Các đô thị sầm uất lúc bấy giờ rất quan trọng. Trải qua bao biến cố lịch sử lúc thăng lúc trầm trong suốt quá trình di cư về định cư cộng đồng người Hoa đã có nhiều đóng góp quan trọng trong công cuộc khai khẩn. Đặc biệt là việc hình thành nên những trung tâm buôn bán và những đô thị sầm uất ở nơi họ sinh sống đặt cơ sở cho kinh tế hàng hóa phát triển về sau của Việt Nam.

Các đô thị thương mại ở Đàng Ngoài
Cuối thế kỷ XVII, người Hoa đã có mặt và cư trú tại Thăng Long và các vùng phụ cận với số lượng lớn. Lúc bấy giờ Thăng Long Kẻ Chợ và Phố Hiến là những đô thị lớn sầm uất với những khu dân cư đông đúc và phố phường buôn bán sản xuất thủ công nghiệp hết sức sôi động. Tại Thăng Long Kẻ Chợ (nay là Hà Nội), vốn là nơi tập trung hàng hóa từ các miền phục vụ cho các tầng lớp quan lại và người dân kinh thành, đợt di cư lớn nhất của người Hoa vào Thăng Long là vào thế kỷ XVII. Đây là hệ quả của sự thay đổi triều đại khi nhà Thanh thay nhà Minh trong giai đoạn thế kỷ XVII-XVIII và muộn nhất là vào thế kỷ XIX người Hoa tại Thăng Long Kẻ Chợ sống tập trung tại một số phố phường họ lập thành các bang như bang Quảng Đông ở phố Hàng Buồm, Hàng Ngang hay bang Phúc Kiến ở phố Lãn Ông… Tại những nơi người Hoa sinh sống đã hình thành lên những tiểu điếm trà đình nhằm đáp ứng sinh hoạt của Hoa kiều mà phố Hàng Buồm là một ví dụ tiêu biểu.
Tuy nhiên, do chính sách của các chúa Trịnh lúc bấy giờ nhất là việc kiểm soát đi lại của các thương nhân nước ngoài và hạn chế hoạt động của họ tại khu vực Thăng Long vô hình trung các chúa Trịnh đã tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài trong đó có người Hoa cư trú ngày càng đông ở Phố Hiến (nay là phía Nam thành phố Hưng Yên).
Có thể nói lúc bấy giờ tại Đàng Ngoài, ngoài kinh đô Thăng Long Kẻ Chợ phồn vinh thì Phố Hiến chính là đô thị nổi bật đứng ở vị trí thứ hai, chính vì vậy mà dân gian cũng có câu “Thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì phố Hiến” để nói về sự sầm uất và nhộn nhịp bậc nhất của Phố Hiến.
Ngoài ra, trên văn bia chùa Thiên Ứng dựng năm Vĩnh Tộ thứ 7 (tức năm 1625) đời vua Lê Thần Tông cũng đã ghi: “Phố Hiến nổi tiếng trong bốn phương là một tiểu Tràng An” (tức một kinh đô thu nhỏ). Khi đó, vị trí của Phố Hiến có vai trò đặc biệt quan trọng đối với các tuyến giao thông đường thủy thuộc hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình. Do điều kiện tự nhiên lý tưởng, nên Phố Hiến là nơi tập trung các luồng hàng quốc nội và quốc ngoại, đồng thời nó luôn tấp nập thuyền bè qua lại giao thương buôn bán trao đổi hàng hóa. Bên cạnh đó, Phố Hiến còn cho thấy diện mạo của một đô thị kinh tế. Cùng với bến cảng sông là các khu chợ khá sầm uất với hai thương điểm phương Tây của Hà Lan và Anh.
Vào thế kỷ XVII, nhiều người Hoa không theo nhà Thanh nên quyết định bỏ sang nước ta và chọn sinh sống ở Phố Hiến, khiến cho nơi đây càng thêm nhộn nhịp. Bên cạnh cộng đồng người Việt, thì người Hoa chính là cộng đồng đông dân thứ hai ở đây. Trước đó, các thương nhân người Hoa chỉ sống ở Làng Hoa Dương. Nhưng trong thời kỳ này đã mở rộng ra thêm Hoa Điền và Hoa Cái hợp thành Tam Hoa.
Sang đầu thế kỷ XVIII, sau những lần vỡ đê và do sự bồi đắp của sông Hồng đã khiến cho Phố Hiến ngày càng xa sông Hồng hơn theo thời gian và không còn đường thủy thuận tiện như trước đây. Tuy việc buôn bán giữa phương Tây và Phố Hiến sa sút nhưng người Hoa vẫn trụ lại và gần như nắm giữ độc quyền các hoạt động ngoại thương.
Sang thế kỷ XIX, khi kinh đô được rời từ Thăng Long đến Phú Xuân một lượng lớn người Hoa từ Phố Hiến rời đi khiến nơi đây trở nên vắng hơn và mất đi vai trò kinh tế quan trọng của mình. Thêm vào đó, các cuộc nội chiến nổi dậy triền miên cũng khiến nơi đây bị tàn phá tiềm lực kinh tế của Phố Hiến cũng giảm dần và rồi mất hẳn.
Các đô thị thương mại ở Đàng Trong
Tại Đàng Trong, các chúa Nguyễn đã tích cực thi hành các chính sách như khai hoang ruộng đất, thành lập các làng xã phát triển công thương nghiệp. Đặc biệt là khuyến khích phát triển ngoại thương. Nhờ những chính sách của chúa Nguyễn, rất nhiều người Hoa di dân đã tạo dựng được cơ nghiệp một cách vững chắc. Điều này đã thu hút thêm những làn sóng di cư mới của người Hoa đến Việt Nam. Việc họ buôn bán phát đạt đã góp phần không nhỏ trong việc hình thành nên những trung tâm buôn bán và những đô thị sầm uất tại nhiều khu vực thuộc Đàng Trong, một trong số đó là Hội An.
Hội An nằm bên bờ sông Thu Bồn ra đời vào khoảng cuối thế kỷ XVI và phát triển mạnh nhất trong thế kỷ XVII và XVIII. Khác với Phố Hiến hầu như toàn bộ hoạt động buôn bán ở Hội An đều nằm trong tay các thương nhân nước ngoài đặc biệt là các thương nhân Trung Quốc và Nhật Bản. Cụ thể, vào cuối thế kỷ 16, nhiều thương nhân Trung Quốc và Nhật Bản đã bắt đầu tìm đến Hội An để xây cất nhà cửa xây dựng đình chùa, Hội Quán. Từ đó, những khu phố của thương nhân người Hoa và thương nhân Nhật Bản bắt đầu ra đời tại vùng đất này.
Cũng trong giai đoạn này, các thương nhân phương Tây bắt đầu đổ xô đến Hội An để buôn bán và trao đổi hàng hóa. Tất cả các loại hàng hóa từ khắp nơi ở trong nước từ nhiều khu vực lãnh thổ và quốc gia khác nhau đều quy tụ về đây. Từ đó, các hoạt động kinh tế và thương mại càng trở nên nhộn nhịp, đem lại nguồn lợi nhuận không nhỏ cho người Hoa và có một phần quan trọng trong việc thúc đẩy sự hình thành và phát triển của đô thị Thương cảng Hội An.
Đến đầu thế kỷ XVII, do việc thực thi chính sách Tỏa Quốc (Sakoku) của nội các Nhật Bản đã làm cho thế lực người Nhật ở ngoại quốc bị suy giảm. Ở Hội An, người Hoa nhân cơ hội này đã chiếm cứ các khu vực cư trú của người Nhật và dần dần chiếm lấy toàn bộ thị trường thương mại của người Nhật trước kia, như vậy trong thời kỳ này người Hoa đều nắm và chi phối hầu hết các hoạt động kinh tế thương mại tại Hội An cùng với đó là các chúa Nguyễn cũng đã chủ động giao cho người Hoa đảm nhận những trọng trách quan trọng trong việc quản lý tàu thuyền ở Thương cảng Hội An như thu thuế, cân đo, định giá hàng hóa… Qua đó cho thấy được sự tài tình và khéo léo của các chúa Nguyễn trong việc quản lý nền kinh tế thương mại nhất là một thương cảng trọng yếu như Hội An.
Khoảng giữa thế kỷ XVII, làn sóng di dân lớn thứ hai của người Hoa đã đến Hội An, nhưng khác với thế kỷ XVI nguyên nhân chính của làn sóng thứ hai xuất phát từ những sự bất ổn trong nền chính trị ở Trung Quốc.
Tuy nhiên, nửa cuối thế kỷ XVIII, vùng Quảng Nam là một chiến trường trọng điểm trong cuộc chiến giữa Vương triều Nguyễn do Nguyễn Ánh đứng đầu với nhà Tây Sơn. Bên cạnh đó, quân Tây Sơn và quân Trịnh ở Đàng Ngoài cũng diễn ra nhiều cuộc giao tranh ác liệt. Năm 1775, quân Trịnh đã tràn vào tàn phá dữ dội làm cho Thương cảng Hội An ngưng trệ mọi hoạt động, nhà cửa và phố xá đổ nát hoang tàn, thương cảng Hội An chững lại trên đường phát triển.
Đến cuối thế kỷ XIX, do cửa sông Cửa Đại ngày càng bị thu hẹp lại và con sông Cổ Cò cũng bị phù sa bồi lấp khiến cho các thuyền lớn không vào được cảng Hội An. Cùng với một số yếu tố bất lợi như chính sách Bế quan Tỏa cảng của vua Nguyễn sự xuất hiện của Đà Nẵng và đầu tư của Pháp vào thương cảng này đã khiến cho Hội An suy thoái dần và đánh mất vị thế của mình.
Khu vực Hà Tiên
Người Hoa đã có mặt và định cư từ khá sớm vùng Mỏ Vịt – Hà Tiên là cách gọi không chính thức ứng với 2 phủ Vũng Thơm và Cần Bột trong lịch sử phong kiến Việt Nam, tồn tại như một phần lãnh thổ Việt Nam trong gần 150 năm, từ 1708 đến 1841. Trên thực tế, vùng Mỏ Vịt – Hà Tiên và cả đất Hà Tiên nói chung là một vùng đất rất rộng lớn. Nó bao gồm cả tỉnh Kiên Giang và tỉnh Cà Mau của Việt Nam, tỉnh Kampot, tỉnh Sihanoukville, và tỉnh Kep của Campuchia ngày nay.
Năm 1671, một người Hoa tên là Mạc Kính Cửu quê ở Lôi Châu tỉnh Quảng Đông đã mang cả gia đình binh sĩ và một số sĩ phu (tổng số khoảng 400 người) lên thuyền rời Phúc Kiến và đi về vùng biển phương Nam để tị nạn. Lúc đầu thì Mạc Cửu xin thần phục Vương triều U Đông của Campuchia và được phong cho các vị quan trọng trong vương triều. Nhưng do sự kèn cựa và ghen tị trong nội bộ của U Đông nên Mạc Cửu đã chọn lập nghiệp tại một nơi mà sau này có thể cho ông quyền độc lập, đó là Hà Tiên – một vùng đất giàu tài nguyên thích hợp cho khai phá và là điểm giao thoa của các nguồn lực tiềm năng kinh tế và chính trị. Sau khi được Vương triều U Đông cử làm quan cai trị các khu vực lãnh thổ dọc theo Vịnh Xiêm thì ông có chủ trương không thu thuế để dân khai thác tự do và chỉ đứng ra thu mua sản phẩm rồi bán lại cho khách buôn. Đồng thời, Mạc Cửu cũng mở ra nhiều sòng bài điều này đã quy tụ dân cư đến vùng Hà Tiên ngày càng đông gây nên sự thuyền của các nơi đều ghé mua bán rất tấp nập, dần dần khu vực này trở thành một vùng rất phồn thịnh với tên gọi là Căn Khẩu Quốc và cái tên Đảo Phú Quốc cũng được ra đời trong thời gian này với ý nghĩa là giàu có.
Tuy nhiên, sự trù phú cũng khiến cho Căn Khẩu Quốc gặp phải nhiều tai họa, các tốp hải tặc thường xuyên quấy phá, quân Xiêm La cũng nhiều lần xua binh đến đánh. Chúng đã bắt Mạc Cửu và thuộc hạ của ông làm tù binh. Trước sự bất lực của nhà cầm quyền Campuchia trong việc bảo vệ mình sau khi thoát khỏi tù đày Mạc Cửu xin tự đặt mình dưới quyền bảo hộ của nước ta vào năm 1708 lúc này do các chúa Nguyễn nắm quyền.
Cù Lao Phố
Tám năm sau khi nhóm người Mạc Cửu đến Hà Tiên, nhóm thứ hai về hai đoàn quân do hai danh tướng Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch dẫn dắt đã được chúa Nguyễn cho vào vùng đất phương Nam khai khẩn. Họ đều là những người theo phong trào phản Thanh phục Minh. Trong đó, nhóm Trần Thượng Xuyên vượt qua cửa Cần Giờ vào xứ Biên Hòa và định cư ở Cù Lao Phố (nay thuộc thành phố Biên Hòa tỉnh Đồng Nai). Nhóm còn lại theo Dương Ngạn Địch đến định cư trên dòng sông Tiền (nay là thành phố Mỹ Tho tỉnh Tiền Giang).
Tại Cù Lao Phố, mặc dù nằm cách xa biển, nhưng nó lại là nơi sông sâu và nước chảy bao quanh. Nên có thể ngược lên phía Bắc khai thác nguồn hàng lâm thủy sản. Và dễ dàng ra biển lớn ở phía Nam để giao thương. Bấy giờ nơi đây mới chỉ có một ít người Việt đến trước. Người Hoa và người Việt cùng nhau khai phá vùng đất này, mở mang đất đai, lập phố chợ, giao thông buôn bán. Dần dần các tàu thuyền người Hoa và người phương Tây đến đây buôn bán ngày càng tấp nập. Thương nghiệp phát triển dẫn đến các nghề thủ công phát triển theo. Chỉ trong một vài thập niên, đến đầu thế kỷ XVIII, những người Hoa di cư đã biến Cù Lao Phố thành một thương cảng xuất nhập khẩu lớn, thu hút thuyền buôn Nhật Bản, Trung Quốc và các nước phương Tây.
Nhưng sự thịnh vượng của Cù Lao Phố chỉ kéo dài đến nửa đầu thế kỷ XVIII thì bắt đầu đi xuống vì nhiều nguyên nhân. Song chủ yếu là do sự tàn phá của chiến tranh giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh, Cù Lao Phố từ khi hình thành và phát triển cho đến khi bị tàn phá đã tồn tại được 97 năm từ năm 1679 đến năm 1776.
Chợ Lớn
Sau nhiều biến cố lịch sử, ngày nay địa danh Chợ Lớn được dùng để chỉ toàn bộ khu vực quận 5, quận 6 và một phần quận 11 của thành phố Hồ Chí Minh. Quận 5 và quận 6 cũng là khu vực sinh sống chủ yếu của cộng đồng người Hoa tại thành phố này.
Tại Chợ Lớn, ngay từ ban đầu người Hoa đã là một cộng đồng quan trọng của khu vực này. Từ trước năm 1698, khu vực Chợ Lớn mà lúc này người ta thường gọi là Đề Ngạn đã bao gồm nhiều thôn, xã trong đó có xã Minh Hương dân trong xã Minh Hương là những người Hoa đã nhập quốc tịch Việt, đa số làm nghề buôn bán nhưng trung tâm thương mại của Nam Bộ lúc này là Cù Lao Phố chứ không phải Đề Ngạn.
Mọi chuyện chỉ thay đổi khi quân Tây Sơn tàn phá Cù Lao Phố vào năm 1776, khiến nhiều người Hoa phải chuyển vào cư trú tại khu vực này để tránh những giao tranh nhưng do nhu cầu buôn bán nên người Hoa đã phát triển giao thương đường thủy dọc theo các tuyến sông và kênh rạch theo kiểu trên bến dưới thuyền. Ngày nay nó nằm ở khu vực từ đường Tản Đà tới Kim Biên và từ Nguyễn Trãi xuống kênh Tàu Hủ. So với chợ Tân Kiểng của người Việt khi ấy thì chợ của người Hoa lớn hơn nên được người dân gọi là Chợ Lớn sau đó, tên chợ cũng được dùng để chỉ vùng đất mà nó tọa lạc.
Nhìn chung, Chợ Lớn là sự thừa hưởng của trung tâm thương mại Cù Lao Phố trù phú, các thương nhân người Hoa cũng kế thừa từ việc buôn bán cũ chỉ là chuyển đổi hình thức hoạt động cho phù hợp với điều kiện mới. Dần dần, Chợ Lớn trở thành trung tâm thương mại quan trọng của Nam Bộ, sau nhiều thế kỷ xây dựng và phát triển, người Hoa ở Chợ Lớn không chỉ làm thay đổi diện mạo cảnh quan mà còn tạo nên những giá trị đặc sắc về đời sống văn hóa vật chất và tinh thần nơi đây. Chính họ là những chủ thể đã khai khẩn, khởi dựng nên một trung tâm đô thị sầm uất với những cửa hiệu buôn bán tấp nập, những cơ sở sản xuất hàng hóa có thương hiệu uy tín, những ngân hàng, rạp hát, chùa chiền, võ đường, phố thuốc bắc, bệnh viện Đông Tây y, khách sạn, nhà hàng, phố ẩm thực…. Đậm đà bản sắc truyền thống của người Hoa.`
Dân số người Hoa tại Chợ Lớn còn tăng mạnh vào thời Pháp thuộc nhờ chính sách khuyến khích nhập cư lúc bấy giờ của chính phủ bảo hộ, sau khi Pháp chiếm Nam Kỳ và bắt tay vào cai trị thì tình hình cơ cấu và tổ chức của người Hoa ở Chợ Lớn cũng biến động theo.
Năm 1865, Pháp cho thành lập một hội đồng quản hạt tại Chợ Lớn gồm 5 người Việt Nam, 15 người Hoa và 5 người Minh Hương. Hội đồng này có nhiệm vụ tiếp đón người Hoa di cư và thu thuế cư trú, mỗi hoa kiều nhập cư vào Việt Nam buộc phải gia nhập một trong bảy bang đã có từ thời nhà Nguyễn.
Lúc này, hội đồng quản hạt được coi là một đơn vị chính quyền tương đối độc lập với chính quyền Trung ương, nó được phép ban hành những luật lệ riêng và không phải thông qua chính quyền thuộc địa như quản lý kiều dân, giá bán gạo, định mức xuất nhập cảng…
Thời Việt Nam Cộng Hòa, người Hoa thao túng gần như toàn bộ nền kinh tế ở Sài Gòn – Chợ Lớn cho đến trước khi Việt Nam thống nhất. Trong số 4 Đại Phú Hào cực kỳ nổi tiếng ở Sài Gòn lúc bấy giờ thì có 3 người là người Hoa. Đó là Quách Đàm – người xây dựng chợ Bình Tây, Chú Hỏa Khứa Bồn Hòa – người từng có 20.000 nhà mặt phố tại Sài Gòn và Trương Văn Bền – chủ thương hiệu xà bông Cô Ba. Ngày nay, tuy đã có nhiều thay đổi so với trước đây những nét văn hóa đặc trưng vẫn còn hiện rõ trong từng nếp nhà, từng con người và phong cách sống của người Hoa ở Chợ Lớn.
Chợ Lớn vẫn là một trong những trung tâm buôn bán phồn thịnh không chỉ của người Hoa mà còn cả của người Việt Nam. Đồng thời nó cũng là một trung tâm kinh tế không thể thiếu của thành phố năng động bậc nhất Đông Nam Á, đó là thành phố Hồ Chí Minh.
T.P