Wednesday, February 25, 2026
Trang chủBiển ĐôngPháp luật biểnIndonesia cần tỉnh táo tránh rơi vào bẫy “đường đứt đoạn” của...

Indonesia cần tỉnh táo tránh rơi vào bẫy “đường đứt đoạn” của TQ Ở BĐ

Nhân dịp 9 năm Toà Trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII của UNCLOS 1982 về Biển Đông đã ra phán quyết bác bỏ các yêu sách về cái gọi là “quyền lịch sử” và “đường đứt đoạn” của Trung Quốc ở Biển Đông, chúng ta cùng đi phân tích những “lỗ hổng” trong chính sách Biển Đông của chính quyền Tổng thống Indonesia Prabowo Subianto có thể khiến nước này đứng trước nguy cơ “mắc bẫy” Trung Quốc về “đường đứt đoạn”.

Được coi là nước không liên quan trực tiếp tới tranh chấp Biển Đông, song Indonesia luôn thể hiện tinh thần thượng tôn pháp luật trên vấn đề Biển Đông, dưới thời của người tiền nhiệm – cựu Tổng thống Joko Widodo liên tục phản đối yêu sách “đường đứt đoạn” của Bắc Kinh, kể cả việc gửi công hàm lên Liên hợp quốc. Khi còn đương nhiệm, ông Joko Widodo còn đích thân ra quần đảo Natuna để cổ vũ các lực lượng Indonesia đối phó với sự xâm nhập của Bắc Kinh vào vùng đặc quyền kinh tế của nước này xung quanh quần đảo Natuna.

Tuy nhiên, trong chưa đầy một năm qua kể từ khi nhậm chức Tổng thống, ông Prabowo Subianto đã có nhiều biểu hiện “nhượng bộ” Trung Quốc ở Biển Đông để đổi lấy sự tăng cường hợp tác kinh tế với Bắc Kinh. Điều này khiến Indonesia đứng trước nguy cơ hy sinh quyền lợi hợp pháp của mình và gây khó khăn cho các nước ven Biển Đông khác trong đấu tranh chống lại sự bành trướng của Bắc Kinh.

Trong Tuyên bố chung được đưa ra sau chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Indonesia Prabowo Subianto vào tháng 11/2024, lần đầu tiên, Indonesia đã công nhận yêu sách hàng hải chồng lấn với Trung Quốc và đề xuất một thỏa thuận khai thác chung. Điều này đã gây ra sự phản đối từ công chúng và các nghị sỹ quốc hội Indonesia do lo ngại rằng việc này sẽ hợp pháp hóa yêu sách “đường đứt đoạn” bất hợp pháp của Trung Quốc. Bộ Ngoại giao Indonesia ngay sau đó tuyên bố rằng hợp tác giữa Indonesia và Trung Quốc không đồng nghĩa với việc công nhận yêu sách đường chin đoạn, tái khẳng định lập trường lâu nay của nước này là yêu sách đường chin đoạn không phù hợp luật pháp quốc tế và Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982); hợp tác không ảnh hưởng đến chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Indonesia ở Biển Đông. Chính phủ Trung Quốc đã nhanh chóng bày tỏ sự sẵn sàng đàm phán thêm về vấn đề này với Indonesia.

Tại Diễn đàn Ngoại giao Antalya vào tháng 4/2024, Tổng thống Indonesia Prabowo đã công bố tầm nhìn của mình về tăng cường an ninh và thịnh vượng toàn cầu. Ông Prabowo đã đưa ra đề xuất gây tranh cãi về phát triển chung giữa Indonesia và Trung Quốc tại các khu vực hàng hải chồng lấn với hy vọng các khoản đầu tư của Bắc Kinh vào nước này có thể hỗ trợ việc làm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Indonesia. Phát biểu tại diễn đàn, Tổng thống Prabowo xác nhận rằng đề xuất phát triển quần đảo Natuna với Trung Quốc là ý tưởng của riêng ông. Tổng thống Prabowo tuyên bố: “Tôi cũng đã đưa ra đề xuất khai thác chung với Trung Quốc, Chủ tịch Tập Cận Bình. Chúng tôi tôn trọng lập trường pháp lý của nhau, nhưng trong thời gian này, tại sao chúng ta không hợp tác? Chúng ta có một vùng biển chồng lấn”. Giới phân tích nhận định cách tiếp cận của Tổng thống Prabowo đặt ra các vấn đề pháp lý và an ninh cho Indonesia.

Tổng thống Prabowo tuyên bố: “Trung Quốc tuyên bố trong lịch sử hàng nghìn năm, ngư dân Trung Quốc đã đánh bắt cá ở vùng biển đó, và chúng tôi tuyên bố trong hàng nghìn năm, ngư dân Indonesia đánh bắt ở vùng biển đó. Vì vậy, tôi đã nói với Chủ tịch Tập, tại sao chúng ta không cùng khai thác?” Các chuyên gia pháp lý cho rằng nội dung phát biểu này của ông Prabowo dựa trên các yêu sách lịch sử hơn là luật pháp quốc tế. Điều này vô hình chung thừa nhận cái gọi là “quyền lịch sử” của Trung Quốc đã bị Phán quyết năm 2016 của Toà Trọng tài Biển Đông bác bỏ.

Các chuyên gia luật pháp nhận xét phát biểu trên của ông Prabowo bỏ qua thực tế rằng, do Indonesia là một bên tham gia UNCLOS 1982, nên nước này không cần phải tuân theo cách tiếp cận yêu sách lịch sử của Trung Quốc. Thay vào đó, Indonesia nên nhấn mạnh rằng việc hợp tác với Trung Quốc chỉ dựa trên các nguyên tắc của UNCLOS 1982. Các quyền của Indonesia dựa trên các điều khoản của UNCLOS 1982 đối với vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của nước này. Trong khi đó, yêu sách của Trung Quốc dựa trên các giả định lịch sử mơ hồ theo “đường đứt đoạn”. Một thỏa thuận khai thác chung không dựa trên các nguyên tắc của luật pháp quốc tế và UNCLOS 1982 sẽ không chặt chẽ về mặt pháp lý cũng như không bảo vệ được các quyền và lợi ích hợp pháp của Indonesia.

Phạm vi của đề xuất khai thác chung cũng vẫn chưa rõ ràng. Trong tuyên bố, ông Prabowo cho biết đề xuất này sẽ tập trung chủ yếu vào nghề cá, với việc cả hai nước đều cấp giấy phép cho ngư dân của mình ở các khu vực hàng hải được cho là chồng lấn. Tuy nhiên, theo luật pháp quốc tế, Indonesia và Trung Quốc không có bất kỳ khu vực hàng hải chồng lấn nào như lập trường nước này vẫn công bố từ trước đến nay.

Theo Điều 56 của UNCLOS 1982, Indonesia không có lý do gì để cấp nhượng bộ đánh bắt cá cho tàu nước ngoài dựa trên các yêu sách không được luật pháp quốc tế cho phép. Indonesia không thể tuyên bố tuân thủ luật pháp quốc tế trong khi dựa trên các nguyên tắc khai thác chung không phù hợp UNCLOS 1982. Tổng thống Prabowo đã tỏ ra ngạc nhiên khi Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nhanh chóng chấp nhận đề xuất của ông, như thể không biết rằng Jakarta đã từng từ chối đề xuất trước đây của Bắc Kinh về khai thác chung với Indonesia.

Rõ ràng là nếu Indonesia nhất trí khai thác chung với Trung Quốc trong khu vực “đường đứt đoạn” đồng nghĩa với việc nước này sẽ ngầm thừa nhận yêu sách của Trung Quốc. Vì lý do này, Indonesia trong 10 năm dưới thời chính quyền tiền nhiệm của Tổng thống Joko Widodo liên tục tuyên bố rằng nước này không có yêu sách chồng lấn với Trung Quốc và sẽ không đồng ý với bất kỳ đề xuất khai thác chung nào.

Một điều cần khẳng định rằng, vùng biển phía Bắc quần đảo Natuna của Indonesia có sự chồng lấn với vùng biển phía Nam Việt Nam theo quy định của UNCLOS 1982. Trên cơ sở luật pháp quốc tế, năm 2003 Jakarta và Hà Nội đã ký Hiệp định phân định ranh giới thềm lục địa; sau khi được 2 nước phê chuẩn, Hiệp định đã có hiệu lực từ tháng 5/2007. Tiếp đó, sau 12 năm đàm phán, tháng 12/2022 Indonesia và Việt Nam đã ký kết Hiệp định đàm phán về việc phân định vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) chồng lấn giữa hai nước ở Biển Đông; hai bên khẳng định sẽ sớm phê chuẩn Hiệp định này.

Các nhà phân tích cho rằng các hiệp định phân định biển giữa Indonesia với Việt Nam, gián tiếp bác bỏ yêu sách “đường đứt đoạn” của Trung Quốc ở Biển Đông, đồng thời mở đường cho các nước láng giềng của Trung Quốc giải quyết các yêu sách biển chồng lấn ở Biển Đông. Giáo sư Jill Goldenziel, Đại học Quốc phòng Mỹ, lưu ý rằng Việt Nam và Indonesia đã quyết định giải quyết tranh chấp ranh giới của hai nước dựa trên UNCLOS 1982, qua đó bác bỏ yêu sách của Trung Quốc về “quyền lịch sử” đối với Biển Đông. Do đó, các hiệp định này là một bước quan trọng hướng tới một mặt trận thống nhất giữa các nước láng giềng của Trung Quốc trong việc giải quyết hòa bình các tranh chấp chủ quyền và biển ở Biển Đông. 

Trung Quốc không hài lòng với hiệp định giữa Indonesia – Việt Nam và sẽ tìm cách phá hoại. Trên thực tế, Trung Quốc đã nhiều lần triển khai lực lượng hải cảnh và dân quân biển có vũ trang, đội lốt tàu cá xâm nhập vào vùng biển phía Bắc quần đảo Natuna để quấy nhiễu hoạt động dầu khí của Indonesia. Câu hỏi đặt ra là việc ông Prabowo đưa ra đề xuất khai thác chung với Trung Quốc là ở khu vực nào. Nếu đó là vùng biển phía Bắc quần đảo Natuna thì vô hình chung, ông Prabowo đã mâu thuẫn với chính mình và đi ngược lại những thoả thuận với Việt Nam.

Giới chuyên gia cảnh báo có vẻ như chính quyền của ông Prabowo đã thay đổi hướng và có nguy cơ rơi vào bẫy “đường đứt đoạn” của Trung Quốc. Hiện vẫn còn nhiều câu hỏi về lý do tại sao Prabowo đưa ra những nhận xét này tại Diễn đàn Ngoại giao Antalya và động lực nào thúc đẩy ông đưa ra đề xuất khai thác chung với Trung Quốc. Một trong nguyên nhân có thể là tầm quan trọng về mặt kinh tế của Trung Quốc đối với Indonesia. Tổng thống Prabowo đã cam kết kinh tế Indonesia sẽ đạt tăng trưởng 8%/năm.  Để đạt được mục tiêu này, Indonesia cần tới khoản đầu tư nước ngoài đáng kể. Trong khi đó, Trung Quốc là nước cung cấp vốn phát triển kinh tế tiềm năng lớn nhất của Indonesia, nên đề xuất khai thác chung trở thành một công cụ tiềm năng để Indonesia đảm bảo nhận được nguồn đầu tư từ Trung Quốc. Mặc dù vậy, Indonesia không nên hy sinh các quyền chủ quyền và quyền tài phán được quốc tế công nhận đối với vùng đặc quyền kinh tế của mình.

Giới chuyên gia nhận định nếu đề xuất về một thỏa thuận phát triển chung giữa Indonesia và Trung Quốc được Tổng thống Prabowo đề cập tại Diễn đàn Ngoại giao Antalya được triển khai sẽ đưa đến những hệ quả xấu không chỉ cho Indonesia và cho cả khu vực:

Thứ nhất, điều này đi ngược lại lập trường và quan điểm lâu nay của Indonesia là “không có vùng biển nào chồng lấn với Trung Quốc”, bác bỏ yêu sách “đường đứt đoạn” của Bắc Kinh. Nếu ông Prabowo làm điều này là đi ngược lại Phán quyết năm 2016 của Toà Trọng tài Biển Đông và trái với các quy định của UNCLOS 1982. Điều này cũng sẽ khiến Indonesia mất uy tín và vai trò trong ASEAN và trong con mắt của cộng đồng quốc tế. Không những thế, điều này còn gây chia rẽ ngay trong nội bộ của Indonesia bởi ngay từ tháng 11/2024, nhiều nghị sĩ và công chúng của Indonesia đã phản đối cách tiếp cận này.

Các chuyên gia cho rằng điều cần làm của ông Prabowo hiện nay là thúc đẩy nhanh chóng phê chuẩn Hiệp định phân định vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) chồng lấn giữa Indonesia – Việt Nam để vô hiệu hoá yêu sách “đường đứt đoạn” của Trung Quốc.

Thứ hai, điều này không chỉ tổn hại tới chủ quyền và các lợi ích trên biển của Indonesia mà còn ảnh hưởng tiêu cực tới các nước ven Biển Đông khác, phá vỡ thế trận pháp lý mà các nước đã tạo ra được để đối phó với Trung Quốc trên Biển Đông. Lâu nay, Trung Quốc luôn tìm cách thúc ép các nước ven Biển Đông thực hiện “cùng khai thác”, nhưng chưa được bất cứ nước nào thực hiện. Nếu Jakarta triển khai một dự án phát triển chung như ông Prabowo đề cập, Bắc Kinh sẽ được đà lấn tới để ép các nước ven Biển Đông như Việt Nam, Philippines, Malaysia “cùng khai thác” ở Biển Đông. Chúng ta còn nhớ, dưới thời của cựu Tổng thống Duterte, năm 2018 Manila và Bắc Kinh đã ký Bản ghi nhớ về khai thác chung dầu khí ở Biển Đông nhưng cuối cùng đã phải tuyên bố huỷ bỏ thoả thuận này vào tháng 6/2022, trước khi ông Duterte kết thúc nhiệm kỳ. Chúng ta tin tưởng rằng với sự sáng suốt và tấm nhìn chiến lược của mình ông Prabowo sẽ không triển khai dự án khai thác chung trên biển với Trung Quốc, tránh rơi vào cái bẫy “đường đứt đoạn” của Bắc Kinh. Vai trò của các quan chức cấp cao và cố vấn pháp lý trong chính phủ Indonesia phải là đảm bảo rằng Prabowo không triển khai được đề xuất này. Họ phải thuyết phục Prabowo rằng hệ quả nghiêm trọng của dự án khai thác chung với Trung Quốc sẽ cản trở lợi ích lâu dài của Indonesia. Tuy nhiên, đây không phải là một nhiệm vụ dễ dàng, vì nó đòi hỏi họ phải có lòng dũng cảm để nói lên sự thật.

RELATED ARTICLES

Tin mới