Vịnh Bắc Bộ – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Sat, 22 Feb 2025 03:01:54 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 Tuyên bố của chính phủ về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam trong Vịnh Bắc Bộ: Nội dung và ý nghĩa https://biendong.net/2025/02/22/tuyen-bo-cua-chinh-phu-ve-duong-co-so-dung-de-tinh-chieu-rong-lanh-hai-cua-viet-nam-trong-vinh-bac-bo-noi-dung-va-y-nghia/ Sat, 22 Feb 2025 01:00:00 +0000 https://biendong.net/?p=145381 Ngày 21/02/2025, Chính phủ đã ra Tuyên bố về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam trong Vịnh Bắc Bộ, đánh dấu việc từ nay, đường cơ sở của Việt Nam chính thức được hoàn thiện toàn bộ từ Bắc xuống Nam, từ cửa sông Bắc Luân tiếp giáp với Trung Quốc đến Điểm 0 nằm trên ranh giới phía Tây Nam của vùng nước lịch sử Việt Nam – Campuchia.

Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam lần đầu tiên được công bố tại Tuyên bố ngày 12/11/1982 của Chính phủ. Khi đó, đường cơ sở ven bờ lục địa Việt Nam là đường cơ sở thẳng gồm 11 đoạn, nối liền từ Điểm 0 là điểm tiếp giáp của hai đường cơ sở Việt Nam và Campuchia ở giữa đoạn thẳng nối liền quần đảo Thổ Chu của Việt Nam và đảo Wai của Campuchia, đi qua các điểm cơ sở tại các điểm nhô ra xa nhất của các đảo ven bờ và bờ biển Việt Nam kéo đến điểm A11 ở đảo Cồn Cỏ, tỉnh Quảng Trị. Tại Tuyên bố ngày 21/02/2025, Chính phủ đã công bố phần còn lại của đường cơ sở là đoạn nằm trong Vịnh Bắc Bộ. Theo đó, đường cơ sở tiếp tục được nối từ Điểm A11 tại đảo Cồn Cỏ qua các điểm Hòn Gió Lớn (Điểm A12), Hòn Chim (Điểm A13), Hòn Mắt Con (Điểm A14), Đảo Hòn Mê (Điểm A15), Đảo Long Châu Đông (Điểm A16), Đảo Hạ Mai (Điểm A17, Điểm A18), Đảo Thanh Lam (Điểm A19, Điểm A20), Hòn Bồ Cát (Điểm A21, Điểm A22), Đảo Trà Cổ (Điểm A23) đến Điểm A24 là Điểm số 1 của đường phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của đảo Bạch Long Vĩ là đường cơ sở thông thường theo ngấn nước triều thấp nhất dọc theo bờ biển của đảo; ranh giới ngoài lãnh hải tại khu vực cửa sông Bắc Luân là đường nối 9 điểm theo đường phân định lãnh hải trong Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc và điểm 10 có tọa độ xác định trên vùng biển Việt Nam.

Sơ đồ minh họa đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam trong Vịnh Bắc Bộ

Vịnh Bắc Bộ là vùng biển nửa kín, có nhiều nơi bị chia cắt, nhiều khu vực với nền địa chất không ổn định, thường xuyên bị bồi lắng, thay đổi theo mùa. Khu vực Vịnh Hạ Long với 1.969 hòn đảo lớn nhỏ đan xen, trải rộng trên vùng biển khoảng 1.600km2 đã tạo ra hoàn cảnh địa lý đặc biệt, rất phức tạp. Ven bờ biển Vịnh Bắc Bộ phía Việt Nam có các đảo chạy dọc theo bờ biển (Hòn Ông, Hòn Chim, Hòn Mê…), khoảng cách từ các đảo này đến bờ biển nhỏ hơn 12 hải lý và khoảng cách liên tiếp giữa các đảo này không quá lớn, cùng với các đảo, đá nhỏ phía ngoài cùng của Vịnh Hạ Long tạo thành một chuỗi đảo. Vùng nước phía trong Vịnh Hạ Long và các đảo ven bờ biển Vịnh Bắc Bộ có độ gắn bó mật thiết đủ để tạo thành nội thủy của Việt Nam. Điều kiện tự nhiên này của Vịnh Bắc Bộ đáp ứng các tiêu chí được nêu tại Điều 7 Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982 về việc vạch đường cơ sở thẳng dùng để tính chiều rộng lãnh hải.

Vận dụng các quy định của Điều 5, Điều 7, Điều 14 UNCLOS 1982, xét trên hoàn cảnh địa lý thực tế của Vịnh Bắc Bộ, Chính phủ Việt Nam đã xác định và công bố đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam trong Vịnh Bắc Bộ. Theo cách xác định ở trên, đường cơ sở này với các điểm cơ sở được xác định tại các đảo ngoài cùng, chạy dọc theo bờ biển và cách bờ biển không quá 12 hải lý đã bám sát theo hình dạng chung của bờ biển Vịnh Bắc Bộ và đường cơ sở đảo Bạch Long Vĩ theo ngấn nước thủy triều thấp nhất quanh đảo. Về cơ bản, đường cơ sở này được xác lập phù hợp với các quy định của UNCLOS 1982.

Việc xác định và công bố đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam trong Vịnh Bắc Bộ là việc làm cần thiết bởi Tuyên bố ngày 12/11/1982 của Chính phủ mới chỉ xác định đường cơ sở của Việt Nam xuất phát từ vùng nước lịch sử Việt Nam – Campuchia đến đảo Cồn Cỏ, chưa quy định đường cơ sở trong Vịnh Bắc Bộ do khi đó, Vịnh Bắc Bộ được coi là vùng nước lịch sử theo chế độ nội thủy của Việt Nam. Tuy nhiên, ngày 25/12/2000, Việt Nam và Trung Quốc đã ký Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ, trong đó hai bên thừa nhận Vịnh Bắc Bộ có đầy đủ các vùng biển (nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa) theo quy định của UNCLOS 1982. Sau khi Hiệp định này có hiệu lực vào năm 2004, Vịnh Bắc Bộ không còn là vùng nước lịch sử theo chế độ nội thủy như Tuyên bố của Chính phủ về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải năm 1982 nữa. Do vậy, Việt Nam cần xác định đường cơ sở trong Vịnh Bắc Bộ để làm căn cứ xác định ranh giới ngoài của các vùng biển ở khu vực này, tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai các hoạt động trên biển của Việt Nam trong Vịnh Bắc Bộ.

Việc Chính phủ Việt Nam xác định và công bố đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam trong Vịnh Bắc Bộ đã đáp ứng nhu cầu cần thiết nêu trên. Đây là hoạt động bình thường nhằm thực thi quyền của quốc gia ven biển theo quy định của UNCLOS 1982 mà Việt Nam là thành viên. Hoạt động này cũng căn cứ theo quy định của pháp luật Việt Nam nêu tại Điều 8 Luật Biển Việt Nam: “Chính phủ xác định và công bố đường cơ sở ở những khu vực chưa có đường cơ sở sau khi được Ủy ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn”.

Đối với Việt Nam, việc xác định và công bố đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải trong Vịnh Bắc Bộ mang ý nghĩa quan trọng. Đây là căn cứ để xác định ranh giới các vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam được hưởng theo quy định của luật pháp quốc tế, UNCLOS 1982; giúp củng cố thêm cơ sở pháp lý để thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam; bảo đảm các quyền và lợi ích của Việt Nam và không ảnh hưởng đến Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng như các điều ước quốc tế khác mà Việt Nam tham gia hoặc là thành viên.

Việc công bố đường cơ sở trong Vịnh Bắc Bộ giúp hoàn thiện toàn bộ hệ thống đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của lãnh thổ đất liền Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý để các lực lượng chức năng của Việt Nam thực thi các nhiệm vụ quản lý vùng biển của Việt Nam, trong đó có khu vực Vịnh Bắc Bộ, góp phần phục vụ công tác phát triển kinh tế biển bền vững và thúc đẩy hợp tác quốc tế. Như vậy, việc Chính phủ Việt Nam xác định và công bố đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải trong Vịnh Bắc Bộ không chỉ là hoạt động thực thi quyền và nghĩa vụ của một quốc gia thành viên UNCLOS 1982 mà còn là căn cứ quan trọng để xây dựng và phát triển Vịnh Bắc Bộ thành vùng biển an toàn, hòa bình, hợp tác và phát triển.

]]>
Hoạt động gây hấn của Bắc Kinh trong vùng biển Việt Nam ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ https://biendong.net/2024/07/18/hoat-dong-gay-han-cua-bac-kinh-trong-vung-bien-viet-nam-ngoai-cua-vinh-bac-bo/ Thu, 18 Jul 2024 02:18:00 +0000 https://biendong.net/?p=133161 Giữa lúc dư luận quốc tế đang tập trung theo dõi những hành động gây hấn của tàu hải cảnh, tàu dân quân biển Trung Quốc nhằm vào các tàu của Philippines ở Biển Đông thì hôm 06/6/2024, Hà Nội đưa ra tuyên bố phản đối, yêu cầu Trung Quốc chấm dứt ngay hoạt động khảo sát trái phép của tàu Hải Dương 26 trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ), thềm lục địa của Việt Nam.

Tuyên bố của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam nhấn mạnh: “Việt Nam hết sức quan ngại, kiên quyết phản đối và yêu cầu Trung Quốc chấm dứt ngay hoạt động khảo sát trái phép của tàu Hải Dương 26 trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam được xác lập phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982); không tái diễn các hoạt động trái phép tương tự, tôn trọng đầy đủ quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, tôn trọng luật pháp quốc tế và tuân thủ UNCLOS 1982, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), thực hiện nghiêm túc nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước về việc kiểm soát, giải quyết tốt hơn bất đồng trên biển, duy trì đà phát triển của quan hệ song phương, đóng góp tích cực, trách nhiệm cho hòa bình, ổn định ở Biển Đông”.

Việc Hà Nội chủ động đưa ra tuyên bố nói trên là một diễn biến hết sức bất ngờ bởi trước đó hầu như không chuyên gia hay học giả nào đề cập tới hoạt động của con tàu Hải Dương 26 trong vùng biển Việt Nam. Chỉ sau khi Hà Nội công bố vụ việc thì giới chuyên gia và hãng truyền thông nước ngoài mới đưa ra các bình luận, đánh giá về hoạt động gây hấn này của Bắc Kinh đối với Hà Nội. Tuy nhiên trên một số kênh truyền thông đã có sự nhầm lẫn về 2 con tàu Hải Dương 26 của Trung Quốc. Do vậy, cần làm rõ danh tính 2 con tàu này để giúp đánh giá mức độ nghiêm trọng của vụ việc.

Thứ nhất, hôm 24/5, hãng tin trung ương Trung Quốc ECNS đưa tin tàu Hải Dương Địa Chất 26 (Hải Dương 26), được đưa vào hoạt động tại Trung tâm khảo sát địa chất hải dương Hải Khẩu của Cục khảo sát địa chất Trung Quốc ở tỉnh Hải Nam, miền nam Trung Quốc, sau 21 tháng xây dựng. Đây là tàu nghiên cứu khoa học đa chức năng đầu tiên ở Trung Quốc được triển khai để khảo sát và nghiên cứu địa chất toàn diện liên quan đến các đảo (rạn san hô). Tàu được hạ thủy vào tháng 12/2023, hoàn thành thử nghiệm toàn diện tháng 4/2024 và ngày 24/5/2024, tàu chính thức được đưa vào biên chế của Trung tâm khảo sát địa chất hải dương Hải Khẩu, tỉnh Hải Nam, Trung Quốc.

Con tàu này có chiều dài 63,5 mét, rộng 12,6 mét và sâu 4,6 mét với mớn nước thiết kế 3,2 mét. Tàu có thể chứa 34 thành viên thủy thủ đoàn và có tầm hoạt động 3.500 hải lý với thời gian hoạt động 35 ngày. Con tàu được trang bị 32 bộ công nghệ và thiết bị khảo sát địa chất biển tiên tiến, như hệ thống khoan kỹ thuật đại dương, hệ thống âm thanh tĩnh, nhiều hệ thống khảo sát địa vật lý và hệ thống hỗ trợ vận hành đại dương, nghiên cứu khoáng sản và năng lượng biển và thăm dò toàn diện tài nguyên thiên nhiên ở Biển Đông, các thiết bị điện tử để thu thập dữ liệu dưới đáy biển, đảm bảo thu thập dữ liệu chính xác hơn ở vùng biển ngoài khơi trong các điều kiện thời tiết. Trung Quốc nói việc triển khai hoạt động ban đầu của tàu ở Biển Đông, ngoài khơi tỉnh Hải Nam, là để góp phần bảo vệ các rạn san hô và phát triển các cấu trúc đảo của Trung Quốc trong khu vực.

Theo dõi của Dự án Đại sử ký Biển Đông qua AIS cho thấy tàu Hải Dương Địa Chất 26 này vẫn đang neo đậu tại cảng Hải Khẩu (Hải Nam, Trung Quốc) từ 24/5 đến nay.

Thứ hai, con tàu Hải Dương 26 hoạt động bất hợp pháp trong vùng biển Việt Nam mà Hà Nội lên tiếng phản đối chính là một chiếc tàu của Hải quân Trung Quốc. Tàu này còn có tên gọi khác là Trần Cảnh Nhuận (Chen Jingrun), được đưa vào hoạt động năm 1998 và là 1 trong 9 tàu khảo sát lớp Type 636/636A của Trung Quốc, được NATO định danh là lớp Shupang. Với lượng giãn nước 5883 tấn, dài 129 mét, rộng 17 mét, con tàu này có khả năng hoạt động liên tục trên biển trong khoảng thời gian lên đến 2 tháng.

Các tàu này chuyên thu thập dữ liệu đáy biển và môi trường biển cho hoạt động của tàu ngầm. Địa bàn hoạt động của nó cũng chính là nơi mà các tàu ngầm Trung Quốc sẽ hoặc đang hoạt động. Vì là một tàu Hải quân Trung Quốc nên thông thường tàu Hải Dương 26 không bật tín hiệu AIS. Sự hiện diện và hoạt động của nó khó có thể được theo dõi qua các công cụ tình báo nguồn mở (OSINT) chẳng hạn như thông qua các trang theo dõi tàu biển. Vì thế hoạt động của nó trong vùng biển Việt Nam đặc biệt nhạy cảm và chắc chắn gây ra mối lo ngại về an ninh quốc phòng cho Việt Nam. Đây có thể là mối lo ngại then chốt, khiến Việt Nam phải nhiều lần phản đối qua con đường giao thiệp ngoại giao như tuyên bố của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam hôm 06/6.

Theo một số nguồn tin riêng, tàu Hải Dương 26 của Hải quân Trung Quốc hoạt động ở vùng biển miền Trung, khu vực ngoài khơi thành phố Đà Nẵng ít nhất từ tháng 5/2024. Con tàu này thường xuyên di chuyển theo trục tây bắc – đông nam trong lúc tiến hành khảo sát. Có thời điểm nó tiến đến gần bán đảo Sơn Trà ở khoảng cách chỉ khoảng 40 hải lý về phía đông bắc. Tàu KN-309 của Chi đội 3 – Cục Kiểm ngư Việt Nam đã tiếp cận, đẩy đuổi tàu khảo sát thủy văn Hải Dương 26 của Hải quân Trung Quốc đang hoạt động trái phép trong vùng đặc quyển kinh tế của Việt Nam.

Đây không phải là lần đầu tiên Bắc Kinh có hành động gây hấn trong vùng biển khu vực miền Trung Việt Nam. Cách đây đúng 10 năm, vào năm 2014, Trung Quốc đã cho hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa miền Trung Việt Nam gây phẫn nộ trong người dân khiến xảy ra nhiều hoạt động “bài Hoa” trong công chúng. Trong những năm tiếp theo, Trung Quốc liên tục đưa các tàu khác như tàu Tàu khảo sát Địa chất Hải Dương 8 vào năm 2019; tàu Hướng Dương Hồng 10 đươc dự hộ tống của tàu hải cảnh và tàu dân quân biển Trung Quốc trong năm 2023 đến “thăm dò”, “khảo sát” trong vùng biển thuộc quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam theo các quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) 1982.

Giới quan sát nhận định ngày 01/3/2024 Trung Quốc tuyên bố xác lập “đường cơ sở thẳng” ở Vịnh Bắc Bộ khiến phía Việt Nam quan ngại, lên tiếng đề nghị Trung Quốc tôn trọng và tuân thủ Hiệp định về phân định lãnh hải, thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế trong Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được ký kết năm 2000 cũng như UNCLOS. Dù Trung Quốc tuyên bố “đường cơ sở” trong Vịnh Bắc Bộ không ảnh hưởng đến Việt Nam nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ rất cao nếu Trung Quốc “thực thi chấp pháp” trên biển theo “đường cơ sở”, gây khó khăn cho ngư dân Việt Nam và có thể cản trở hoạt động hợp pháp của Việt Nam ở vùng biển Vịnh Bắc Bộ, đồng thời có thể làm leo thang thêm căng thẳng và tranh chấp trong khu vực.  Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia về Biển Đông mô tả “đường cơ sở thẳng” của Trung Quốc ở Vịnh Bắc Bộ là “quá mức”; đồng thời nhấn mạnh những hậu quả tiềm ẩn của động thái này, bao gồm sự chồng chéo ngày càng mở rộng giữa vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc và các khu vực mà Việt Nam và Trung Quốc cùng sử dụng để đánh bắt cá. Trong bối cảnh đó, việc Bắc Kinh cho tàu Hải Dương 26 của Hải quân hoạt động trong vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ khiến Hà Nội càng thêm lo ngại. Động thái mới này cho thấy Bắc Kinh không từ bỏ âm mưu thống trị Biển Đông và chứng minh rằng họ sẽ không “nương tay” với bất kỳ quốc gia nào dù là Philippines, Việt Nam, Malaysia hay Indonesia trong việc hiện thực hóa mưu đồ độc chiếm Biển Đông. Việc chính quyền Hà Nội chủ động công khai các hoạt động đấu tranh ngoại giao yêu cầu Trung Quốc rút tàu Hải Dương 26 cho thấy Hà Nội nhận thức rõ về tính nguy hại từ những hoạt động hung hăng, bất hợp pháp của Bắc Kinh ở Biển Đông.

Vì sao Hải quân Trung Quốc đưa tàu khảo sát vào hoạt động trong vùng biển Việt Nam vào thời điểm hiện nay? Một số chuyên gia đã đưa ra những lý do như:

(i) Đây là một trong những hoạt động thuộc “chiến thuật vùng xám” mà Trung Quốc đang tăng cường thực hiện để khẳng định yêu sách chủ quyền của mình trên Biển Đông. Mục tiêu xuyên suốt của Bắc Kinh là thôn tính Biển Đông nên không chỉ riêng Philippines mà tất cả các nước có vùng biển nằm trong yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc sẽ đều là địa chỉ mà “chiến thuật vùng xám” của Bắc Kinh nhắm tới. Việc Hải quân Trung Quốc điều tàu Hải Dương 26 tới hoạt động trong vùng biển miền Trung Việt Nam còn nhằm phục vụ hoạt động quân sự của tàu Trung Quốc trong tương lai, bao gồm tàu ngầm trong mưu đồ quân sự hóa Biển Đông của Bắc Kinh. Đây là một động thái hết sức nguy hiểm.

(ii) Trong bối cảnh Philippines đang đẩy mạnh hợp tác an ninh, quốc phòng với Mỹ trong khuôn khổ đồng minh Hiệp ước phòng thủ chung năm 1951, triển khai tuần tra chung với Mỹ, Úc, Nhật ở Biển Đông, việc tàu Hải Dương 26 của Hải quân Trung Quốc hoạt động trong vùng biển Việt Nam nhằm tạo sự răn đe Hà Nội “chớ có theo gương Manila dẫn “sói” về nhà”. Mặt khác, các chuyên gia quân sự cho rằng việc Trung Quốc triển khai tàu Hải Dương 26 hoạt động ở vùng biển gần Hoàng Sa nhằm đáp lại các hoạt động tự do hàng hải (FONOP) của Mỹ ở khu vực quần đảo Hoàng Sa thời gian gần đây.

(iii) Hiện Việt Nam và Trung Quốc đang tiến hành đàm phán về phân định khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ. Một số chuyên gia nhận định không loại trừ sự hiện diện của tàu Hải Dương 26 có thể nhằm tạo sức ép với phía Việt Nam trên bàn đàm phán, đây là cách thức mà Bắc Kinh thường xuyên sử dụng trong việc gây áp lực với các nước láng giềng ven Biển Đông. Một ý đồ trong việc triển khai tàu Hải Dương 26 của Hải quân Trung Quốc tại vùng biển thuộc quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam còn nhằm khẳng định quyền chủ quyền vô căn cứ hoặc thu thập dữ liệu để sử dụng trong các cuộc đàm phán này. Ngoài ra, nó còn là vấn đề tranh cãi pháp lý liên quan đến các tàu quân sự nước ngoài hoạt động trong vùng EEZ.

Theo một số nguồn tin, tàu Hải Dương 26 của Hải quân Trung Quốc đã rời khỏi vùng biển Việt Nam sau khi Bộ Ngoại giao Việt Nam đưa ra tuyên bố phản đối. Giới chuyên gia nhận định đây là dấu hiệu tích cực cho thấy phản ứng ngoại giao và sự công khai của phía Việt Nam đã có tác dụng. Điều này tương tự với nỗ lực gần đây của Philippines trong việc minh bạch hóa các hoạt động của tàu bè Trung Quốc ở Biển Đông, tạo nên áp lực dư luận đáng kể lên Bắc Kinh. Điều này cho thấy Bắc Kinh không muốn hình ảnh xấu thêm trong dư luận quốc tế và việc kiên quyết đấu tranh công khai minh bạch khiến Bắc Kinh phải cân nhắc về hành động của mình. Tuy nhiên, không loại trừ khả năng các sự kiện như thế vẫn có thể sẽ tái diễn trong tương lai vì Trung Quốc sẽ không từ bỏ ý đồ độc chiếm Biển Đông. Giới chuyên gia cũng cảnh báo nếu Bắc Kinh tiếp tục gia tăng các hoạt động hung hăng với các nước láng giềng ven Biển Đông có thể sẽ đẩy các nước này xích lại gần Mỹ hơn như trường hợp Philippines trong thời gian gần đây, đồng thời khiến các nước nạn nhận của hành động gây hấn đoàn kết với nhau hơn trong cuộc đối đầu với Trung Quốc ở Biển Đông.

]]>
Điều gì ẩn sau việc TQ tuyên bố xác lập đường cơ sở mới ở Vịnh Bắc Bộ?                   https://biendong.net/2024/06/24/dieu-gi-an-sau-viec-tq-tuyen-bo-xac-lap-duong-co-so-moi-o-vinh-bac-bo/ Mon, 24 Jun 2024 05:15:00 +0000 https://biendong.net/?p=131248 Ngày 01/3/2024, Trung Quốc ra “Tuyên bố về đường cơ sở lãnh hải phía Bắc Vịnh Bắc Bộ” theo “Luật Lãnh hải và vùng tiếp giáp” của nước này ban hành ngày 25/02/1992, trong đó có 7 “điểm cơ sở” khi nối lại với nhau tạo thành một đường cơ sở mới nhằm tuyên bố “lãnh hải” ở Vịnh Bắc Bộ. Động thái trên của Trung Quốc đã và đang thu hút sự quan tâm của dư luận trong và ngoài khu vực thời gian qua, nhất là điều gì ẩn chứa đằng sau đó trong bối cảnh quan hệ Việt Nam – Trung Quốc sau khi trải qua nhiều thăng trầm trong lịch sử, đã và đang trong giai đoạn phát triển rất tốt đẹp sau chuyến thăm lẫn nhau của lãnh đạo cấp cao hai nước diễn ra trong năm 2022 và 2023.    

Vịnh Bắc Bộ đã được Việt Nam và Trung Quốc ký kết phân định cách đây 20 năm…

Vịnh Bắc Bộ là một phần của Biển Đông, là một trong những vịnh biển lớn ở Đông Nam Á và thế giới, có diện tích khoảng 126.250km2 (36.000 hải lý vuông), chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 320km (176 hải lý), nơi hẹp nhất khoảng 220km (119 hải lý). Đây là một vịnh biển nửa kín, được bao bọc bởi bờ biển của Việt Nam và Trung Quốc, bao gồm bờ biển Đông Bắc Việt Nam, bờ biển phía Nam tỉnh Quảng Tây, bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam/Trung Quốc, và giới hạn phía Nam bởi đoạn thẳng nối liền từ điểm nhô ra nhất của mép ngoài cùng của mũi Oanh Ca – đảo Hải Nam/Trung Quốc với đảo Cồn Cỏ/Việt Nam. Vịnh có hai cửa là eo biển Quỳnh Châu nằm giữa bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam với bề rộng khoảng 19 hải lý và cửa chính của vịnh từ đảo Cồn Cỏ/Việt Nam tới mũi Oanh Ca/đảo Hải Nam, rộng khoảng 119 hải lý. Chiều dài bờ biển phía Việt Nam khoảng 763km, phía Trung Quốc khoảng 695km. Phần vịnh phía Việt Nam có khoảng 1.300 hòn đảo ven bờ, đặc biệt có đảo Bạch Long Vĩ nằm cách đất liền Việt Nam khoảng 110km, cách đảo Hải Nam/Trung Quốc khoảng 130km.

Với đặc điểm cấu tạo trên, khi Trung Quốc và Việt Nam mở rộng vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) sẽ tạo ra vùng chồng lấn giữa vịnh, cần phải giải quyết. Do đây là một biển nửa kín, nên căn cứ Điều 63 và 123 của UNCLOS 1982, hai nước có nghĩa vụ hợp tác với nhau.

Vịnh Bắc Bộ có vị trí chiến lược quan trọng đối với cả Việt Nam và Trung Quốc liên quan đến kinh tế, quốc phòng – an ninh, đồng thời là nơi chứa nhiều tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là hải sản và dầu khí. Hai nước đều có nhu cầu đàm phán giải quyết phân chia vịnh bởi đây là một khía cạnh quan trọng của chủ quyền quốc gia, là công cụ xác định phạm vi quyền tài phán quốc gia đối với các vùng biển, bao gồm các quyền đối với đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như các vùng nước phía trên cho các mục đích khác nhau, bao gồm khai thác kinh tế và bảo vệ môi trường. Vì thế, Việt Nam và Trung Quốc đã khởi động tiến hành đàm phán phân định Vịnh Bắc Bộ từ năm 1974, kết thúc vào năm 2000 và đi đến ký kết hiệp định vào năm 2004.

Đây là một quá trình kéo dài trong nhiều năm, trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, sự phát triển của luật biển quốc tế, cũng như nỗ lực và quyết tâm chính trị từ cả hai phía để đi đến kết quả. Trải qua 27 năm với 3 cuộc đàm phán chính trong các năm 1974, 1977 – 1978 và 1992 – 2000, trong đó các cuộc đàm phán cấp Chính phủ năm 1974 và năm 1977 – 1978 không đạt được kết quả vì lập trường hai bên cách xa nhau. Năm 1991, sau khi bình thường hóa quan hệ với nhau, hai nước đã quyết định đàm phán để giải quyết các vấn đề về biên giới và lãnh thổ, trong đó có việc phân định Vịnh Bắc Bộ. Trong 9 năm (1992 – 2000), hai bên đã tiến hành 7 vòng đàm phán cấp Chính phủ, 3 cuộc gặp giữa hai Trưởng đoàn đàm phán cấp Chính phủ, 18 vòng đàm phán cấp chuyên viên và nhiều vòng họp khác của Tổ chuyên viên liên hợp, Tổ chuyên gia đo vẽ, xây dựng Tổng đồ Vịnh Bắc Bộ. Tổng cộng có đến 49 vòng họp, tính trung bình mỗi năm có hơn 5 vòng họp.

Căn cứ vào UNCLOS 1982, các nguyên tắc luật pháp và thực tiễn quốc tế được công nhận rộng rãi, trên cơ sở suy xét đầy đủ mọi hoàn cảnh hữu quan trong Vịnh Bắc Bộ, theo nguyên tắc công bằng, qua thương lượng hữu nghị, ngày 25/12/2000, tại Bắc Kinh, hai nước đã ký kết Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ. Cùng ngày, hai bên cũng đã ký Hiệp định Hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ. Tuy nhiên, khác với Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ, Hiệp định Hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ có thời hạn hiệu lực cụ thể (12 năm và 3 năm mặc nhiên gia hạn) và giá trị pháp lý ở mức cấp chính phủ phê duyệt. Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ có hiệu lực từ ngày 30/6/2004.

Đối với Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ, hai bên thống nhất một đường phân định với 21 điểm kéo dài từ cửa sông Bắc Luân ra đến cửa vịnh phía Nam, trong đó từ điểm 1 đến điểm 9 là biên giới lãnh hải, từ điểm 9 đến điểm 21 là ranh giới chung cho cả vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Theo Hiệp định, Việt Nam được hưởng 53,23% diện tích vịnh và Trung Quốc được hưởng 46,77% diện tích vịnh. Ðường phân định đi cách đảo Bạch Long Vĩ 15 hải lý, tức đảo được hưởng lãnh hải rộng 12 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 3 hải lý (25% hiệu lực). Ðảo Bạch Long Vĩ là một đảo nhỏ của Việt Nam (diện tích khoảng 2,5km2) lại nằm gần như ở giữa Vịnh Bắc Bộ, tạo ra một hoàn cảnh đặc biệt, nên theo luật pháp và thực tiễn quốc tế, chỉ được hưởng một phần hiệu lực hạn chế trong phân định. Ðảo Cồn Cỏ cũng là một đảo nhỏ nhưng nằm gần bờ của Việt Nam hơn (khoảng 13 hải lý) nên được hưởng 50% hiệu lực trong việc phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa tại đường đóng cửa vịnh. Ðây là một kết quả công bằng, đạt được trên cơ sở luật pháp quốc tế và điều kiện cụ thể của vịnh.

Hiệp định quy định hai bên cam kết tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mỗi bên đối với lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ; về việc sử dụng hợp lý và phát triển bền vững tài nguyên sinh vật trong Vịnh Bắc Bộ, cũng như hợp tác có liên quan đến bảo tồn, quản lý và sử dụng tài nguyên sinh vật ở vùng đặc quyền kinh tế hai nước…

Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ được ký kết có ý nghĩa và giá trị lịch sử to lớn. Lần đầu tiên, Việt Nam và Trung Quốc có một đường biên giới biển rõ ràng, bao gồm biên giới lãnh hải, ranh giới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước trong Vịnh Bắc Bộ.

Thực tiễn triển khai cho thấy, Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định Hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ không những đã tạo ra khuôn khổ pháp lý quốc tế rõ ràng, thuận lợi cho mỗi nước tiến hành bảo vệ, quản lý, sử dụng, khai thác, phát triển bền vững Vịnh Bắc Bộ, góp phần duy trì ổn định trong vịnh, tăng cường tin cậy và phát triển quan hệ chung giữa hai nước, mà còn đóng góp vào hòa bình, ổn định trong khu vực và thế giới.

Trung Quốc nói sao khi công bố đường cơ sở mới trong Vịnh Bắc Bộ và…

Ngày 01/3/2024, trang web của Bộ Ngoại giao Trung Quốc đăng “Tuyên bố của Chính phủ nước CHND Trung Hoa về đường cơ sở lãnh hải phía Bắc Vịnh Bắc Bộ”. Trong tuyên bố này, Chính phủ Trung Quốc đưa ra 7 “điểm cơ sở” khi nối lại với nhau tạo thành một đường cơ sở mới nhằm tuyên bố “lãnh hải” ở Vịnh Bắc Bộ. Tuy nhiên, các điểm này không có trong 49 điểm cơ sở mà Trung Quốc công bố ngày 15/5/1996 để tính chiều rộng lãnh hải từ Hải Nam tới Thanh Đảo.

Lý giải cho việc làm này, Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho biết: 1) Tuyên bố này được đưa ra dựa trên Điều 15 “Luật Lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải” của nước này ban hành ngày 25/02/1992; 2) Đường cơ sở mới được vạch ra sẽ không tác động tiêu cực đến lợi ích của Việt Nam hay lợi ích của bất kỳ quốc gia nào khác, ngược lại, sẽ giúp tăng cường hợp tác hàng hải quốc tế giữa Trung Quốc và các nước liên quan, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của ngành hàng hải toàn cầu (giải thích của Bộ Ngoại giao Trung Quốc do Thời báo Hoàn cầu trích dẫn ngày 04/3/2024); 3) Việc công bố đường cơ sở của lãnh hải là hành động cần thiết để thực thi chủ quyền và quyền tài phán quốc gia. Ngoài ra, còn có những quy định quản lý, kế hoạch sử dụng nội thủy, lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế khác nhau. Chỉ bằng cách phân định đường cơ sở của lãnh hải thì phạm vi của các vùng biển nêu trên mới được xác định rõ ràng, đồng thời tạo cơ sở cho việc sử dụng biển theo tiêu chuẩn và khoa học của các tỉnh và khu vực ven biển (tài khoản Wechat chính thức của Bộ Ngoại giao Trung Quốc đăng tải); 4) Việc công bố đường cơ sở phía Bắc Vịnh Bắc Bộ là một phần quan trọng trong nỗ lực của Trung Quốc nhằm cải thiện việc phân định đường cơ sở lãnh hải, phục vụ phát triển kinh tế của các tỉnh và khu vực dọc phía Bắc Vịnh Bắc Bộ như Quảng Tây, Quảng Đông, Hải Nam, đồng thời phục vụ tốt hơn mục tiêu xây dựng Trung Quốc thành cường quốc biển (khẳng định của Cục Biên giới và Đại dương Trung Quốc); 5) Việc xác định đường cơ sở lãnh hải ở Vịnh Bắc Bộ là quyền chính đáng và hợp pháp của Trung Quốc (Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Uông Bân trả lời phóng viên Bloomberg tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 15/3/2024); 6) Đây là “bước thứ hai trong quy trình ba bước phân định đường cơ sở lãnh hải của Trung Quốc, hoàn thành việc phân định tất cả các đường cơ sở nằm ở phía Nam Trung Quốc, có ý nghĩa rất lớn”. Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc “cơ bản không loại bỏ được các tranh chấp hàng hải giữa hai nước ở các vùng biển liên quan, do ranh giới hướng ra biển vẫn chưa rõ ràng; do đó, chỉ khi xác định được đường cơ sở thì cơ quan thực thi pháp luật mới có thể đo lường, tính toán rõ ràng ranh giới ngoài của lãnh hải 12 hải lý tính từ đường cơ sở thẳng” (đánh giá của ông Phó Côn Thành – Viện Nghiên cứu Vành đai và Con đường của Đại học Hạ Môn/Trung Quốc).

…điều gì ẩn sau việc làm trên của họ

Trong quá khứ, Trung Quốc đã 2 lần công bố tọa độ địa lý của một số đường cơ sở và điểm lãnh hải. Trong đó, lần thứ nhất là ngày 15/5/1996, cùng với việc phê chuẩn UNCLOS 1982, Trung Quốc ra tuyên bố về đường cơ sở. Theo đó: (i) Đường cơ sở phần lãnh hải tiếp giáp với lục địa Trung Quốc gồm 49 điểm, bắt đầu từ mũi nam của bán đảo Sơn Đông đến bãi đá Tuần Bích (Junbijiao) phía tây đảo Hải Nam (7 điểm cơ sở kết nối thành đường cơ sở mà Trung Quốc mới tuyên bố ngày 1/3/2024 không nằm trong 49 điểm này); (ii) Đường cơ sở tiếp giáp với quần đảo Hoàng Sa gồm 28 điểm, nối liền các điểm nhô ra nhất của các đảo, bãi đá; iii) Các đường cơ sở còn lại của lãnh hải nước CHND Trung Hoa sẽ được thông báo vào một thời gian khác. Ngay sau tuyên bố này của Trung Quốc, dư luận lúc đó cho rằng, cùng với việc vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam khi công bố đường cơ sở ở quần đảo Hoàng Sa (trước đó là đánh chiếm trái phép), việc Trung Quốc chưa công bố các đường cơ sở còn lại của lãnh hải nước CHND Trung Hoa, mà sẽ được thông báo vào một thời gian khác, cho thấy đây là một sự “để ngỏ” của Trung Quốc để dành cho khu vực Trường Sa và một số vùng biển, đảo đang có tranh chấp với nước khác. Lần thứ hai là năm 2012, Trung Quốc tuyên bố đường cơ sở của quần đảo Điếu Ngư và các đảo liên quan, cùng với tên và tọa độ địa lý của 17 điểm lãnh hải. Như vậy, tiếp theo hai lần trên, đây là lần thứ ba Trung Quốc công bố đường cơ sở của mình.

Việc Trung Quốc tuyên bố thiết lập đường cơ sở mới ở Vịnh Bắc Bộ đã khiến dư luận trong và ngoài khu vực hết sức lo ngại về thái độ, cũng như những tác động tiềm ẩn đối với sự ổn định trong khu vực bởi, thực chất không phải như những gì Trung Quốc nói. Đó là:

Trước hết, xét về thái độ của Trung Quốc, nhiều chuyên gia về luật biển cho rằng, việc Trung Quốc công bố đường cơ sở mới tại vùng biển mà họ và Việt Nam đã có hiệp định phân chia rất rõ ràng rồi, nhẽ ra phải có sự bàn bạc, trao đổi trước với Việt Nam. Thế nhưng, Bắc Kinh lại không đếm xỉa gì cả, cứ như Vịnh Bắc Bộ là của riêng họ, muốn làm gì thì làm. Đây ràng là một hành động tùy tiện, sai trái, thể hiện sự coi thường Việt Nam của Trung Quốc.

Thứ hai, đường cơ sở mới này không phù hợp với UNCLOS 1982 do một số điểm cơ sở nằm quá xa bờ biển, đó là điểm có tọa độ 21°00’36.0″N 109°05’12.0″E (đảo Weizhou/Vi Châu, cách đất liền Trung Quốc khoảng 45 hải lý) và 20°54’12.0″N 109°12’24.0″E (đảo Xieyang, cách đất liền Trung Quốc khoảng 30 hải lý). Nhiều chuyên gia về biển gọi đường cơ sở mới này của Trung Quốc là “quái dị”, bởi từ đây nó có thể dẫn đến những phức tạp trong các hoạt động hàng hải, bao gồm tự do hàng hải, nghiên cứu khoa học và hoạt động kinh tế trong khu vực. Nó cũng có thể dẫn đến nguy cơ, Trung Quốc sẽ định hình lại các ranh giới trên biển trong khu vực để khẳng định “các yêu sách và quyền tài phán” của mình ở Vịnh Bắc Bộ, vốn đã được xác định rất rõ trong Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ mà Việt Nam và Trung Quốc đã ký kết. Bên cạnh đó, tranh chấp về yêu sách lãnh thổ có thể cản trở sự hợp tác trong các vấn đề như bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên, làm trầm trọng thêm căng thẳng trong khu vực. Ông Troy Lee-Brown – nhà nghiên cứu thuộc Viện Quốc phòng và An ninh/Đại học Tây Australia nhận định, đường cơ sở mới này có thể làm phức tạp các thỏa thuận trước đó với Việt Nam ở khu vực Vịnh Bắc Bộ.

Thứ ba, đường cơ sở mới do Trung Quốc công bố hôm 01/3/2024 cho thấy sự “tham lam” của họ, nó sẽ đẩy vùng nội thủy của Trung Quốc ra xa về phía Việt Nam; là bước đi tiếp theo trong ý đồ “chiếm biển” mà Trung Quốc đã nung nấu từ lâu. Giáo sư Carl Thayer – chuyên gia về Biển Đông của Australia mô tả đường cơ sở mới của Trung Quốc là “quá mức”; đồng thời nhấn mạnh những hậu quả tiềm ẩn của động thái này, bao gồm sự chồng chéo ngày càng mở rộng giữa vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc và các khu vực mà Việt Nam và Trung Quốc cùng sử dụng để đánh bắt cá. Sự chồng chéo như vậy có thể làm gia tăng căng thẳng và tranh chấp trong khu vực, không chỉ ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế mà còn ảnh hưởng đến bối cảnh địa chính trị rộng lớn hơn.

Thứ tư, Trung Quốc có thể sử dụng đường cơ sở mới này để yêu cầu các tàu thuyền Việt Nam cũng như tàu thuyền các nước đi vào khu vực mà Trung Quốc gọi là “lãnh hải” phải báo cáo, từ đó có thể tiến hành “xử lý các hành vi” mà họ cho là vi phạm theo luật pháp của Trung Quốc. Isaac Kardon – thành viên cấp cao tại Chương trình châu Á thuộc Quỹ Hòa bình quốc tế Carnegie có trụ sở tại Washington/Mỹ nhận định, việc phân định ranh giới mới nhất của Trung Quốc đã biến một phần phía Bắc Biển Đông thành vùng nội thủy của nước này tại những khu vực mà trước đây Bắc Kinh không xác định. Dù Trung Quốc tuyên bố đường cơ sở trong Vịnh Bắc Bộ không ảnh hưởng đến Việt Nam, nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ rất cao nếu Bắc Kinh thực thi chấp pháp trên biển theo đường cơ sở mới này, gây khó khăn cho ngư dân Việt Nam và có thể cản trở hoạt động hợp pháp của Việt Nam ở vùng biển Vịnh Bắc Bộ, đồng thời có thể làm leo thang thêm căng thẳng và tranh chấp trong khu vực.

Thứ năm, đường cơ sở ở Vịnh Bắc Bộ mà Trung Quốc vừa tuyên bố có thể đóng vai trò là “đòn bẩy” cho Trung Quốc trong các cuộc đàm phán với Việt Nam về các vấn đề biển riêng biệt ở Biển Đông, nhất là trong bối cảnh Trung Quốc ngày càng thể hiện quyết tâm khẳng định quyền kiểm soát ở các khu vực có tầm quan trọng chiến lược. Trên trang EurAsian Times, ông Shashank S. Patel, một nhà phân tích địa chính trị chuyên theo dõi các hoạt động ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, đánh giá rằng, việc Trung Quốc tuyên bố một đường cơ sở mà nhìn trên bản đồ thì chắc chắn nó “sẽ gây ảnh hưởng nhiều hơn đến vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam và vùng biển tranh chấp”. Ông Patel nhấn mạnh: “Trung Quốc đơn phương đưa ra đường cơ sở mới này là nỗ lực để hạn chế các đòi hỏi về quyền lợi của Việt Nam tại vùng EEZ của chính Việt Nam. Trung Quốc cũng sẽ giành nhiều quyền tiếp cận hơn tới các ranh giới trên biển, qua đó ngăn chặn sự can thiệp của phương Tây đối với các vấn đề ở Vịnh Bắc Bộ”. Từ những gì thấy được như trên, không chỉ dư luận trong và ngoài khu vực lo ngại mà chính Việt Nam cũng hết sức lo ngại. Tại họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao Việt Nam vào chiều ngày 14/3/2024, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng khi nói về việc Trung Quốc công bố đường cơ sở mới ở Vịnh Bắc Bộ đã cho rằng: “…các quốc gia ven biển cần tuân thủ UNCLOS 1982 khi xác định đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải, đảm bảo không ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của các quốc gia khác, bao gồm quyền tự do hàng hải, quá cảnh qua các eo biển sử dụng cho hàng hải quốc tế phù hợp với UNCLOS 1982…”. Và cần nhấn mạnh rằng, cách thức tốt nhất và duy nhất đúng là Trung Quốc cần tôn trọng và tuân thủ nghiêm túc Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ đã ký với Việt Nam, vì nó thể hiện sự tuân thủ nghiêm túc luật pháp quốc tế, những cam kết mà hai nước đã ký kết với nhau, phù hợp với 6 phương hướng hợp tác lớn trong thời gian tới đã được xác định trong Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc trong chuyến thăm Việt Nam của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (12/2023), đó là: Tin cậy chính trị cao hơn; hợp tác quốc phòng – an ninh thực chất hơn; hợp tác thực chất sâu sắc hơn; nền tảng xã hội vững chắc hơn; phối hợp đa phương chặt chẽ hơn; bất đồng được kiểm soát và giải quyết tốt hơn.

]]>