợi ích nước Mỹ là trên hết” và “hòa bình dựa trên sức mạnh”. Việc Mỹ chỉ trích Trung Quốc “quân sự hóa bất hợp pháp các thực thể” và “quấy rối các nước láng giềng” ở Biển Đông là thông điệp cho thấy, Washington sẽ tiếp tục thách thức các tuyên bố chủ quyền phi lý và hành vi cưỡng ép của Trung Quốc trong vùng biển này, đặc biệt là trong lĩnh vực tự do hàng hải.

Thứ tư, lần đầu tiên kể từ năm 2019, Trung Quốc không cử Bộ trưởng Quốc phòng tham dự SLD, mà chỉ cử phái đoàn đại diện. Sự vắng mặt “bất thường” này có thể do Bắc Kinh luôn đổ lỗi cho Mỹ là “kẻ gây rối” và “thiếu thiện chí hợp tác” với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông, vì vậy Trung Quốc không muốn gặp Mỹ tại SLD năm 2025. Nhưng mặt khác, cũng có thể do Trung Quốc thời gian qua đã có nhiều hành động “sai trái” ở Biển Đông nên “ngại rằng” nếu tham dự sẽ bị Mỹ và các nước chỉ trích, chất vấn nhiều hơn, từ đó dễ bị “bẽ mặt”, dẫn đến làm suy giảm hình ảnh quốc gia đóng vai trò “kiến tạo trật tự khu vực” mà Trung Quốc đang tuyên truyền. Sau bài phát biểu của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, tờ Thời báo Hoàn cầu của Trung Quốc lập tức đã đưa tin ngắn gọn về bài phát biểu của ông Pete Hegseth với hàm ý, Bắc Kinh đã đúng khi không cử Bộ trưởng Quốc phòng tham dự SLD năm 2025. Sự vắng mặt của đại diện cấp cao Quân đội Trung Quốc khiến giới quan sát lo ngại về khả năng Bắc Kinh đang thu hẹp không gian đối thoại quân sự cấp Bộ trưởng Quốc phòng với Mỹ, nhất là khi ông Pete Hegseth tuyên bố: “Mỹ sẽ không nhân nhượng trước các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông và eo biển Đài Loan”. Đài BBC (Anh) gọi đây là “khoảng trống mang tính biểu tượng” về sự rạn nứt trong nỗ lực duy trì đối thoại song phương Mỹ – Trung.

Có thể nói, so với năm 2024, SLD năm 2025 đã phản ánh nhu cầu chuyển hướng chiến lược của một số nước lớn và nước tầm trung vào khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương ngày càng cao hơn. Trong xu hướng đó, cạnh tranh chiến lược Mỹ – Trung trở thành chủ đề phủ bóng, là trục xuyên suốt toàn bộ SLD năm 2025. Đối với Biển Đông, nhiều tiếng nói tích cực đã được đề cập cả trực tiếp và gián tiếp trong các tham luận quan trọng, nhưng chưa thể khẳng định an ninh ở đây sẽ được cải thiện đáng kể trong thời gian tới do khu vực này vẫn còn nhiều thách thức lớn, như: 1/ Châu Á đang ở “tâm điểm” của cạnh tranh quyền lực Mỹ – Trung, các quan điểm trái chiều giữa hai cường quốc về Biển Đông vẫn rất rõ ràng, tiềm ẩn nguy cơ xung đột. 2/ Việc Trung Quốc không cử Bộ trưởng Quốc phòng tham dự SLD năm 2025 sẽ làm giảm hiệu quả của các cuộc đối thoại trực tiếp cấp cao, trong khi đây là kênh rất quan trọng để giảm thiểu căng thẳng. 3/ Các tuyên bố chủ quyền chồng lấn vẫn không thay đổi, các hoạt động xây dựng, quân sự hóa vẫn diễn ra, gây căng thẳng, chưa có giải pháp rõ ràng. 4/ Khoảng cách giữa lời nói và hành động ở Biển Đông vẫn “bất nhất”, thậm chí là “bất chấp”, đặc biệt là từ phía Trung Quốc, khiến các bên thiếu niềm tin chiến lược. Trong bối cảnh đó, để duy trì hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực, Việt Nam cần tiếp tục thúc đẩy củng cố đoàn kết nội khối ASEAN để bảo vệ vai trò trung tâm, giữ vững lập trường và năng lực tự vệ ở Biển Đông trước các hành vi làm phức tạp thêm tình hình của các thế lực bên ngoài; cân bằng quan hệ với các cường quốc trong khi vẫn duy trì chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ; tận dụng các cơ hội hợp tác quốc phòng song phương để tăng cường khả năng phòng thủ mà không bị cuốn vào liên minh quân sự, qua đó khẳng định vị thế là một tác nhân tích cực, chủ động và có trách nhiệm trong kiến tạo hòa bình vì sự ổn định, an ninh, thịnh vượng ở khu vực và thế giới.

]]>
Ấn Độ coi trọng khu vực Biển Đông hơn qua các thương vụ bán tên lửa BrahMos https://biendong.net/2025/06/02/an-do-coi-trong-khu-vuc-bien-dong-hon-qua-cac-thuong-vu-ban-ten-lua-brahmos/ Mon, 02 Jun 2025 02:23:00 +0000 https://biendong.net/?p=153702 Trong bối cảnh phải liên tục đối đầu với Trung Quốc ở Biển Đông, Philippines là quốc gia Đông Nam Á đầu tiên được Ấn Độ bá cho hệ thống tên lửa siêu thanh BrahMos. Năm 2024, Philippines đã nhận được hệ thống BrahMos đầu tiên. Việt Nam là nước tiếp theo đang trao đổi với Ấn Độ về thương vụ tên lửa BrahMos ở giai đoạn cuối; theo một số nguồn tin, New Delhi và Hà Nội sắp ký thỏa thuận về thương vụ hệ thống tên lửa BrahMos trị giá 700 triệu USD.

Indonesia đang chuẩn bị trở thành khách hàng nhiệt tình thứ 3 tại Đông Nam Á mua loại tên lửa sát thương này. Trong khi đó, Malaysia và Thái Lan đang cân nhắc mua loại tên lửa này trong tương lai.

Một trong những mục tiêu quan trọng trong chuyến thăm New Delhi của Tổng thống Indonesia Prabowo Subianto vào tháng 1/2025 là tìm hiểu về việc mua hệ thống tên lửa siêu thanh BrahMos. Trong thời gian chuyến thăm, Tổng thống Indonesia Prabowo Subianto đã gặp Giám đốc điều hành BrahMos Jaiteerth Joshi trước sự chứng kiến của Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi. Một phái đoàn cấp cao do Tư lệnh hải quân Indonesia, Đô đốc Muhammad Ali dẫn đầu cũng đã đến thăm trụ sở của tập đoàn BrahMos.

Các quốc gia nói trên đặc biệt quan tâm đến các biến thể chống hạm của BrahMos, có công dụng nổi bật là chống lại sự can thiệp của Trung Quốc vào các hoạt động hải quân của họ trên Biển Đông. Giới phân tích quân sự nhận định khả năng đã được chứng minh của hệ thống tên lửa siêu thanh BrahMos dẫn đến quyết định mua của các nước ven Biển Đông mong muốn trang bị loại tên lửa này. Việc đưa tên lửa BrahMos vào vùng lân cận của Trung Quốc, đặc biệt là ở khu vực biển đang có tranh chấp ở Biển Đông, khiến các nhà quân sự Trung Quốc lo ngại.

Hệ thống tên lửa BrahMos đã nổi lên như một loại vũ khí cực kỳ thành công và được Ấn Độ sản xuất và xuất khẩu theo nhu cầu. Được phát triển thông qua liên doanh Ấn Độ-Nga, BrahMos dựa trên hệ thống tên lửa P-800 Oniks “Yakhon” của Nga, với những cải tiến đáng kể về tính năng và khả năng. Đây là tên lửa siêu thanh tầm trung, sử dụng động cơ ramjet được thiết kế để sử dụng trong mọi lĩnh vực – trên không, trên biển và trên bộ. BrahMos có thể đạt tốc độ Mach 2,8 và có tầm bắn lên tới 800 km; tuy nhiên, các phiên bản xuất khẩu bị giới hạn ở tầm bắn 290 km do các hạn chế của “Cơ chế kiểm soát công nghệ tên lửa” (MTCR). Các lực lượng Ấn Độ đã đưa nhiều biến thể của tên lửa này vào kho vũ khí của riêng họ kể từ năm 2007.

Mặc dù vậy, BrahMos vẫn phải đối mặt với những thách thức trong việc tìm kiếm cơ hội xuất khẩu. Ban đầu, nó cạnh tranh trực tiếp với tên lửa Yakhont mà Nga cung cấp cho Indonesia (năm 2007), Việt Nam (năm 2010–2011) và các nước khác vào đầu những năm 2010. Ấn Độ cũng gặp phải sự phản đối của Nga về vấn đề sở hữu trí tuệ, làm phức tạp triển vọng xuất khẩu. Cách tiếp cận thận trọng của chính phủ Ấn Độ khi cân nhắc đến sự nhạy cảm của Trung Quốc cũng ảnh hưởng đến các quyết định, đặc biệt liên quan đến những người mua ở Đông Nam Á.

Những trở ngại này hầu như không còn nữa khi sự phụ thuộc về công nghệ của Ấn Độ vào Nga để sản xuất tên lửa này đã giảm đáng kể. Hơn nữa, khi quan hệ Ấn Độ-Trung Quốc trở nên căng thẳng và Bắc Kinh gia tăng hành vi hung hăng, Ấn Độ đã từ bỏ các hạn chế tự áp đặt đối với xuất khẩu quốc phòng. Do đó, tên lửa BrahMos nổi lên như một công cụ quan trọng trong chính sách ngoại giao-quốc phòng của Ấn Độ vào những năm 2020.

Philippines là nước đầu tiên được hưởng lợi từ sự thay đổi này, hoàn tất một thỏa thuận trị giá 375 triệu USD vào tháng 1/2022 để trang bị cho lực lượng thủy quân lục chiến của mình 3 tổ hợp tên lửa. Thỏa thuận bao gồm hỗ trợ đào tạo và bảo dưỡng, và hệ thống tên lửa đầu tiên đã được chuyển giao vào tháng 4/2024. Việc mua sắm này dường như đã củng cố sự quan tâm của Philippines, vì lực lượng của nước này hiện đang đàm phán để mua thêm các tổ hợp tên lửa.

Việt Nam – khách hàng tiềm năng thứ 2 – đã thể hiện sự quan tâm đến BrahMos kể từ những năm 2010, hiện đang hoàn tất thỏa thuận trị giá 700 triệu USD cho 5 tổ hợp tên lửa, với các chi tiết kỹ thuật thương mại đã được chia sẻ. Tương tự như vậy, Indonesia đang đàm phán một hợp đồng trị giá 450 triệu USD, khi hoàn tất, sẽ củng cố thêm “Chính sách Hành động hướng Đông” của Ấn Độ đối với lĩnh vực quốc phòng ở Đông Nam Á.

Đối với Trung Quốc, sự phổ biến của tên lửa BrahMos ở khu vực xung quanh Biển Đông đặt ra một thách thức đáng kể. Trung Quốc nhận thức rõ về các tính năng tiên tiến của tên lửa, bao gồm hình dạng giống phi tiêu để có khả năng xuyên phá mạnh, lớp phủ hấp thụ radar để tàng hình, động cơ phản lực hạn chế thời gian phản ứng của đối phương và hệ thống dẫn đường tổng hợp có độ chính xác cao bao gồm các thành phần radar INS (Hệ thống dẫn đường quán tính), SNS (Bộ mô phỏng mạng cảm biến) và A/P (truyền tín hiệu bất thường).

Ngoài ra, khả năng chống nhiễu khiến BrahMos trở thành tên lửa tầm xa đáng tin cậy. Các chuyên gia Trung Quốc đã mô tả nó là “kẻ gây rối tiềm tàng cho an ninh quốc tế” do khả năng và phạm vi của nó. Đáng chú ý, vào năm 2021, việc triển khai tên lửa BrahMos gần Đường kiểm soát thực tế (LAC) của Ấn Độ trên biên giới giữa Ấn Độ và Trung Quốc, sau sự cố Galwan, đã gây ra phản ứng gay gắt từ Trung Quốc, coi động thái này là trở ngại cho các cuộc đàm phán song phương.

Trung Quốc lo ngại về BrahMos được thể hiện trên 3 mặt: một là, Bắc Kinh thất vọng trước thỏa thuận của Nga để Ấn Độ xuất khẩu BrahMos sang Philippines và các quốc gia Đông Nam Á khác, cho rằng Nga thờ ơ trước các mối quan ngại về an ninh quốc gia của Trung Quốc; hai là, các học giả Trung Quốc lập luận rằng việc triển khai BrahMos ở Đông Nam Á có thể phá vỡ sự ổn định của Biển Đông, gây ra một cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực và làm leo thang căng thẳng và đối đầu tại các điểm nóng hiện có; ba là, việc triển khai BrahMos tiềm tàng ở Việt Nam để phòng thủ bờ biển và các hoạt động chống hạm đặc biệt gây lo ngại cho Trung Quốc, vì nó sẽ có tác dụng kìm hãm phía Tây Biển Đông. Hơn nữa, tên lửa BrahMos là mối đe dọa đặc biệt đối với các nền tảng hải quân lớn của Trung Quốc, cụ thể là tàu đổ bộ và tàu tuần duyên thiếu khả năng phòng không đầy đủ.

Trong trường hợp của Philippines, các mô phỏng cho thấy việc phóng 24-36 tên lửa BrahMos có thể gây thiệt hại đáng kể cho một nhóm tác chiến tàu sân bay của Trung Quốc, mang lại cho lực lượng Philippines đòn bẩy quan trọng trong các khu vực biển của họ. Khi Philippines triển khai tên lửa BrahMos ở 2 tỉnh Zambales, Luzon, và với khả năng triển khai trong tương lai ở quần đảo Calayan, Lubang hoặc Palawan, những tên lửa này có thể bao phủ các khu vực quan trọng trên Biển Đông như Bãi cạn Scarborough, Bãi Cỏ Mây và khu vực kéo dài từ Eo biển Đài Loan đến quần đảo Trường Sa. Mặt khác, Trung Quốc còn lo ngại khả năng hợp tác, phối hợp giữa Việt Nam và Philippines.

Phản bác lại tầm quan trọng của tên lửa BrahMos ở Biển Đông, các nhà phân tích Trung Quốc lập luận rằng lực lượng Philippines và Việt Nam không có hệ thống radar tầm xa để cung cấp mục tiêu cho tên lửa BrahMos. Tuy nhiên, trong trường hợp các khu vực tranh chấp như Bãi cạn Scarborough, vị trí của các mục tiêu đã được biết rõ. Mặt khác, Philippines đã mua các hệ thống radar từ Nhật Bản và Israel, cùng với những nước khác, để thiết lập biểu đồ bong bóng radar xung quanh vùng biển ngoại vi của mình.

Theo quan điểm của Trung Quốc, Ấn Độ đang theo đuổi nhiều mục tiêu thông qua các thỏa thuận tên lửa BrahMos của mình. Những mục tiêu này bao gồm phòng ngừa quan hệ Trung-Ấn, định vị mình là một nhà xuất khẩu vũ khí lớn và đáng tin cậy, củng cố quan hệ đối tác hàng hải của mình ở Đông Nam Á, đồng thời tận dụng sự hiện diện của hải quân để tác động đến các tranh chấp trên bộ với Trung Quốc. Hơn nữa, Philippines và Việt Nam có thể đóng vai trò là căn cứ trung gian cho các hoạt động của hải quân Ấn Độ, trong khi việc mua sắm của Indonesia và các thỏa thuận trong tương lai với Malaysia và các nước khác sẽ thúc đẩy hơn nữa vị thế xuất khẩu vũ khí của Ấn Độ trên toàn cầu.

Ngoài những tác động về mặt quân sự, Trung Quốc coi các hợp đồng tên lửa BrahMos của Ấn Độ với các quốc gia Đông Nam Á là bước đi nhằm tăng cường “Chính sách Hành động hướng Đông”, củng cố mối quan hệ chiến lược của New Delhi. Các thỏa thuận này có khả năng thúc đẩy mối quan hệ quân sự lâu dài thông qua đào tạo, thay thế phụ tùng và hỗ trợ bảo dưỡng, nhằm gắn kết lợi ích an ninh của các quốc gia này với lợi ích an ninh của Ấn Độ. Kết hợp với các sáng kiến chính trị và ngoại giao hiện có trong “Chính sách Hành động hướng Đông”, các quan hệ đối tác quốc phòng như vậy sẽ nâng cao hơn nữa vị thế và vai trò của Ấn Độ trong khu vực. Giới phân tích nhận định, việc thúc đẩy các hợp đồng bán tên lửa BrahMos cho các nước ven Biển Đông cho thấy Ấn Độ ngày càng quan tâm và coi trọng khu vực Biển Đông hơn. Cho dù Bắc Kinh không hài lòng, song New Delhi không có gì phải e ngại bởi việc làm của Ấn Độ là để hỗ trợ các nước ven Biển Đông chống lại sự bành trướng của Trung Quốc, một việc làm chính nghĩa, góp phần cân bằng cán cân quân sự ở Biển Đông. Thỏa thuận BrahMos có thể đóng vai trò là hợp đồng quan trọng mở đường cho các hoạt động bán vũ khí khác trong tương lai của Ấn Độ không chỉ ở Đông Nam Á mà ở cả khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Chiến lược này là nhằm cân bằng với Trung Quốc và hành vi cung cấp vũ khí của nước này ở Nam Á.

]]>
Biển Đông sẽ diễn biến như thế nào trong năm 2025 https://biendong.net/2025/05/01/bien-dong-se-dien-bien-nhu-the-nao-trong-nam-2025/ Thu, 01 May 2025 03:13:11 +0000 https://biendong.net/?p=149020 Để dự đoán diễn biến tình hình Biển Đông năm 2025, cần trước hết nói về tình hình Biển Đông năm 2024 vừa qua. Có thể nói năm 2024 là một năm diễn biến căng thẳng ở Biển Đông với nhiều vụ cọ xát, va chạm với tính chất nguy hiểm hơn trên thực địa giữa Trung Quốc với Phi-lip-pin, tiềm ẩn nguy cơ xung đột đi đôi với các động thái pháp lý của các bên khẳng định chủ quyền với yêu sách trái ngược nhau ở Biển Đông.

Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là yêu sách của Trung Quốc lại phi pháp, không tuân thủ Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) được hậu thuẫn bởi sức mạnh của một cường quốc có tiềm lực kinh tế đứng thứ 2 thế giới đặt trong bối cảnh cạnh tranh giữa các nước lớn đan xen đầy không khí đối đầu song buộc phải ngồi nói chuyện với nhau. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến căng thẳng ở Biển Đông, kể cả nguyên nhân do sự can dự của Mỹ khiến tình hình Biển Đông nóng thêm, song có thể khẳng định một điều, nguyên nhân chủ yếu chính của tình hình Biển Đông căng thẳng, phức tạp là do Trung Quốc ra sức triển khai các hoạt động trên thực địa để khẳng định yêu sách phi lý “đường 9 đoạn” và “Tứ Sa” ở Biển Đông bất chấp luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền và vùng biển của tất cả quốc gia Đông Nam Á có yêu sách ở Biển Đông, là nguồn cơn gây lo ngại, gây phản ứng của các nước liên quan, là thách thức lớn nhất đối với hoà bình, ổn định ở Biển Đông.

Nổi bật nhất trong 2024 là Trung Quốc liên tục sử dụng nhiều lực lượng gồm tàu hải cảnh, tàu dân binh, tàu cá, thậm chí tàu chiến hành xử trắng trợn, ngăn cản như phun vòi rồng, chặn tàu của Phi-líp-pin với danh nghĩa thực thi chủ quyền của Trung Quốc, không cho Phi-líp-pin triển khai các hoạt động tuần tra, tiếp tế ở Bãi Cỏ Mây ngay trong vùng đặc quyền kinh tế của Phi-líp-pin, gây ra các vụ va chạm nhỏ giữa hai bên; tranh chấp căng thẳng hơn đối với bãi cạn Scaborough và mở rộng sang bãi Sabina. Trung Quốc cũng cho tàu khảo sát, hải cảnh thường xuyên đi vào vùng đặc quyền kinh tế của các nước như ao nhà, bất chấp luật pháp quốc tế, Công ước luật biển 1982. Các nước Đông Nam Á đều phản đối mạnh mẽ các hoạt động của Trung Quốc, kiên quyết bảo vệ các quyền và lợi ích biển của mình song ở những mức độ khác nhau cứng cỏi hay mềm dẻo, mềm yếu… tuỳ từng nước, tuỳ quan hệ và lợi ích kinh tế, chính trị an ninh với Trung Quốc và Mỹ. Phi-líp-pin liên tiếp triển khai nhiều biện pháp cứng rắn, quyết liệt, công khai dư luận quốc tế thấy các hoạt động xâm phạm trắng trợn của Trung Quốc; dựa hẳn vào đồng minh Mỹ chí cốt và các nước bạn bè ngoài khu vực cùng chí hướng như Nhật Bản, Úc, Pháp nhằm nâng cao khả năng phòng thủ buộc Trung Quốc phải tính toán tới. In-đô-nê-xi-a riêng trong tháng 10/2024 đã có 03 lần đẩy lui tàu Hải cảnh Trung Quốc ra khỏi vùng biển ở khu vực đảo Bắc Natuna mà In-đô-nê-xi-a tuyên bố chủ quyền tại Biển Đông song cũng tích cực thúc đẩy quan hệ với Trung Quốc, hạn chế công khai công kích Trung Quốc, thậm chí thoả thuận cùng khai thác trong vùng chồng lấn mà không xác định được khu vực này ở đâu gây khó hiểu nghi hoặc cho nội bộ Indonesia và khu vực. Ma-lai-xi-a thì tiếp tục chính sách “ngoại giao thầm lặng”, lần đầu tiên chấp nhận ngồi với Trung Quốc tiến hành đối thoại về biển, song không biết có thực chất không, mặt khác vẫn khẳng định sẽ tiến hành hoạt động thăm dò dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế của Ma-lai-xi-a bất chấp phản đối của Trung Quốc. Việt Nam thì kiên quyết phản đối các hoạt động xâm phạm của Trung Quốc và kiểm soát kể cả trấn áp tàu cá của Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa. 

  Đáng chú ý, giai đoạn 2024 đã chứng kiến một loạt các động thái pháp lý để các bên khẳng định yêu sách. Ngày 15/6, Phi-líp-pin đệ đơn lên Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên hợp quốc, yêu cầu “thiết lập ranh giới ngoài thềm lục địa Phi-líp-pin” cách bờ tây đảo Palawan 648 km. Ngày 08/11, Tổng thống Phi-lip-pin Ferdinand Marcos ký, ban hành hai Đạo luật “Các vùng biển Phi-líp-pin” và Đạo luật “Luồng hàng hải vùng nước quần đảo Phi-líp-pin” nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về biển của Phi-líp-pin.  Ngay sau đó, để phản ứng với Phi-líp-pin, Trung Quốc phản ứng rất nhanh và mạnh với việc Phi-líp-pin ban hành hai Đạo luật mới về biển. Liên tiếp từ ngày 08 – 10/11, Trung Quốc đồng loạt ra tuyên bố phản đối hai đạo luật của Phi-líp-pin, công bố đường cơ sở thẳng đối với bãi Scarborough với 15 điểm cơ sở; công bố tên gọi 64 thực thể nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Phi-líp-pin. Hải cảnh Trung Quốc ngày 10/11 ra tuyên bố khẳng định sẽ tăng cường tuần tra, chấp pháp tại lãnh hải và vùng biển liên quan của bãi Scarborough và tổ chức tuần tra sẵn sàng chiến đấu ở lãnh hải, không phận và khu vực bãi Scarborough. Những động thái này có thể sẽ khơi mào một cuộc chiến pháp lý mới trong tương lai. Trước đó, Trung Quốc đã công bố đường cơ sở thẳng ở phía Bắc Vịnh Bắc Bộ trái với quy định của UNCLOS, hạn chế đáng kể quyền tự do đi lại của nhiều tàu thuyền nước ngoài. Đáng lo ngại nhất là việc Trung Quốc ban hành “Quy định về trình tự chấp pháp hành chính của lực lượng hải cảnh”, một kiểu nội luật lại cho phép hải cảnh Trung Quốc mạnh tay xử lý công dân nước ngoài xâm phạm cái gọi là “vùng nội thuỷ và lãnh hải” của Trung Quốc bao gồm cả khu vực Trung Quốc tuyên bố có chủ quyền, quyền quản hạt trái phép ở Biển Đông, thực chất là bắt tàu cá, ngư dân các nước có tranh chấp, thậm chí có cớ “pháp luật” để đâm va tàu thực thi pháp luật của các nước láng giềng.

Nhiều quốc gia bên ngoài khu vực cũng lo ngại với hành động đơn phương và nguy hiểm của Trung Quốc trong thời gian vừa qua, nên bày tỏ tích cực ủng hộ các nước đương sự nhỏ yếu trước người khổng lồ quen dùng sức mạnh Trung Quốc. Mỹ, với vai trò nước bảo hộ của Phi-líp-pin đã tích cực thể hiện vai trò như một người đảm bảo an ninh cho Phi-líp-pin và thậm chí khu vực, liên tục có nhiều động thái răn đe Trung Quốc đã cản trở an ninh, an toàn và tự do hàng hải ở Biển Đông. Nhiều nước khác như Nhật Bản, Úc, Anh, Pháp, Niu Di-lân, Hàn Quốc, EU… lên án mạnh mẽ việc Trung Quốc va chạm với Phi-líp-pin, bác bỏ những yêu sách quá mức và bất hợp pháp của Trung Quốc ở Biển Đông và đều lo sợ Trung Quốc đang trở thành thách thức lớn nhất và là nguyên nhân gây bất ổn ở Biển Đông. Đại diện cấp cao về chính sách an ninh và đối ngoại của EU Josep Berell phát biểu ngày 01/11/2024 lo ngại việc Trung Quốc đang gia tăng “chóng mặt” sức mạnh quân sự ở biển Hoa Đông và Hoa Đông, làm gia tăng căng thẳng, đe dọa đến an ninh và thịnh vượng của Châu Âu.

 Nhìn chung trong năm 2024 các diễn biến căng thẳng, phức tạp ở Biển Đông đã tiếp tục đưa tranh chấp này trở thành một trong những điểm nóng của khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương; thúc đẩy xu thế quốc tế hóa và pháp lý hóa các tranh chấp ở Biển Đông, làm dấy lên nhiều lo ngại về an ninh khu vực. Vậy tình hình Biển Đông năm 2025 sẽ thế nào? Dự đoán Biển Đông sẽ tiếp tục là một điểm nóng với nhiều diễn biến phức tạp và bất ổn. Nhiều học giả nhận định Biển Đông đã trở thành một điểm nóng mới trong khu vực và khiến cộng đồng quốc tế phải liên tiếp lên tiếng bày tỏ lo ngại về tình hình căng thẳng gần đây, có ý kiến còn lo ngại hơn cả vấn đề eo biển Đài Loan. “Mọi người nhìn vào tình hình eo biển Đài Loan, họ lo lắng về năm 2027, nhưng tôi nghĩ chúng ta cần tập trung vào Biển Đông – đó là nơi tôi lo ngại nhất về một cuộc xung đột trong tương lai liên quan đến Mỹ và Trung Quốc”. Có học giả quốc tế cho rằng, “Mỹ cần duy trì sự cân bằng thận trọng, không nên quá khiêu khích và dồn Trung Quốc vào chân tường. Cả hai bên đều có thể hiểu sai hoặc tính toán sai, và điều đó có thể nhanh chóng khiến cuộc khủng hoảng biến thành xung đột”. “Malaysia, nước Chủ tịch ASEAN 2025 có thể sẽ ưu tiên thúc đẩy các cuộc đàm phán về Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông, nhấn mạnh lợi ích chung của ASEAN trong việc đảm bảo cách tiếp cận dựa trên luật lệ đối với các tranh chấp biển”. Một học giả khác thì phát biểu: “Tuy nhiên, nếu Malaysia bị coi là có xu hướng quá gần gũi với Trung Quốc, nước này có thể gặp thách thức trong việc duy trì lòng tin của những nước có yêu sách khác có lập trường quyết đoán hơn trong việc bảo vệ các yêu sách lãnh thổ của mình”. “Malaysia sẽ cần phải cân nhắc cẩn thận, giải quyết những lo ngại về an ninh của các đối tác ASEAN trong khi tránh đối đầu trực tiếp với Trung Quốc”.

Kịch bản nào thật chính xác ở Biển Đông trong năm 2025 là điều rất khó dự báo. Có một điều chắc chắn là Trung Quốc sẽ không từ bỏ ý đồ độc chiếm Biển Đông và sẵn sàng bất chấp luật pháp quốc tế, xâm phạm vùng biển của các nước tranh chấp trên thực địa, nhất là Phi-líp-pin. Tuy nhiên, có thể có 3 khả năng cho tình hình Biển Đông năm 2025.

 Khả năng thứ nhất, nhiều khả năng nhất là tình hình cơ bản như năm 2024 có nghĩa là tranh chấp, cọ xát giữa Trung Quốc – Phi-líp-pin chưa thấy có một giải pháp cơ bản để ổn định tình hình nên diễn biến ở Biển Đông có thể dễ dàng căng thẳng trở lại, lúc căng lúc chùng. Tuy nhiên, cả hai bên đều mong muốn không để tranh chấp vượt tầm kiểm soát, cố gắng duy trì đối thoại. Ngày 16/1/2025, hai bên tổ chức cơ chế đối tham vấn song phương về Biển Đông lần thứ 10, nhất trí thúc đẩy hợp tác khoa học biển, cam kết giải quyết vấn đề bằng hoà bình. Thứ trưởng Ngoại giao Phi-lip-pin nêu nõ tin tưởng dù còn thách thức song vẫn có không gian cho sự hợp tác ngoại giao và thực tiễn trong giải quyết vấn đề Biển Đông” Tàu hải cảnh, khảo sát, dân binh Trung Quốc thường xuyên đi vào vùng đặc quyền kinh tế của các nước láng giềng cái gọi là có tranh chấp như cơm bữa gây cọ xát thường xuyên. Chính sách Biển Đông của Mỹ vẫn tiếp tục kế thừa chính sách của chính quyền Biden, kiềm chế Trung Quốc song vẫn duy trì tiếp xúc, đối thoại. Tàu bè Mỹ và đồng minh diễn tập thường xuyên ở Biển Đông đã thành trạng thái bình thường mới.

Khả năng hai, tình hình trở nên bất ổn hơn do nhiều nhân tố như Trung Quốc tranh thủ gia tăng các hoạt động xâm phạm nhằm vào các nước láng giềng nhằm mở rộng thế đứng nhất là trong tình hình có nhiều ý kiến lo ngại Mỹ dưới thời Trump sẽ có nhiều động thái coi nhẹ quan hệ đồng minh Phi-lip-pin nên không thực sự tích cực hỗ trợ Phi-lip-pin; bất định và khó dự đoán nên quan hệ Mỹ – Phi-líp-pin, trong đó có Hiệp ước phòng thủ giữa hai đồng minh này một lần nữa đứng trước thử thách mới. Theo trang Chamthamhouse  của Viện nghiên cứu quốc tế Hoàng Gia Anh ngày 16/1/2025 cho rằng chính quyền Trump 2.0 phải chắc chắn hơn trong lập trường với Trung Quốc nếu không sẽ gây rủi ro leo thang ngoài ý muốn đối với các điểm nóng Đài Loan và Biển Đông. Lập trường mơ hồ của Trump đối với Trung Quốc sẽ làm tăng nguy cơ xung đột ở Biển Đông hàm ý Trung Quốc sẽ dùng vũ lực ở Biển Đông.

Khả năng cuối cùng, cũng xảy ra khủng hoảng lớn ở Biển Đông. Phi-lip-pin cứng rắn thách thức với Trung Quốc trên thực địa, được hậu thuẫn mạnh mẽ của chính quyền Trump. Bùng phát xung đột cục bộ, Mỹ cũng tham gia ảnh hưởng lớn đối với hoà bình ổn định ở khu vực, kết cục rất khó lường ở hai chiều, cả thuận lợi và khó khăn. Khả năng này là khó đối với một nước Mỹ trên hết như ông Trump nếu không có những nhân vật cứng rắn đối với Trung Quốc như tân ngoại trưởng Marco Rubio và Cố vấn an ninh quốc gia Mike Waltz có tiếng nói để ông Trump nghe như Ngoại trưởng Pompeo trong giai đoạn Trump 1.0 trước đây. Trump không muốn nước Mỹ tham chiến ở nước ngoài.  Tóm lại, chiều hướng chính sách của các nhân tố chính ở Biển Đông sẽ quyết định cục diện Biển Đông trong năm 2025, các nhân tố đó gồm:  quyết tâm của Phi-lip-pin và các nước Đông Nam Á có tranh chấp đến đâu; tiếp đó là sự ủng hộ hỗ trợ của Mỹ sẽ đến đâu đối với các nước này và vai trò răn đe kiềm chế Trung Quốc đến đâu; cuối cùng là phản ứng của Trung Quốc vốn thể hiện hết sức hung hăng, cứng rắn sẽ phản ứng như thế nào lại phụ thuộc vào chính phản ứng của hai nhân tố trên. Trung Quốc sẽ mềm nắn, rắn buông hay cứng rắn chọi cứng rắn? Chúng ta hãy cùng chờ xem diễn biến trên biển Đông trong năm 2025 này sẽ như thế nào.

]]>
Giải phóng Trường Sa, “cánh quân thứ sáu” trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 https://biendong.net/2025/04/29/giai-phong-truong-sa-canh-quan-thu-sau-trong-cuoc-tong-tien-cong-va-noi-day-mua-xuan-nam-1975/ Tue, 29 Apr 2025 07:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=148477 Cách đây đúng 50 năm, vào những ngày nửa cuối tháng 4/1975, cùng với năm cánh quân tiến về giải phóng Sài Gòn, trên hướng Biển Đông, lực lượng Hải quân Nhân dân Việt Nam đã tổ chức một chiến dịch quân sự, giải phóng toàn bộ quần đảo Trường Sa và các đảo miền duyên hải Nam Trung Bộ và Nam Bộ.

Chiến dịch tuy có quy mô không lớn như trên đất liền, nhưng được coi như là “cánh quân thứ sáu”, hòa cùng với năm cánh quân Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy hy sinh gian khổ nhưng vô cùng anh dũng của dân tộc ta. Thời gian đã lùi xa, nhưng ý nghĩa lịch sử của chiến dịch này vẫn chói sáng như ánh bình minh trên Biển Đông đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc hiện nay cũng như trong tương lai.

Giải phóng Trường Sa – “sự kiện đặc biệt” góp phần vào thắng lợi của Đại thắng mùa Xuân năm 1975

Quần đảo Trường Sa có trên 100 đảo lớn nhỏ, bãi đá và bãi san hô ngầm, với diện tích khoảng 180.000 km2 nằm ở giữa Biển Đông, thuộc chủ quyền của Việt Nam. Thời điểm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, quân đội Việt Nam Cộng hòa đóng giữ 5 đảo, gồm: Nam Yết, Trường Sa, Sơn Ca, Sinh Tồn và Song Tử Tây. Đảo Nam Yết là nơi chúng đặt Sở chỉ huy trung tâm. Tổng quân số của quân đội Việt Nam Cộng hòa trên các đảo khoảng 160 người, thuộc Tiểu đoàn 371, địa phương quân Phước Tuy.

Khi cục diện chiến tranh có sự chuyển biến mau lẹ theo hướng ngày càng có lợi cho cách mạng, từ ngày 30/9 – 8/10/1974, Đảng ta đã triệu tập Hội nghị Bộ Chính trị hạ quyết tâm chiến lược: “Động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy cuối cùng, giải phóng hoàn toàn miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, tiến tới thống nhất nước nhà”.

Sau Hội nghị trên, Bộ Tư lệnh Hải quân Nhân dân Việt Nam và một số tướng lĩnh đã đề đạt với Đại tướng Võ Nguyên Giáp kế hoạch giải phóng Trường Sa, Đại tướng đồng ý ngay vì đây là phần lãnh thổ thiêng liêng của đất nước nên giải phóng miền Nam không thể không giải phóng phần lãnh thổ này.

Cuối năm 1974, đầu năm 1975, địch đã suy yếu rõ rệt trên mọi hướng chiến trường, trong đó có cả hướng biển. Đặc biệt, sau chiến thắng Ban Mê Thuật (24/3/1975), nhận thấy thời điểm thuận lợi để giải phóng các đảo trên quần đảo Trường Sa do quân đội Việt Nam Cộng hòa đang chiếm giữ đã tới, Quân uỷ Trung ương kiến nghị với Bộ Chính trị: “Vừa chuẩn bị cho trận quyết chiến chiến lược cuối cùng, vừa tiến hành giải phóng các đảo và quần đảo quân ngụy đang chiếm giữ”. Kiến nghị này đã được ghi vào Nghị quyết Bộ Chính trị ngày 25/3/1975. Sau này, trong cuốn hồi ký “Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng” của mình, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phân tích rất sâu sắc về sự kiện này và cho biết, việc xác định chủ trương giải phóng Trường Sa là “một sự kiện đặc biệt đã diễn ra ngoài kế hoạch chiến lược ban đầu”.

Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, ngày 30/3/1975, Quân ủy Trung ương gửi điện cho chỉ huy, lãnh đạo Quân khu 5: “Thường vụ giao cho Khu ủy và Bộ Tư lệnh B1 nhiệm vụ nghiên cứu, chỉ đạo thực hiện gấp rút, nhằm thời cơ thuận lợi nhất, đánh chiếm các đảo hiện do quân ngụy miền Nam chiếm đóng thuộc quần đảo Trường Sa”.

Sau khi Huế và Đà Nẵng được giải phóng, những điều kiện và thời cơ để tổ chức giải phóng các đảo, quần đảo trên vùng biển Việt Nam đã xuất hiện, cần phải kịp thời hành động ngay. Chiều ngày 04/4/1975, Quân ủy Trung ương đã chỉ thị: “Nghiên cứu và chỉ đạo thực hiện gấp rút, nhằm thời cơ thuận lợi nhanh nhất, đánh chiếm các đảo do quân ngụy miền Nam đang chiếm đóng ở quần đảo Trường Sa, không cho bất cứ kẻ nào xâm chiếm các nơi đó”, nhấn mạnh: “Đây là nhiệm vụ rất quan trọng”. Cả Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lê Duẩn và Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp lúc đó đều thống nhất: Phải khẩn trương giải phóng Trường Sa ngay vì nếu để chậm thì quân đội “nước ngoài” sẽ xâm chiếm, tình hình sẽ vô cùng phức tạp.

Trước yêu cầu gấp rút, khẩn trương của Quân ủy Trung ương, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 đã phối hợp với Bộ Tư lệnh Quân chủng Hải quân, nhanh chóng tổ chức lực lượng thực hiện nhiệm vụ triển khai tổ chức chiến đấu, giải phóng các đảo trên quần đảo Trường Sa theo phương án đánh chiếm từng đảo.

Ngày 09/4/1975, sau khi nhận được báo cáo của Cục Quân báo, Bộ Tổng Tham mưu về việc địch có biểu hiện rút quân khỏi các đảo trên Biển Đông, Quân ủy Trung ương liền điện “tối khẩn” cho lãnh đạo Quân khu 5 và Quân chủng Hải quân: “Có tin, quân ngụy chuẩn bị rút khỏi đảo Trường Sa. Các anh cho kiểm tra lại ngay và chỉ thị cho lực lượng ta hành động kịp thời theo phương án đã định. Nếu để chậm, có thể quân nước ngoài chiếm trước, vì hiện nay một số nước ngoài đang có ý đồ xâm chiếm”.

Thực hiện “quân lệnh” trên, 4 giờ sáng ngày 11/4/1975, các tàu vận tải 673, 674, 675 chở lực lượng Đoàn C75 bí mật rời quân cảng Đà Nẵng ra đánh chiếm các đảo ở Trường Sa với phương châm tác chiến “bí mật, bất ngờ”.

Ngày 13/4/1975, sau khi nhận được kế hoạch đánh chiếm các đảo gửi về Tổng hành dinh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ đạo: “Thời cơ cụ thể đánh chiếm là: Nếu địch đã rút toàn bộ hoặc rút đại bộ phận thì đánh chiếm ngay và nếu quân nước ngoài đánh chiếm trước thì đánh chiếm lại; nếu địch mới có triệu chứng rút hoặc bắt đầu rút thì theo dõi, kịp thời đánh chiếm khi địch rút đại bộ phận; khi tình hình chung của địch nguy khốn, nhất là tình hình địch ở trọng điểm, thì đánh chiếm ngay”.

Đúng 4 giờ 30 phút sáng ngày 14/4/1975, lực lượng ta đổ bộ lên đảo Song Tử Tây và chủ động khai hỏa bằng loạt đạn DKZ. Địch chống trả, nhưng hỏa lực của ta đã dội lửa, hỗ trợ kịp thời cho đặc công, bộ binh xông lên đánh chiếm mục tiêu. Sau 30 phút, toàn bộ quân địch trên đảo bị tiêu diệt và bắt sống, lá cờ giải phóng đầu tiên tung bay phấp phới trên cột cờ đảo Song Tử Tây.

Tiếp tục hành trình giải phóng các đảo còn lại, rạng sáng ngày 25/4/1975, các mũi quân của ta bí mật đổ bộ và tiến công đảo Sơn Ca. Địch bắn trả rời rạc, rồi nhanh chóng bị tiêu diệt và bắt sống toàn bộ. Cùng lúc, lực lượng trinh sát kỹ thuật của ta báo tin, địch trên đất liền đang hết sức nguy khốn, chúng buộc phải rút quân khỏi các đảo còn lại ở Trường Sa. Nhận được tin này, các lực lượng Đoàn C75 khẩn trương đổ bộ đánh chiếm các đảo: 11 giờ 30 phút ngày 27/4/1975, giải phóng đảo Nam Yết; 10 giờ 30 phút ngày 28/4/1975, giải phóng đảo Sinh Tồn và An Bang; 9 giờ 30 phút ngày 29/4/1975, giải phóng đảo Trường Sa Lớn. Cùng với đó, Hải quân Nhân dân Việt Nam tiếp tục chiếm giữ các đảo, như Hòn Sập (sau này đặt tên đảo Phan Vinh), Trường Sa Đông (Đá Giữa), Sinh Tồn Đông, Bãi Thuyền Chài và một số đảo, đá khác thuộc quần đảo Trường Sa.

Như vậy, chỉ trong khoảng nửa tháng (từ 14 – 29/4/1975), với phương châm “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”, trên hướng biển, Đoàn C75 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, giải phóng toàn bộ các đảo do quân ngụy Sài Gòn chiếm giữ ở quần đảo Trường Sa – phần hải đảo thiêng liêng thuộc chủ quyền của Việt Nam.

aGiá trị lịch sử to lớn và những bài học kinh nghiệm quý báu của Chiến dịch giải phóng Trường Sa đối với công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay và tương lai

Trước hết, cần phải khẳng định rằng, thắng lợi của chiến dịch giải phóng Trường Sa là sự tiếp nối truyền thống, ý chí và quyết tâm cao độ không gì lay chuyển nổi của dân tộc ta trong việc giải phóng, bảo vệ từng tấc đất thuộc chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc trong mọi hoàn cảnh, trước bất cứ kẻ thù xâm lược nào. Việc giải phóng các đảo từ tay quân đội Việt Nam Cộng hòa trên quần đảo Trường Sa năm 1975 không chỉ thu hồi lại chủ quyền từ tay những kẻ bán nước, mà còn chứng tỏ rằng, Việt Nam chẳng những có đầy đủ cơ sở pháp lý, mà đã liên tục có mặt trên quần đảo này chí ít là từ thế kỷ 17; là quốc gia duy nhất đã chiếm hữu thật sự và quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa một cách liên tục, chính đáng, phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế.

Giải phóng quần đảo Trường Sa còn có ý nghĩa vô cùng quan trọng là kịp thời ngăn chặn âm mưu đánh chiếm đảo của một số quốc gia trong khu vực, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của đất nước. Thực tế diễn ra vào thời điểm đó cho thấy, ngay trong ngày 29/4/1975, một số tàu “nước ngoài” đã tiến vào gần đảo Trường Sa để “thăm dò” tình hình, nhưng khi thấy cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên các đảo thì họ lùi ra xa. Nếu ta không kịp thời giải phóng các đảo, quân đội “nước ngoài” sẽ xâm chiếm, thì tình hình sẽ vô cùng phức tạp, không chỉ ở thời điểm đó mà còn cả sau này.

Thứ hai, chiến dịch giải phóng Trường Sa diễn ra trong bối cảnh cả nước đang tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy với tinh thần “một ngày bằng 20 năm”, nên chiến công xuất sắc trên hướng biển đã góp phần vào thắng lợi chung của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kéo dài 21 năm của dân tộc. Chiến công này đã tô thắm, góp phần làm rạng rỡ hơn trang sử vàng về truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta.

Thứ ba, chiến dịch đã thể hiện ý thức tuyệt đối chấp hành mệnh lệnh, tinh thần khắc phục khó khăn, sự mưu trí, dũng cảm và tinh thần chiến đấu quả cảm của Quân đội Nhân dân Việt Nam, đặc biệt là lực lượng Hải quân. Bởi, lực lượng tham gia chiến dịch phải vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, do: 1/ Quần đảo Trường Sa quá rộng lớn, các đảo xa nhau, xa đất liền và hậu phương; 2/ Lực lượng đặc công trước đây chỉ quen đánh tàu, chưa có kinh nghiệm đánh chiếm căn cứ, cứ điểm, nhất là đảo ở biển, và cũng chưa từng đến các đảo; 3/ Lực lượng hải quân của Quân đội Việt Nam Cộng hòa lúc bấy giờ còn khá mạnh, khả năng tái chiếm cao. Trong khi đó, lực lượng của ta lại thiếu phương tiện, trang bị nhỏ và ít, chưa quen thuộc địa hình. Thế nhưng, trong quá trình chiến đấu, lực lượng đặc công ta đã hành động rất mưu trí, sáng tạo, quả cảm, quyết đoán, đã triển khai cách đánh của riêng mình, đó là “trinh sát đến đâu đánh đến đó”; bí mật tiếp cận đảo, nhanh chóng đổ bộ vào thời điểm hình thái thủy văn thuận lợi, bất ngờ đánh chiếm mục tiêu, tranh thủ thời cơ có lợi nhất để giải phóng đảo, kiên quyết không để lực lượng nào khác đến chiếm đảo trước ta. Qua đó, tô thắm hơn truyền thống hào hùng của Hải quân Nhân dân Việt Nam, tạo nền tảng chính trị, tinh thần vững chắc cho lực lượng này trong công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong thời kỳ mới.

Thứ tư, ta không chỉ thu hồi, bảo vệ chủ quyền, mà xét về lâu dài, thắng lợi của chiến dịch này còn khẳng định vững chắc cho yêu sách lãnh thổ hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông, giúp Việt Nam duy trì sự hiện diện, củng cố vị thế trong các cuộc đàm phán sau này.

Năm mươi năm đã trôi qua, nhìn lại chiến dịch giải phóng Trường Sa năm 1975 cho thấy, thắng lợi của chiến dịch trước hết là thắng lợi của đường lối lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh và Quân chủng Hải quân trên mũi tiến công hướng biển. Tất cả lực lượng tham gia vào chiến dịch, từ những người lãnh đạo cao nhất của Đảng, Quân ủy Trung ương, đến những chiến sỹ trực tiếp cầm súng chiến đấu hay những người làm công tác phục vụ, đã thể hiện khát vọng cháy bỏng giải phóng quần đảo Trường Sa, thống nhất đất nước, góp phần tạo nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975. Hiện nay, sau gần bốn mươi năm đổi mới, đất nước ta nói chung, quần đảo Trường Sa nói riêng đang thay da đổi thịt từng ngày, đang phát triển với nhiều thành tựu to lớn. Nhưng, bên cạnh những thuận lợi, thành công, tình hình an ninh trên Biển Đông những năm gần đây vẫn diễn biến rất phức tạp, khó lường, có thời điểm trở thành “điểm nóng” ở khu vực. Nhiều hành động phi pháp của các thế lực “bên ngoài” đã và đang đe dọa đến chủ quyền, sự phát triển của đất nước, đến môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực. Vì thế, hơn lúc nào hết, việc phát huy những giá trị lịch sử to lớn và vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm quý báu từ chiến thắng của chiến dịch giải phóng Trường Sa năm 1975 vào sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo hiện nay và trong tương lai là rất cần thiết. Trong đó, điều quan trọng là cần phải có tầm nhìn chiến lược hơn nữa trong việc giữ gìn, bảo vệ vững chắc các thực thể đang thuộc quyền nắm giữ và quản lý của ta ở Trường Sa. Xây dựng đất nước ta vững mặt về mọi mặt cả trên bờ lẫn trên biển, làm cho các thế lực “bên ngoài” không có cơ hội và không dám nhòm ngó, xâm chiếm. Tiếp tục phát huy sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường tiềm lực quốc phòng – an ninh, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh với các hành động xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích trên biển của Việt Nam bằng các biện pháp hòa bình, dựa trên cơ sở của luật pháp quốc tế. Là một quốc gia độc lập, Việt Nam không “chọn bên” hay “chọn phe”, mà chọn chính nghĩa, sự công bằng, công lý và lẽ phải trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc; bình đẳng, cùng có lợi, cùng thắng trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Đồng thời, phải luôn tỉnh táo, nêu cao tinh thần cảnh giác trước các âm mưu, ý đồ của các thế lực bên ngoài đối với Biển Đông; vận dụng sáng tạo phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, bình tĩnh trong xử lý các tình huống trên biển, không để nước ngoài tạo cớ, gây ra xung đột để can thiệp. Tiếp tục xây dựng và phát huy cao hơn nữa ý chí, quyết tâm bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền lãnh thổ quốc gia – dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để đưa đất nước tiến nhanh, tiến vững chắc trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình phát triển của dân tộc.

]]>