Sự ký – biendong.net https://biendong.net Thông tin toàn diện về tình hình Biển Đông Mon, 22 Nov 2021 05:56:28 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.9.1 “Đại lão Hổ” Quách Bá Hùng hoang dâm vô độ, mê tín dị đoan https://biendong.net/2015/08/25/dai-lao-ho-quach-ba-hung-hoang-dam-vo-do-me-tin-di-doan/ Tue, 25 Aug 2015 12:06:50 +0000 http://localhost/wp/2015/08/25/dai-lao-ho-quach-ba-hung-hoang-dam-vo-do-me-tin-di-doan/ Quách Bá Hùng được coi là kẻ hoang dâm vô độ, đã bao nuôi dài ngày tới mười mấy người tình trẻ. Quách Bá Hùng đã 3 lần bị gửi thư tố giác ngoại tình. Khi khám nhà ở của Quách ở các nơi, các nhân viên điều tra đã thu giữ hơn 500 đĩa hình sex, hơn 120 cuốn tạp chí khiêu dâm…

Ngày 30/7, sau khi tin Quách Bá Hùng bị khai trừ đảng và chuyển Viện kiểm sát quân sự điều tra xử lý theo pháp luật, một viên tướng giấu tên đã cho báo chí biết: Khi khám nhà Quách Bá Hùng, nhân viên tổ công tác của Ủy ban kiểm tra kỷ luật trung ương đã tìm thấy một túi xách đựng đầy tiền, trong đó có bản lý lịch tóm tắt của Đổng Minh Tường ở QK Bắc Kinh. Đây được coi là chứng cứ của một vụ mua chức tước.

Lon tướng: Giá 10 triệu tệ

Ngày 13/4/2015, Thiếu tướng Đổng Minh Tường – Cục trưởng Liên cần QK Bắc Kinh bị điều tra. Đổng đã công tác ở QK Bắc Kinh nhiều năm, lần lượt giữ các chức Trưởng phòng xây dựng doanh trại, Cục trưởng xây dựng cơ bản, Phó Cục trưởng Liên cần. Khi đó, báo Tài Kinh đã viết Đổng bị bắt do liên quan đến việc hối lộ khoản tiền lớn cho cán bộ cấp cao. Đêm 30/7, sau khi Tân Hoa xã công bố tin kỷ luật Quách Bá Hùng, Tài Kinh viết rõ: Đổng Minh Tường đã hối lộ Quách Bá Hùng để mua quan tước.

Tài Tân dẫn lời một số cán bộ cũ của Quân khu Bắc Kinh cho biết, trong số mấy chục tướng bị điều tra gần đây, có rất nhiều người liên quan đến việc đưa hối lộ cho Từ Tài Hậu và Quách Bá Hùng. Khi là Phó chủ tịch Quân ủy, Quách Bá Hùng được giao quản hai mặt quan trọng là tham mưu (huấn luyện, tổ chức lực lượng, tác chiến) và trang bị (mua sắm, sản xuất vũ khí, phương tiện quân sự). Các tướng lĩnh hai ngành này muốn được thăng cấp hay đề bạt, bổ nhiệm phải có ý kiến của Quách Bá Hùng mới xong và ông ta đã bị cáo buộc lợi dụng điều này để ra sức vơ vét, nhận hối lộ.

Có những thông tin tố giác có hẳn bảng giá cả cho lon tướng: muốn được phong từ Đại tá lên Thiếu tướng phải chi từ 5 đến 10 triệu tệ (17,5 đến 35 tỷ VNĐ); từ Thiếu tướng lên Trung tướng, phải “cống” choQuách Bá Hùng từ 20 đến 30 triệu tệ (70 đến 105 tỷ VNĐ), ai nhiều hơn, người đó được. Có một Thiếu tướng ở Quân khu Nam Kinh biếu Quách Bá Hùng 10 triệu tệ, Quách đã gật, nhưng không ngờ một người khác cống 20 triệu tệ để vào vị trí đó, thế là Quách trao lon Trung tướng cho người đến sau.

 

 Đổng Minh Tường bị bắt vì mua lon tướng từ Quách Bá Hùng

Hoang dâm vô độ

Quách Bá Hùng được coi là kẻ hoang dâm vô độ, đã bao nuôi dài ngày tới mười mấy người tình trẻ. Những người đẹp này sau khi lọt vào mắt Quách Bá Hùng, đều được Từ Tài Hậu điều về các đoàn văn công Chiến Hữu, Chiến Sỹ, Tiền Tiến và Hải Chính để phục vụ Quách.

Quách Bá Hùng đã 3 lần bị gửi thư tố giác ngoại tình, 1 lần bị Quân ủy kiểm điểm (năm 2001, khi đang là Phó Tổng TMT, bị kỷ luật hình thức ghi hồ sơ), 1 lần bị Bộ Chính trị kiểm điểm (tháng 4/2008, khi đang là Phó chủ tịch Quân ủy), tháng 7/2012 lại bị tố giác tiếp lần thứ 3.

Khi khám nhà ở của Quách ở các nơi, các nhân viên điều tra đã thu giữ hơn 500 đĩa hình sex, hơn 120 cuốn tạp chí khiêu dâm, 38 bức tranh sơn dầu của Trung Quốc và nước ngoài, 9 cuốn hộ chiếu giả (mang tên người khác).

Mê tín với “Trấn Long ấn”

Quách Bá Hùng còn là kẻ rất mê tín. Năm 2013, một vị Phó hiệu trưởng Đại học quốc phòng bỏ 6 triệu tệ mua một tảng ngọc Phỉ Thúy lớn tặng Quách Bá Hùng. Quách đã chi gần 1 triệu tệ thuê chuyên gia điêu khắc hàng đầu Trung Quốc Úy Trường Hải chạm khắc thành một chiếc ấn lớn, cho đưa lên Bạch Vân Quan để 1 ngày 1 đêm, không biết dùng phép thuật gì, rồi đem về cả nhà gọi đó là “Trấn Long ấn”, nói là có thể trấn yểm được “bên trên”, đảm bảo cho bản thân ông ta bình an, thế nhưng rốt cục vẫn không thể bình an vô sự.

Sau khi nghỉ hưu, Quách Bá Hùng đã đến Thiếu Lâm Tự đàm đạo và kết thân với Phương trượng Thích Vĩnh Tín, nhờ ông ta giúp đỡ gì đó về mặt tâm linh. Sau khi cả Quách Bá Hùng và Quách Bá Hùng bị điều tra, chuyện này được báo chí khui ra, trở thành đề tài giễu cợt.

 

Trấn Long ẩn mà Quách Bá Hùng sùng bái

Hèn nhát trốn tội

Về việc “3 lần tự sát không thành”, tạp chí “Tranh Minh” dẫn lời nhân viên điều tra cho biết: tối 2/5/2015, Quách Bá Hùng đã 3 lần tự sát với sự chuẩn bị từ trước: uống thuốc ngủ đã tích trữ từ những ngày trước bằng cách giấu vào trong tất chân; dùng cán bàn chải được mài nhọn cắt động mạch chân và úp gối lên mặt cho tức thở.

Được biết, khi đâm bàn chải vào chân, do đau quá ông ta buột miệng kêu và bị lính gác phát hiện. Quách được đưa ngay vào Bệnh viện Vũ Cảnh (Quân y viện của lực lượng cảnh sát vũ trang) cấp cứu. Trên đùi có vết rách sâu, dài 8cm, cách động mạch chính 2cm, chảy rất nhiều máu. Thuốc ngủ uống chưa kịp phát tác nên viện tiến hành rửa ruột.

Sau khi cấp cứu, Quách Bá Hùng được xuất viện đưa về quản chế tại “Bắc Kinh vệ tuất khu” (Bộ tư lệnh bảo vệ Bắc Kinh), thỉnh thoảng ông ta lại có biểu hiện hoảng hốt, chửi “Đại phản đồ Từ Tài Hậu” và đòi gặp ông Tập Cận Bình.

Về “tiêu hủy văn kiện và các tội chứng”: Sau khi Từ Tài Hậu bị bắt, ông Tập Cận Bình nhiều lần tuyên bố quyết tâm “thanh lọc hết ảnh hưởng của vụ án Từ Tài Hậu”, 2 Phó chủ tịch Quân ủy đương nhiệm cũng nhiều lần bày tỏ thái độ kiên quyết xử lý vấn đề này.

Thế nhưng, từ cuối năm 2014, từ cấp Bộ đến các đơn vị cơ sở, xuất hiện một phong trào nhanh chóng tiêu hủy mọi hình ảnh, văn bản, chỉ thị, ý kiến…của Quách Bá Hùng và Từ Tài Hậu, từ tài liệu cá nhân đến các hồ sơ lưu trữ, thư viện, bảo tàng.

“Đó không phải là loại trừ ảnh hưởng độc hại mà là tiêu hủy chứng tích phạm tội” – một cán bộ công tác lâu năm tại “Báo Quân giải phóng” đã phàn nàn. Hành động này được xem là có bàn tay chỉ đạo của Quách Bá Hùng./.

]]>
CẢM XÚC ĐỐI VỚI TRƯỜNG SA QUA NHỮNG VẦN THƠ https://biendong.net/2014/12/09/cm-xuc-i-vi-trng-sa-qua-nhng-vn-th/ Tue, 09 Dec 2014 07:27:30 +0000 http://localhost/wp/2014/12/09/cm-xuc-i-vi-trng-sa-qua-nhng-vn-th/ BienDong.Net: Chuyến đi thăm Trường Sa năm 2014 đã để lại nhiều cảm xúc cho các đại biểu Việt kiều. Họ đã thể hiện những tấm lòng của mình đối với biển đảo quê hương qua những vần thơ, lời ca tiếng hát. Đại biểu Đặng Thế Sáng Việt kiều Cộng hòa Liên bang Đức là một trong những đại biểu đó. May mắn có mặt trong chuyến đi, tôi xin ghi lại cảm xúc dâng trào của ông Đặng Thế Sáng đối với biển trời đất Việt.

Biển hôm nay sao lạ vậy? Từng đợt sóng nhẹ nhàng cứ đuổi nhau trong không gian bất tận. Giữa mênh mông sóng nước, bất chợt xa tít là một màu xanh của của đảo, dường như sự sống đang trỗi dậy, bằng sức mạnh của con người. Đây Song Tử Tây vẫn sừng sững hiên ngang giữa trời xanh lộng gió. Trên boong tàu, mỗi thành viên trong đoàn đều có nhiều biểu đạt khác nhau nhưng tất cả đều có một điểm chung về chủ quyền thiêng liêng biển đảo của đất nước Việt Nam.

Đây đá Gạc Ma, nơi những kẻ bành trướng Bắc Kinh đã chỉ đạo quân đội của họ sử dụng vũ lực đánh chiếm năm 1988, luôn gợi lại trong lịch sử một khúc tráng ca bất tử, nơi mà 64 người lính Hải quân Việt Nam đã làm nên vòng tròn bất tử để tinh thần ấy luôn sáng rực trên Biển Đông dậy sóng. Hành động xâm lược trái phép đá Gạc Ma bất chấp luật pháp quốc tế của quân đội Trung Quốc đã làm cho trái tim mỗi đại biểu đau nhói. Hình ảnh Gạc Ma luôn hiện hữu trong mỗi trái tim của người dân đất Việt

Với đại biểu Đặng Thế Sáng, ông lại gửi gắm những cảm xúc của mình vào những vần thơ mộc mạc nhưng sâu lắng.

Tàu rời bến, bao bàn tay vẫy mãi

Bao mến thương, gửi gắm từ quê nhà

Tàu xé nước, hướng Trường Sa lao tới

Đảo nổi, đảo chìm, đang chờ đợi ta…

Trong khao khát, tàu lao về phía trước

Dông tố nào cản được biển đảo ơi!

Giữa đại dương cùng vang lên câu hát,

Hải âu chao mình, vui đón bạn biển ơi!

Nếu như trong cái nắng, cái gió thẫm đậm vị mặn của biển, người ta bắt gặp Thế Sáng lặng lẽ làm thơ về đất nước về con người thì khi đến đảo Len Đao lại gặp Thế Sáng là một con người khác. Khác bởi ông là người Việt và điều quan trọng trái tim của Thế Sáng lại rung lên những nhịp đập khác thường, nhịp đập cùng với biển cả, cùng với những hòn đảo mà ông đã vinh dự được đặt chân.

Bên này là Len Đao bên kia là Gạc Ma, bất chợt trong cơn sóng ào ạt, Thế Sáng lại tuôn trào trong giấy mực về buổi lễ cầu siêu trang trọng tưởng niệm những người con đất Việt đã hy sinh vì biển đảo của đất nước.

Gạc Ma ơi!

Gạc Ma tôi đến bần thần (rất gần)

Hoa đăng giăng biển, về phần mộ anh

Gió ngưng, sóng lặng, trời xanh

Đáy biển lạnh lắm, các anh đang nằm…

Xục xôi, bóng nước hờn căm

Còi tàu hú gọi… những năm xưa về!

Cho hồn anh được về quê

Cho cơn sóng dữ bớt đe dọa mình…

Hoa đăng trên biển kết thành

Lửa vây kẻ đã đê hèn giết anh

Các anh còn đó như thành

Che cho Tổ quốc, cho xanh bầu trời…

Biển Đông bớt sóng dữ rồi

Nơi anh ngã xuống chưa đòi được đâu?

Các anh nằm dưới biển sâu

Yên tâm anh nhé! Trước sau biển này.

Chúng tôi thế hệ hôm nay

Chung tay quyết giữ biển này của ta

Đêm nay sóng dâng lẵng hoa

Cho anh ấm mãi, mái nhà… Biển Đông!

Lời thơ đó chính là những cảm xúc thực, cảm xúc được thăng hoa bằng một nỗi đau và nỗi đau đó được thể hiện bằng khát vọng yêu nước, yêu hòa bình. Ngọn lửa thiêng từ những vòng tròn bất tử đó đã được Thế Sáng kết bằng vòng lửa, lửa đã bốc cháy để thiêu đốt.

Trong nỗi khát khao cháy bỏng về một hình ảnh đất nước con người Việt Nam, Thế Sáng lại khắc họa một nỗi nhớ vô bờ về quê hương, về biển đảo, về chủ quyền thiêng liêng của đất nước. Mạch thơ tràn đầy khí phách, nhưng cũng uyển chuyển trong khúc ca dịu ngọt của tình yêu của những phút đắm say trước sự vĩ đại của biển trời đất nước của chát mặn mồ hôi.

Nước biển mặn, thấm mồ hôi lính đảo

Súng trong tay, trong vắt những tiếng cười…

Từng đợt sóng dâng trào tình bầu bạn

Đất trời mình, gần lắm Trường Sa.

Không thể nói hơn được nữa về những tình cảm thiêng liêng như thế này qua giai điệu của bài thơ, câu từ trong áng thơ đó mượt mà nhưng cũng quyết liệt như con người của Thế Sáng. Thế Sáng đã bay trên đại dương bằng tình yêu quê hương đất nước, bằng cảm xúc thực trong chuyến hải trình đầy ý nghĩa.

Một chuyến đi mà không dễ gì có được, phải chăng cơ duyên đã đến với Thế Sáng, để Thế Sáng gửi ước nguyện vào những lời thơ của mình. Lời thơ đó nhỏ thôi nhưng nó lại là một thông điệp thể hiện rõ quyết tâm của mỗi con người đất Việt trong cuộc bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

                                                                                    BDN

]]>
Tàu ngư chính Trung Quốc xuất hiện trên vùng biển tranh chấp với Nhật Bản https://biendong.net/2011/07/06/tau-ng-chinh-trung-quc-xut-hin-tren-vung-bin-tranh-chp-vi-nht-bn/ https://biendong.net/2011/07/06/tau-ng-chinh-trung-quc-xut-hin-tren-vung-bin-tranh-chp-vi-nht-bn/#comments Wed, 06 Jul 2011 10:34:56 +0000 http://localhost/wp/2011/07/06/tau-ng-chinh-trung-quc-xut-hin-tren-vung-bin-tranh-chp-vi-nht-bn/

altBienDong.Net: Trung tâm chỉ huy lực
lượng bảo vệ bờ biển khu vực 11 của Nhật Bản thông báo, họ phát hiện một tàu
ngư chính của Trung Quốc hoạt động trên vùng biển tranh chấp.
Thông báo nêu rõ: Vào khoảng 6h40 hôm 3/7, tàu ngư chính 201 của Trung
Quốc xuất hiện tại vùng biển cách quần đảo Senkaku, mà Trung Quốc gọi là Điếu
Ngư, khoảng 31km về phía Tây Bắc.

Lực
lượng bảo vệ bờ biển Nhật Bản lập tức yêu cầu con tàu ra khỏi vùng biển này,
nhưng phía Trung Quốc đáp lại rằng “đây là vùng biển hợp pháp của Bắc Kinh” và
con tàu “đang thực hiện nhiệm vụ chính đáng của mình”. Tuy nhiên, đến khoảng
10h40, tàu ngư chính này cũng rời khỏi vùng biển tranh chấp.

alt

Một tàu ngư chính của TQ. Ảnh minh họa trên từ Internet.

Theo
Lực lượng bảo vệ bờ biển Nhật Bản, đây là lần đầu tiên Tokyo phát hiện tàu ngư
chính của Trung Quốc ở vùng biển gần quần đảo Senkaku từ sau thảm họa động đất
hồi tháng 3. Sự kiện này xảy ra sau khi nghiệp đoàn đánh cá Yaeyama ở thành phố
Ishigaki thuộc Nhật Bản đưa 10 tàu đến đánh cá 
ở vùng gần quần đảo Senkaku “để chứng minh đó là vùng lãnh hải Nhật
Bản”.

Trước
đó, hôm 23/6, Lực lượng Bảo an biển của Nhật Bản (JCG) cho biết tàu TQ Nanfeng
tải trọng 1.537 tấn đã đi vào vùng đặc quyền kinh tế EEZ của Nhật Bản, cách bờ
biển nước này 330km với lí do theo phía TQ đưa ra là nhằm “ tiến hành hoạt động
điều tra hải dương học”

Tàu
tuần tra của Nhật thông báo với Nanfeng rằng “Hoạt động điều tra hải dương, vốn
chưa có sự đồng ý nào trước đó, là không được chấp nhận” và yêu cầu Nanfeng
ngừng hoạt động này. Khoảng 2 giờ 31 phút chiều 23.6, tàu Nanfeng đã ra ngoài
vùng EEZ.

Theo
Lực lượng Bảo an trên biển, việc tàu Trung Quốc điều tra hải dương bên trong
EEZ của Nhật Bản ở Thái Bình Dương mà không có sự đồng ý của nước này là chuyện
xảy ra lần đầu tiên kể từ năm 2006 đến nay.

Hãng
tin Kyodo dẫn tuyên bố của Thứ trưởng Ngoại giao Chiaki Takahashi cho biết,
Nhật Bản cảnh báo Trung Quốc không tiến hành những hoạt động nghiên cứu hải
dương ở vùng EEZ 200 hải lý ở ngoài khơi Đông Bắc nước này.

Đáp lại phản ứng gay gắt của Nhật, hôm 28/6, người phát
ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi  phân bua rằng” tàu
nghiên cứu khoa học của Trung Quốc đã đi qua EEZ Nhật Bản để đến các vùng biển
sâu tiến hành hoạt động khảo sát môi trường biển, và khi đi qua vùng EEZ của
Nhật Bản, con tàu này  không hề có bất kỳ
hoạt động khảo sát nào. Trung Quốc đã làm rõ điều này với phía Nhật Bản.”

BĐN
tổng hợp ( Theo Đất Việt và VietNam Plus)

 

]]>
https://biendong.net/2011/07/06/tau-ng-chinh-trung-quc-xut-hin-tren-vung-bin-tranh-chp-vi-nht-bn/feed/ 1
Truy tìm những tấm bản đồ lưỡi bò của Trung Quốc trên tạp chí khoa học quốc tế https://biendong.net/2011/07/06/truy-tim-nhng-tm-bn-li-bo-ca-trung-quc-tren-tp-chi-khoa-hc-quc-t/ Wed, 06 Jul 2011 10:27:13 +0000 http://localhost/wp/2011/07/06/truy-tim-nhng-tm-bn-li-bo-ca-trung-quc-tren-tp-chi-khoa-hc-quc-t/

altBienDong.Net: Dưới
đây là trao đổi của TS Trần Ngọc Tiến Dũng và TS Bùi Quang Hiển (Canada), những
người lên tiếng cảnh báo về những tấm bản đồ sai sự thật của các tác giả Trung
Quốc đăng trên trên một số tạp chí khoa học quốc tế.

Các anh tiếp cận được với những tấm bản đồ
sai sự thật được đăng tải trên một số tạp chí khoa học nước ngoài trong trường
hợp nào?

TS Bùi Quang Hiển: Tôi nhìn thấy cái bản đồ Trung Quốc có đường lưỡi bò
được đăng tải trên tạp chí khoa học quốc tế lần đầu tiên vào ngày 17/6/2011
thông qua bức thư của Tiến sĩ Trần Ngọc Tiến Dũng. Tôi nghĩ là sẽ còn có nhiều
bài báo như thế mà các nhà khoa học Việt Nam chưa phát hiện ra.

Nhờ vào hệ thống dữ liệu và quyền truy cập vào các bài báo quốc tế trên mọi
lĩnh vực tại nơi tôi công tác, tôi đã dành thời gian tìm hiểu và liệt kê ra
khoảng 10 bài báo (đều của tác giả người Trung Quốc) có đăng tải bản đồ Trung
Quốc có hình lưỡi bò. Tôi nghĩ sẽ còn nhiều bài báo nữa mà tôi chưa phát hiện
ra, nên tôi đã viết thư thông báo cho các đồng nghiệp để có thể họ bắt tay vào
công cuộc tìm kiếm.

TS Trần Ngọc Tiến Dũng: Nhờ vào công tác nghiên cứu lĩnh vực
geosciences, geo-environments. Thông thường khi nghiên cứu 1 vấn đề nào đó cho
1 khu vực nghiên cứu của 1 vị trí địa lý nhất định, chúng ta sẽ thấy tác giả
đưa bản đồ địa lý nào đó để biểu thị khu vực nghiên cứu (KVNC) trên nguyên tắc
liên hệ KVNC với 1 vị trí địa lý nào đó mà nhiều người biết đến. Trong lĩnh vực
geosciences, geo-environments ta cũng rất hay gặp.

alt
Tấm bản đồ hình lưỡi bò trên Tạp chí Journal of Climatic Change mà TS  Bùi  Quang Hiển  phát  hiện.

Trở lại bài báo của Tai et al.: hình minh họa có bản đồ lưỡi bò chỉ cung cấp 1
thông tin duy nhất, đó là vị trí địa lý của khu vực nghiên cứu, nhưng nó lại
chiếm hơn nửa trang báo (do chèn lưỡi bò vào), trong khi bài báo chỉ 9 trang
(không kể tài liệu tham khảo). Thông thường, ít nhất là với cá nhân tôi, khi
giới thiệu vị  trí địa lý cho study area, bản đồ không cần phải to thế.
Còn có nhiều kết quả khác cần đăng trong khi trang báo luôn có giới hạn?


Cảm giác đầu tiên của anh khi nhìn tấm bản đồ sai sự thật đó như thế nào?

TS Trần Ngọc Tiến Dũng:
Tôi đã thấy tấm bản đồ này đăng trên 1 cách chính
thống trong tạp chí hàng không của South China Airline khi đi máy bay của hãng
này (2009). Tôi đã chụp hình và kể lại với mọi người.

Tuy nhiên, tôi thật sự sốc khi thấy bản đồ lưỡi bò xuất hiện rất lớn một cách
“tự tin” trên một tạp chí khoa học quốc tế của ngành mà tôi quan tâm.

Tôi nghĩ ngay đến việc phải “giật chuông báo” cho ban biên tập (BBT)
tạp chí biết, bởi bài báo được xuất bản online ngày 19/4 nhưng nó được đưa vào
số xuất bản tháng 8/2011, có thể còn kịp để BBT loại nó ra cho bản in sắp tới.

Tôi gác lại công việc soạn báo cáo dở dang (viết bằng tiếng Pháp), để tập trung
thảo tiếng Anh gửi cho GS. Cossu (ông này vừa thay thế người tiền nhiệm từ đầu
năm 2009). Tinh thần cuả thư gửi không quá dài, đủ ý mình muốn nói và nhất là
phải viết sao cho thật khoa học khách quan, hạn chế tối đa lời lẽ chính trị. Và
sau đó là bức thư như mọi người đã biết. Tuy nhiên vẫn còn thiếu một số ý và
câu từ chưa chuẩn (nhất là việc mình nhầm nghĩa của từ “inhabitable” tiếng Anh
hoàn toàn khác nghĩa tiếng Pháp. Sau do mình có gửi thư đính chính lại dùng
đúng là “non-inhabitable” cho GS. Cossu và tác giả liên hệ).

Với suy nghĩ đây là thư gây sự chú ý cho BBT, việc làm sau đó là phải làm
một bài bình luận theo đúng thông lệ bài báo khoa hoc quốc tế dạng
“Comment/Discussion-Reply” (Bình luận/Thảo thuận – Trả lời) để BBT gửi cho tác
giả đòi trả lời và phải đề nghị 1 hội KH nào đó của VN lên tiếng một cách chính
thống với tư cách là người “bị hại”. GS. Cossu đã phản hồi tích cực
sau hàng loạt email dồn dập của các nhà KH VN.

Các nhà làm chính sách sẽ có câu trả lời hay

Các anh nghĩ sao khi những thông tin về tấm bản đồ sai sự thật thường là do
những nhà khoa học ở nước ngoài phát hiện mà không phải là những cơ quan chuyên
môn hoặc những nhà khoa học trong nước?

TS Bùi Quang Hiển:
Tôi nghĩ nguyên nhân là ở Việt Nam thiếu thông
tin và thiếu phương tiện để làm khoa học. Tôi được biết là nhiều nhà khoa học ở
trong nước phải liên lạc với các đồng nghiệp ở nước ngoài để nhờ họ gửi các bài
báo khoa học để họ nghiên cứu.

TS Trần Ngọc Tiến Dũng:
Thông cảm với các  đồng nghiệp trong nước, tôi
xin phép đề cập một cách vi mô, còn vĩ mô thì báo chí tốn nhiều giấy mực rồi.

– Họ phải mưu sinh, lo toan cơm áo gạo tiền, nhất là thời điểm hiện nay, họ có
thể không có nhiều thời gian dành cho việc tìm kiếm thông tin bài báo khoa học,
so với đồng nghiệp ở nước ngoài.
– Lĩnh vực geosciences – geoenvironment (địa khoa học – địa môi trường) không
có nhiều nhà khoa học ở VN hiện nay theo đuổi. Người ta thường bắt gặp bản đồ
mô tả vi trí địa lý trong các xuất bản khoa học của lĩnh vực này.

– Việt Nam đang ở giai đoạn tiến dần đến chuẩn mực khoa học để tạo ra sản phẩm
nghiên cứu có chất lượng. Thực vậy trong thời gian gần đây khi xét tuyển dự án
KH, ta thường có yêu cầu có bài đăng trên các tạp chí per review hoặc có trong
hệ thống ISI.

Anh nghĩ như thế nào về  vai trò của những nhà khoa học Việt Nam ở
nước ngoài trong những câu chuyện tương tự như thế này? Làm sao để phát huy hơn
nữa vai trò của họ?

TS Trần Ngọc Tiến Dũng:
Các nhà KH Việt  ở nước ngoài nhờ có một số
lợi thế nhất định họ có đóng góp quan trọng những câu chuyện tương tự như thế
này. Họ là cầu nối Việt Nam
và thế giới.

Làm sao để phát huy hơn nữa vai trò của họ? Điều này tôi nghĩ ai cũng có câu
trả lời hay, và đặc biệt là các nhà làm chính sách.

Nhưng theo tôi, một lần nữa quan điểm rất vi mô, các cấp quản lý tạo điều kiện
hết cỡ cho những ai có khả năng và nguyện vọng đi học nước ngoài. Chất xám ngày
nay truyền rất nhanh bằng tốc độ của Internet.  

Tại sao không có Vietnam
Sea?

Các anh bắt đầu quan tâm tới những thông tin về tình hình biển Đông từ khi nào?

TS Bùi Quang Hiển:
Tôi quan tâm đến Biển Đông từ 6 đến 7 năm trở lại đây
thôi, từ khi tôi rời Việt Nam
sang Pháp du học vào năm 2004.

Trước đó tôi có nghe qua về tình hình Biển Đông nhưng không có điều kiện và
thời gian để tìm hiểu rõ. Khi sang tới Pháp tôi có tham gia các hoạt động của
hội sinh viên Việt Nam tại Pháp, rồi tham gia tổ chức các hoạt động khoa học
của Hội cựu sinh viên khối Cầu Đường Pháp (ĐH GTVT) cũng như của cộng đồng
người Việt tại đây nên quen biết biết nhiều trí thức, đặc biệt là các tri thức
trẻ họ rất quan tâm tới Biển Đông.

Nhờ có họ tôi cũng biết được nhiều thông tin nhiều chiều hơn và biết tình hình
hiện tại của Biển Đông. Quan điểm của tôi là muốn giữ được Biển Đông mỗi người
Việt Nam
trước hiết phải hiểu về tình hình Biển Đông.

TS Trần Ngọc Tiến Dũng:
Khoảng năm 1988, nhưng  kể từ khi đi du học lại quan tâm hơn, nhìn bản
đồ Việt Nam,
và thế giới nhiều hơn. Vì khi đi máy bay, được cung cấp nhiều hình ảnh bản đồ
để đối chiếu VN và nước đến.

Sau đó, trong thời gian học, có điều kiện nhìn bản đồ thế giới, trao đổi với
bạn bè và đặt câu hỏi tại sao VN nằm dọc theo biển mà không có tên quốc tế
“Mer du Vietnam = Vietnam Sea” tương tự như “Mer du Japon/Mer de
China méridionale/Mer des Philippines”. 

Nguồn: TS Trần Ngọc Tiến Dũng và TS Bùi Quang Hiển/Bee.net

*TS Trần Ngọc Tiến Dũng hiện đang tham gia vào dự án chôn giữ CO2
trong tầng ngầm địa chất ở Québec,
Canada.

*TS
Bùi Quang Hiển hiện đang công tác tại Trung tâm nghiên cứu Aluminum, Canada.
Hiện anh đang nghiên cứu chuyên về thiết kế chế tạo các thiết bị giao thông
bằng Nhôm. Mục đích là đưa ra giải pháp kỹ thuật để chế tạo các thiết bị tối ưu
và nhẹ dùng trong ôtô, xe đạp, xe máy, máy bay, tàu đ

 

]]>
Thêm một hội thảo quốc tế về Biển Đông https://biendong.net/2010/11/17/them-mot-hoi-thao-quoc-te-ve-bien-dong/ https://biendong.net/2010/11/17/them-mot-hoi-thao-quoc-te-ve-bien-dong/#comments Wed, 17 Nov 2010 04:18:48 +0000 http://localhost/wp/2010/11/17/them-mot-hoi-thao-quoc-te-ve-bien-dong/ Theo thông tin đăng tải trên trang web chính thức của Chương trình nghiên cứu Biển Đông – Học viện Ngoại giao Việt Nam (www.nghiencuubiendong.vn), Học viện Ngoại giao và Hội Luật gia Việt Nam sẽ đứng ra đồng tổ chức Hội thảo quốc tế lần thứ hai về Biển Đông với chủ đề “Biển Đông: Hợp tác vì An ninh và Phát triển trong khu vực” trong hai ngày 11 và 12 tháng 11 tới tại khách sạn New World, Quận 1 Tp Hồ Chí Minh.

 

Chưa có nhiều thông tin về Hội thảo này nhưng nhìn vào danh sách diễn giả đăng tải trên trang web trên người ta có thể thấy quy mô của sẽ không nhỏ hơn Hội thảo lần thứ nhất được tổ chức vào tháng 11 năm trước tại Hà Nội, sự kiện đã có tới hơn 160 đại biểu Việt Nam và quốc tế tham dự và hơn 100 hãng thông tấn trong và ngoài Việt Nam đưa tin, bình luận.

Trong số các diễn giả sẽ tham luận tại Hội thảo tới đây tiếp tục có sự góp mặt của các chuyên gia hàng đầu thế giới về Châu Á – Thái Bình Dương như Giáo sư Carlyle Thayer (Học viện Quốc phòng Australia), tướng về hưu Daniel Shaeffer (Trung tâm Nghiên cứu Châu Á 21, Pháp), Giáo sư Ian Townsend-Gault (Đại học British Columbia, Canada)…
 

Có 6 chủ đề nhỏ sẽ được các diễn giả, đại biểu thảo luận là Tầm quan trọng của Biển Đông trong môi trường chiến lược đang điều chỉnh; Những diễn biến gần đây ở Biển Đông: hệ lụy đối với an ninh và thịnh vượng ở khu vực; Tranh chấp tại Biển Đông: những vấn đề luật pháp quốc tế; Giải quyết tranh chấp và quản lý xung đột ở Biển Đông: kinh nghiệm và triển vọng; Thúc đẩy các biện pháp xây dựng lòng tin và hợp tác vì an ninh và phát triển ở Biển Đông.

 

Cũng giống như Hội thảo năm trước, Hội thảo năm nay diễn ra ngay sau thời điểm được cho là dấu mốc quan trong đối với an ninh trên Biển Đông. Nếu như những sự kiện thể hiện mạnh mẽ tham vọng trên biển của Trung Quốc như lần đầu tiên công bố chính thức yêu sách “đường chữ U chín đoạn” (“đường lưỡi bò”) trong một công hàm gửi Tổng thư ký Liên Hợp Quốc vào tháng 5/2009, vụ va chạm với tàu thăm dò Impeccable của Mỹ tháng 3/2009, lệnh cấm đánh bắt cá dài ngày tại các ngư trường truyền thống đối với ngư dân các nước ASEAN… đã truyền sức nóng vào Hội thảo 2009 thì Hội thảo 2010 dường như sẽ tập trung bình luận, lý giải về sự can dự mạnh mẽ của Mỹ tại Biển Đông và xu hướng quốc tế hóa, đa phương hóa trong giải quyết tranh chấp trên Biển Đông đang ngày càng rõ nét sau những sự kiện như Diễn đàn ARF tháng 7/2010, hội nghị thượng đỉnh ASEAN – Mỹ tháng 9/2010 tại New York, thượng đỉnh ASEAN và các đối tác, hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng ADMM+ lần thứ nhất tháng 10/2010 tại Hà Nội…

Các nhà quan sát nhận định Biển Đông là một trong những khu vực có sự cọ xát mạnh mẽ về lợi ích chiến lược giữa Trung Quốc và Mỹ, trở thành tâm điểm chú ý của dư luận thế giới thời gian qua. Ngoài các Hội thảo tại Việt Nam – một trong những nước khẳng định chủ quyền trên Biển Đông, trong thời gian chưa đầy một năm từ tháng 11/2009 đến nay, một loạt các hội thảo có chủ đề về Biển Đông cũng đã diễn ra tại các nước không liên quan trực tiếp tới tranh chấp như các hội thảo tại Đại học Yale và Đại học Temple, Mỹ.

Xem thêm tin tức về các hội thảo trước tại đây:
1.    Hội thảo quốc tế về Biển Đông : Tranh chấp có thể giải quyết bằng luật pháp quốc tế.
2.    Biển Đông: Từ Yale đến Temple

  

]]>
https://biendong.net/2010/11/17/them-mot-hoi-thao-quoc-te-ve-bien-dong/feed/ 1
Tấm bản đồ bất chính https://biendong.net/2010/11/16/tam-ban-do-bat-chinh/ Tue, 16 Nov 2010 02:11:39 +0000 http://localhost/wp/2010/11/16/tam-ban-do-bat-chinh/
Bản đồ do Trung Quốc tự vẽ và trưng ra như vậy không có giá trị pháp lý
và đã vấp phải sự phản đối của nhiều quốc gia, nhất là những quốc gia có các
vùng biển, đảo bị cái "lưỡi bò" tham lam này "liếm" mất.

Việc Trung
Quốc chính thức đưa lên bản đồ trực tuyến đường yêu sách 9 đoạn đã bộc lộ dã
tâm và tiếp tục ngang nhiên công khai hóa tham vọng bành trướng của Trung Quốc
muốn thâu tóm quyền kiểm soát đối với phần lớn Biển Đông, bất chấp sự phản đối
của Việt Nam và nhiều nước khác, kể cả những nước từng bày tỏ lợi ích quốc gia
trong việc bảo đảm tự do hàng hải ở đây.

Cục Đo đạc
bản đồ quốc gia Trung Quốc mới đây đã khai trương dịch vụ bản đồ trực tuyến
mang tên Map World tại địa chỉ http://www.tianditu.cn/ và
http://www.chinaonmap.cn/ , mà trên đó họ thể hiện đường yêu sách 9 đoạn bao
trùm lên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các vùng biển của Việt Nam.

Việc làm
ngang ngược này của Trung Quốc tất nhiên đã bị Việt Nam phản đối.

Ngày
5/11/2010, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao nước ta nêu rõ rằng việc làm này
"đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam đối với
thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, vi phạm Công ước của Liên hiệp
quốc về Luật Biển 1982, trái với tinh thần Tuyên bố về cách ứng xử của các bên
ở Biển Đông (DOC) ký giữa ASEAN và Trung Quốc", đồng thời nhấn mạnh rằng
"Việt Nam phản đối việc làm này của phía Trung Quốc và yêu cầu phía Trung
Quốc nhanh chóng gỡ bỏ các dữ liệu tại bản đồ nêu trên có nội dung vi phạm chủ
quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam đối với hai quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa và các vùng biển của Việt Nam, tuân thủ nhận thức
chung của lãnh đạo cấp cao hai nước về việc duy trì hòa bình, ổn định, không
làm phức tạp hoặc mở rộng tranh chấp ở Biển Đông".

Đây không
phải là lần đầu tiên Trung Quốc đưa ra đường yêu sách 9 đoạn, thể hiện tham
vọng bành trướng của họ trên Biển Đông.

Ngày 7/5/2009, Trung Quốc cũng đã trưng ra một bản đồ với 9 đường
kẻ ngắt quãng (đường gián đoạn), thể hiện đòi hỏi chủ quyền của họ trên Biển
Đông kèm theo lời phản đối của họ đối với các hồ sơ đăng ký riêng của Việt Nam
và chung của Việt Nam và Malaysia  về ranh giới thềm lục địa vượt quá 200
hải lý được trình lên Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên hiệp quốc (UNCLCS)
một ngày trước đó.

9 đường kẻ
ngắt quãng trên bản đồ do Trung Quốc đưa ra tạo thành một vùng có hình chữ U,
còn gọi là đường lưỡi bò, bao phủ tới 80% diện tích Biển Đông.

Tất nhiên,
cái bản đồ do Trung Quốc tự vẽ và trưng ra như vậy không có giá trị pháp lý và
đã vấp phải sự phản đối của  nhiều quốc gia, nhất là những quốc gia có các
vùng biển, đảo bị cái "lưỡi bò" tham lam này "liếm" mất,
trong đó có những vùng biển cùng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ
quyền của Việt Nam.

Nay Trung
Quốc lại chính thức đưa lên bản đồ trực tuyến của Cục Đo đạc bản đồ quốc gia
nước họ đường yêu sách 9 đoạn này, với các địa chỉ truy cập rất rõ ràng.

Việc làm này
không chỉ "vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam
đối với thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý, vi phạm Công ước của
Liên Hiệp Quốc  về Luật Biển 1982, trái với tinh thần Tuyên bố về cách ứng
xử của các bên ở Biển Đông (DOC) ký giữa ASEAN và Trung Quốc", như tuyên
bố của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao nước ta, mà còn bộc lộ dã tâm và tiếp tục
ngang nhiên công khai hóa tham vọng bành trướng của Trung Quốc muốn thâu tóm
quyền kiểm soát đối với phần lớn Biển Đông, bất chấp sự phản đối của Việt Nam
và nhiều nước khác, kể cả những nước từng bày tỏ lợi ích quốc gia trong việc
bảo đảm tự do hàng hải ở đây.

Với lắm mưu,
nhiều kế, Trung Quốc đã tìm mọi cách và đã làm nhiều việc để thực hiện tham
vọng bành trướng lãnh thổ của họ trên Biển Đông. Chỉ riêng đối với Việt Nam,
đã có thể thống kê hàng loạt hành động ngang ngược của họ. Họ đã chiếm quần đảo
Hoàng Sa và một số đảo của quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Hàng năm họ
ban hành lệnh cấm đánh bắt cá trong một thời gian dài trên Biển Đông mà
"vùng cấm" bao gồm cả những vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam,
rồi bắt giữ tàu cá và ngư dân Việt Nam hành nghề trên các vùng biển thuộc chủ
quyền của Việt Nam, gây khó khăn, trở ngại cho hoạt động mưu sinh của ngư dân
Việt Nam.

Họ cũng đã
quyết định thành lập cái gọi là ủy ban thôn trên hai đảo Vĩnh Hưng và Triệu
Thuật, tức đảo Phú Lâm và Đảo Cây, thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam 
mà họ đang chiếm giữ trái phép.

Họ còn thông
qua cái gọi là "Luật bảo vệ hải đảo" liên quan đến hai quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa cũng như vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam ở
Biển Đông; thông qua "Cương yếu quy hoạch xây dựng và phát triển đảo du
lịch quốc tế Hải Nam 2010-2020", trong đó xác định khu tổ hợp chức năng
biển do tỉnh Hải Nam (Trung Quốc) quản lý bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa của Việt Nam, đồng thời vạch ra kế hoạch tăng cường mở tuyến du lịch
đường không và đường biển tới quần đảo Hoàng Sa, khuyến khích việc đăng ký
quyền sử dụng đối với các đảo không người ở trên Biển Đông; và thiết lập mạng
điện thoại di động ở Đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam mà họ
chiếm giữ trái phép.

Ngoài ra, họ
thường xuyên cử các tàu ngư chính đến các vùng mà họ gọi là "Tây Sa"
và "Nam Sa" (tức Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam), rồi gia tăng
sức mạnh quân sự trên biển v.v. . Trong khi đó, trên mặt trận dư luận, các
trang mạng mà Bắc Kinh khoác cho cái áo "không chính thức" cũng tung
ra nhiều loại thông tin, kể cả những thông tin không có lợi cho quan hệ hữu
nghị Việt – Trung, thậm chí là thông tin hù dọa, phục vụ cho mưu đồ bành trướng
trên biển của họ…

Như vậy,
việc Cục Đo đạc bản đồ quốc gia Trung Quốc khai trương dịch vụ bản đồ trực
tuyến thể hiện đường yêu sách 9 đoạn bao trùm lên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường
Sa và các vùng biển của Việt Nam, cũng giống như các hành động được liệt kê
trên đây của họ, tiếp tục làm phức tạp thêm tình hình vốn đã rất phức tạp trên
Biển Đông, hoàn toàn  bất lợi đối với tiến trình đàm phán tìm kiếm biện
pháp cơ bản, lâu dài cho vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc và càng
không có lợi cho mối quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai nước.

Tìm mọi mánh
khóe, công khai hoặc ngấm ngầm, để vơ lấy những gì không phải là của mình, nói
theo kiểu dân dã, là nhận vơ, là ăn gian.

Vì tham nên mới gian.

]]>
Biển Đông: Hết mưa trời lại nắng… https://biendong.net/2010/11/16/bien-dong-het-mua-troi-lai-nang/ Tue, 16 Nov 2010 02:05:32 +0000 http://localhost/wp/2010/11/16/bien-dong-het-mua-troi-lai-nang/
Trung Quốc chưa bao giờ làm rõ Trung Quốc muốn hợp tác cùng phát triển ở
vùng biển nào, hợp tác cái gì, muốn hợp tác cùng ai, hợp tác theo cơ chế
nào", nguyên đại sứ Hjala từ Indonesia than thở.

Vào thời điểm các đại biểu tham dự Hội thảo Quốc tế Biển
Đông lần thứ hai làm thủ tục đăng ký đại biểu từ 5 giờ chiều ngày 10.11.2010,
qua lớp tường kính ở sảnh ra vào của khách sạn New World, họ nhìn thấy một bầu
trời đầy u ám. Sài Gòn đang ở trong những ngày cuối mùa mưa.

Khi được phóng viên Tuần Việt Nam hỏi vui rằng "liệu
đây có là điềm báo gì cho không khí buổi khai mạc hội thảo sáng hôm sau
không", Nazery Khalid, một học giả từ Trung tâm Kinh tế và Công nghiệp
Biển của Malaysia – người đã tham dự cuộc hội thảo về khai thác chung các nguồn
năng lượng biển châu Á cũng tại thành phố Hồ Chí Minh cách đây ba tháng, điềm
nhiên trả lời: "Cứ yên tâm, ngày mai trời lại nắng!"

Cộng hưởng giữa hội thảo Biển Đông và ASEAN 2010

Quả vậy, đại sảnh của Khách sạn New
World sáng 11.11 lại tràn ngập ánh mặt trời. Sau phiên khai mạc
của hội thảo với tên gọi "Biển Đông: Hợp tác vì an ninh và phát triển
trong khu vực
", Giáo sư Thayer, từ Học viện Quốc phòng Úc, đã chủ trì
phiên thảo luận đầu tiên với chủ đề "Tầm quan trọng của Biển Đông trong
một môi trường chiến lược đang thay đổi
".

Hamzah B.A, vị học giả cao niên đã nghiên cứu về Đông Nam Á
và Biển Đông từ những năm ’70 của thế kỷ trước, tỏ ra rất ấn tượng với bài tham
luận của hai học giả từ Trung Quốc là Giáo sư Tô Hạo và Tiến sĩ Nhậm Nguyên
Chiết, và coi đó là hướng đi tích cực để giải quyết tranh chấp trên Biển Đông.

Giáo sư Tô
Hạo, người trình bày, đã cho rằng Trung Quốc luôn hành xử có trách nhiệm ở Biển
Đông do Trung Quốc cần môi trường hòa bình với các nước xung quanh để phát
triển. Theo ông, nếu Trung Quốc không hòa bình thì không thể có không khí hợp
tác trong khu vực như hiện nay.

"Rõ ràng Trung Quốc đã nỗ lực rất nhiều trong một
thập kỷ kỷ rưỡi qua, từ tham gia đàm phán về ứng xử trên Biển Đông với ASEAN,
phân định biên giới trên bộ và tại Vịnh Bắc Bộ với Việt Nam, đến thúc đẩy khu
vực thương mại tự do Trung Quốc ASEAN – khu vực thương mại tự do lớn nhất hành
tinh với dân số gần hai tỷ người
", vị học giả từ Đại học Quốc gia
Malay nhận xét.

Cũng chia sẻ với vị học giả người Malaysia, nhưng Tiến sĩ
Trần Công Trục lại nhìn nhận sự nỗ lực của Trung Quốc dưới một góc độ khác
 – những tiến bộ đạt được trong quan hệ giữa ASEAN và Trung Quốc trong năm
2010.

"Với những diễn đàn mà Việt Nam chủ trì thành công,
như ARF, ADMM+8, ASEAN – Trung Quốc, hay EAS, khi vấn đề tranh chấp Biển Đông
được nêu ra, dù có hay không trong nghị trình, những thoả thuận hợp tác đạt
được trong lĩnh vực quốc phòng, hay thúc đẩy DOC, đã đóng góp vào việc duy trì
ổn định trên Biển Đông
", Tiến sĩ Trục nói.

Tiến sĩ Trục cũng cho rằng cũng có sự cộng hưởng của các sự
kiện ASEAN 2010 với hai hội thảo quốc tế về Biển Đông – được coi sự mở đầu và
khoá đuôi, nếu lấy năm Việt Nam làm chủ tịch ASEAN làm điểm nhấn.

"Hội thảo đầu tiên rõ ràng đã thu hút được sự chú ý
của bên ngoài đối với vấn đề tranh chấp Biển Đông – một nội dung quan trọng mà
Việt Nam
muốn đưa vào nghị trình. Còn kết quả đáng khích lệ của cấp cao ASEAN và các cấp
cao liên quan cũng khiến các học giả thêm hào hứng."

"Bởi những phân tích khách quan của họ có những ý
nghĩa nhất định đối với quá trình hoạch định chính sách đối ngoại của từng quốc
gia có liên quan
",
nguyên trưởng ban biên giới chính phủ Việt Nam nhận định.

Một số học giả trong và ngoài khu vực Biển Đông lại có cái
nhìn thận trọng hơn. Mặc dù, họ cũng công nhận rằng những kết quả đạt được
trong năm qua ở Hà Nội thực sự đã tiếp thêm sinh lực cho xu hướng đối thoại
trong khu vực.

Nguyên đại sứ Hjala từ Indonesia, từ kinh nghiệm của nước
ông, đã chỉ ra rằng trong suốt hai thập kỷ qua, Indonesia đã nỗ lực thúc đẩy
hợp tác cùng phát triển ở Biển Đông theo tinh thần mà Trung Quốc kêu gọi, thông
qua hàng loạt hội thảo về kiểm soát xung đột ở Biển Đông hàng năm, hay lập các
Nhóm công tác về Hợp tác cùng phát triển…

"Tuy nhiên Trung Quốc chưa bao giờ làm rõ Trung
Quốc muốn hợp tác cùng phát triển ở vùng biển nào, hợp tác cái gì, muốn hợp tác
cùng ai, hợp tác theo cơ chế nào
", ông than thở.

Còn Giáo sư Thayer nói rằng, khi ông đọc những thoả thuận
giữa ASEAN và Trung Quốc về DOC và COC, cảm giác của ông là sự pha trộn giữa
lạc quan và thận trọng. Lạc quan về DOC, và thận trọng về COC.

Giáo sư Thayer giải thích rằng ông có những lý do xác đáng
để có cái nhìn thận trọng. Nếu không nói là mang chút bi quan.

"Mất những 8 năm, DOC mới khởi động được. Huống hồ
là với COC, một cam kết mang tính ràng buộc về pháp lý, hoàn toàn khác với DOC
chỉ là một cam kết mang tính chính trị
", Giáo sư Thayer nói.

Theo ông, việc Mỹ can dự trở lại Đông Nam Á là nguyên nhân
chính khiến Trung Quốc nối lại đàm phán về việc triển khai DOC. "Họ e
ngại rằng việc lần lữa thực hiện DOC sẽ khiến cho nhiều nước ASEAN xích gần lại
với Mỹ
", Giáo sư Thayer nói.

"Hơn nữa, COC bao gồm cả Hoàng Sa – quần đảo mà
Trung Quốc đã chiếm giữ hoàn toàn, và Việt Nam có yêu sách chủ quyền.
 Đời nào họ chịu nhả", Giáo
sư Thayer quả quyết.

Giáo sư Ramses Amer, từ Trung tâm Nghiên cứu (phần) Thái
Bình Dương của châu Á thuộc Đại học Stockholm,
bổ sung thêm rằng DOC chính là sự thoả hiệp khi Việt Nam không đưa được Hoàng Sa vào
thoả thuận về nguyên tắc ứng xử ở Biển Đông giữa ASEAN với Trung Quốc.

"Mọi chuyện phải chờ đến tháng 12 này, xem cuộc họp
đầu tiên về COC có diễn ra như thoả thuận hay không, diễn ra ở đâu, và kết quả
như thế nào
", cả hai vị học giả trên đều nói như vậy.

Việt Nam
tự tin hơn

Với tư cách một nhà đồng tổ chức, Giám đốc Học viện Ngoại
giao Dương Văn Quảng tỏ ra kín đáo hơn.

"Việc các học giả đã tham dự lần đầu lại quay lại
Việt Nam
lần thứ hai chứng tỏ họ thấy chủ đề này đáng quan tâm, và có những ý nghĩa nhất
định về mặt thực tiễn
", ông nói.

Thống kê của
ban tổ chức đã khẳng định điều này. Và không chỉ dừng ở đó. Đã có thêm hơn mười
học giả trong và ngoài khu vực tham gia ở hội thảo lần thứ hai này. Quan trọng
hơn cả 10 nước ASEAN đều có đại diện tham dự.

"Nhưng điều tôi thấy đáng chú ý nhất là ở hội thảo
lần thứ hai này, qua chương trình và các bản tham luận, là các học giả đã tập
trung bàn sâu những cách tiếp cận cụ thể, cũng như những thách thức, đối với an
ninh khu vực, hay phương hướng hợp tác để giải quyết tranh chấp. Tất nhiên,
dưới góc độ học giả
", Giáo sư Quảng nói.

Ông còn nhận xét thêm rằng hội thào đầu tiên chỉ là dịp để
các học giả làm quen với quan điểm và cách tiếp cận của nhau.

Tuy chưa biết các nội dung tham luận, các phóng viên, nhất
là những người đã theo dõi hội thảo lần thứ nhất, có thể mục sở thị được
"sự tập trung", theo lời Giáo sư Quảng, ở một góc nhìn khác. Phòng
hội thảo ở New World nhỏ hơn so với phòng hội thảo ở Daewoo (Hà Nội), trong khi
đó số đại biểu tham dự đông hơn, kể cả khách mời lẫn chủ nhà, khiến cho số chủ
đề thảo luận tuy khá nhiều, nhưng không tạo cảm giác bị loãng.

Nhưng một người quen của Giáo sư Quảng, Giáo sư Ramses Amer
từ Thụy Điển, lại đánh giá rất cao cuộc hội thảo đầu tiên. Theo lời ông nói,
cái "vạn sự khởi đầu nan" đó đã tạo ra sự mạnh dạn, tự tin hơn đối
với chủ nhà cho những hội thảo tiếp theo.

"Với việc thành công trong việc tổ chức hội thảo
đầu tiên, Việt Nam đã "thắng" Trung Quốc trong việc thu hút sự chú ý
của giới nghiên cứu quốc tế
", Giáo sư Amer nhận xét.

Ông cũng khẳng định rằng việc giới truyền thông, nhất là
của Trung Quốc, nói rằng Việt Nam muốn "quốc tế hoá tranh chấp Biển
Đông" là không có cơ sở. "Quốc tế hoá tranh chấp tức là lôi nhau
ra toà án công lý quốc tế, hay sử dụng một bên thứ ba làm trung gian hoà giải
",
Giáo sư Amer giải thích.

Báo giới có thể là những người cảm thấy rõ ràng nhất
"sự tự tin" của ban tổ chức. Ngay từ đầu giờ sáng, bản tóm tắt các
tham luận dưới dạng "hard copy" bằng tiếng Anh đã được cung cấp cho
báo chí. Còn đến cuối giờ chiều, các phóng viên chủ nhà nhận được bản tiếng
Việt của những ý kiến chính của các học giả về những chủ đề nổi cộm.

Các phóng viên, khi chuông reo báo hết giờ giải lao, vẫn có
thể nấn ná lâu hơn trong phòng hội thảo để tranh thủ kiếm thêm vài
"pô" ưng ý, hay vài lời bình luận từ các học giả. Và ban tổ chức hoàn
toàn không phải nhờ đến cảnh vệ để đảm bảo an ninh cho các học giả, trước sự
đeo bám của các phóng viên.

Giáo sư Thayer cho rằng, với tất cả những gì đạt được trong
vòng một năm qua, kể từ hội thảo đầu tiên, Việt Nam thực sự đã "vào
số", và nên tiếp tục "phóng" lên phía trước, theo con đường mà ở
đó đã có sự hiện diện của Mỹ, ít nhất là thông qua các động thái ngoại giao,
hoặc những tuyên bố công khai.

Tranh cãi về vai trò của Trung Quốc và Mỹ

Nhưng điều mà Giáo sư Thayer nhấn mạnh ở trên về Mỹ và
Trung Quốc lại chính là chủ đề chính cho những cuộc tranh luận, cho dù là trực
tiếp hay gián tiếp, giữa các học giả trong ngày đầu tiên, trong đó có chính
phiên do ông chủ trì.

Giáo sư Tô Hạo giải thích rằng, về "lợi ích cốt
lõi" ở Biển Đông, chưa bao giờ Trung Quốc sử dụng thuật ngữ đó trong các
tài liệu chính thức. Và, theo quan điểm của ông, thời gian vừa qua Trung Quốc
chỉ phản ứng trước những tiến triển của tình hình khu vực, chứ không đe doạ ai.

Trong khi đó, Giáo sư Thayer chỉ ra rằng cho biết Quân đội
nhân dân Trung Quốc (PLA) là nhân tố thúc đẩy Trung Quốc coi Biển đông là lợi
ích cốt lõi. "PLA đang tăng cường năng lực hải quân để khẳng định chủ
quyền ở Biển Đông, hạn chế Mỹ tiếp cận vùng biển này
", ông nói.

Ông cho biết, theo quan sát riêng của mình, rằng Mỹ sẵn
sàng tạo điều kiện để các bên đàm phán thực hiện DOC, nhưng Mỹ sẽ không can dự
trực tiếp.

Giáo sư Leszek Buszynski, người đồng hương của Giáo sư
Thayer, cũng đồng ý với điều này. Nhưng ông lý giải rằng do Trung Quốc có nhiều
trường phái với quan niệm và lợi ích khác nhau, không đồng nhất trong quan niệm
về lợi ích cốt lõi, lợi ích chiến lược, lợi ích quốc gia.

"Vì vậy Trung Quốc sử dụng các thuật ngữ này một
cách lỏng lẻo, chứ không có định nghĩa chính thức, rõ ràng
", ông nói.

Chuyên gia về biển của Mỹ Mark Valencia lại tỏ ý nghi ngờ
sự nhất quán trong quan điểm can dự hoà bình của Mỹ. Ông dẫn ra ví dụ Mỹ phản
đối các bên đe doạ sử dụng vũ lực ở Biển Đông, nhưng lại tập trận hàm ý đe doạ
dùng vũ lực ở Hoàng Hải.

Học giả Geoffrey Till từ Anh lại nhìn nhận những phản ứng
mạnh mẽ của Mỹ đối với Trung Quốc từ khía cạnh khác. Cũng giống như Anh trước
đây, Mỹ là một cường quốc toàn cầu, trong đó lợi ích cơ bản là tự do hàng hải,
gắn liền với vị thế của nước Mỹ và giá trị của nước Mỹ.

Theo ông, từ quan niệm đó, Mỹ cho rằng mình có quyền làm
chủ biển cả và có quyền dùng vũ lực bảo đảm quyền đó. Vừa qua, Mỹ có cảm thấy
rằng Trung Quốc muốn thách thức quyền đó của Mỹ, và đã phản ứng.

Câu chuyện về đường lưỡi bò của Trung Quốc cũng là một chủ
đề nóng khác, khi Giáo sư Tô Hạo nêu quan niệm của Trung Quốc rằng vùng nước
bên trong đường lưỡi bò là vùng nước lịch sử. Vị học giả này thậm chí còn dẫn
rằng Công ước luật biển quốc tế cũng thừa nhận về các vùng biển lịch sử, như
trường hợp vùng biển giữa Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ.

Tuy nhiên, giải thích này không thuyết phục được các học
giả khác.

Giáo sư Robert Beckman từ Trung tâm Luật Quốc tế, Đại học
Quốc gia Singapore, nhận xét với phóng viên Tuần Việt Nam rằng nói quan niệm
"vùng nước lịch sử" là hoang đường thì hơi quá, nhưng, thực sự, qua
nghiên cứu của ông, nó chẳng có cơ sở gì cả.

"Việc năm ngoái Trung Quốc đưa tấm bản đồ này ra Uỷ
ban về ranh giới ngoài thềm lục địa của Liên Hợp Quốc, chẳng qua là động thái
phản đối lại bản đăng ký thềm lục địa mở rộng của các nước có liên quan đến
tranh chấp Biển Đông, nhất là Việt Nam và Malaysia mà thôi
", vị chuyên
gia về luật quốc tế nhận xét.

Còn nhà ngoại giao kỳ cựu Hjala nêu thẳng trong tham luận
của mình rằng Trung Quốc cần phải làm rõ yêu sách của mình ở Biển Đông, nhất là
đường lưỡi bò. Trong khi đó, người đồng hương của cựu Đại sứ Hjala, học giả
Djalal thì nhìn nhận câu chuyện này đơn giản hơn nhiều.

"Thảo nào Trung Quốc chưa sẵn sàng
tổ chức một cuộc hội thảo quốc tế về Biển Đông, mặc dù họ không muốn thấy Việt Nam làm việc này
", học giả Djalal nhận
định với phóng viên Tuần Việt Nam.

]]>
‘Đường lưỡi bò’ làm nóng hội thảo Biển Đông https://biendong.net/2010/11/16/duong-luoi-bo-lam-nong-hoi-thao-bien-dong/ Tue, 16 Nov 2010 01:51:45 +0000 http://localhost/wp/2010/11/16/duong-luoi-bo-lam-nong-hoi-thao-bien-dong/ my bac yeu sach duong chin khuc 2

“Đòi hỏi đưa Biển Đông vào lợi ích cốt lõi của Trung quốc đã làm tăng nghi ngại của các nước trong khu vực. Mỹ sẽ không nhượng bộ Trung Quốc”, giáo sư Bronson Percival, cố vấn cao cấp, Trung tâm nghiên cứu chiến lược CNA, Virginia, Mỹ thể hiện quan điểm trong hội thảo Biển Đông.

Tham dự hội thảo Biển Đông lần II đang diễn ra tại TPHCM với chủ đề “Biển Đông: Hợp tác vì an ninh và phát triển trong khu vực”, nhiều đại biểu đều tỏ ra quan tâm đến đường đứt khúc 9 đoạn (còn gọi là đường lưỡi bò).

 

 

Học giả Daniel Schaeffer đến từ Trung tâm nghiên cứu châu Á 21 (Pháp) cho rằng, việc Trung Quốc chính thức đưa ra đường đứt khúc 9 đoạn là một điểm đáng chú ý nhất ở khu vực trong 2 năm qua. Theo ông, Trung Quốc nên công khai và làm rõ ý định của mình, đối thoại với các nước trong khu vực về các khác biệt nảy sinh. Ông Daniel cũng cho rằng, nếu đối thoại giữa các bên để giải quyết xung đột không có tiến triển, cần tính đưa các tranh chấp khu vực ra Tòa án Luật biển hoặc Tòa án Công lý quốc tế.

 

Trong khi đó, Giáo sư Bronson Percival, cố vấn cao cấp, Trung tâm nghiên cứu chiến lược CNA, Virginia, Mỹ, cho biết, đường đứt khúc 9 đoạn và đòi hỏi đưa Biển Đông vào lợi ích cốt lõi của Trung quốc đã làm tăng nghi ngại của các nước trong khu vực. Ông cho rằng Mỹ sẽ không nhượng bộ Trung Quốc do Biển Đông liên quan tới vấn đề có tính nguyên tắc cơ bản là tự do hàng hải, và “Biển Đông sẽ là một vấn đề thường xuyên trong quan hệ Mỹ – Trung”. Tướng Bronson Percival cho hay, lợi ích của Mỹ ở Biển Đông có thể có lúc tăng lên, có lúc giảm đi, nhưng chính sách của Mỹ về Biển Đông chưa bao giờ thay đổi.

 

Giáo sư Leszek Buszynski đến từ Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc phòng, Đại học quốc gia Australia nhận định, Trung Quốc có nhiều trường phái với các quan niệm và lợi ích khác nhau, không đồng nhất trong quan niệm về lợi ích cốt lõi, lợi ích chiến lược, lợi ích quốc gia. Vì vậy, theo ông Leszek Buszynski, Trung Quốc sử dụng các thuật ngữ này một cách lỏng lẻo, chứ không có định nghĩa chính thức, rõ ràng. Ông còn cho rằng biện pháp có thể hướng Trung Quốc vào ứng xử có trách nhiệm hơn là tạo ra một Nhóm hài hòa các nước lớn điều hành các vấn đề của thế giới.

 

Giáo sư Carlyle A. Thayer thuộc Học viện Quốc phòng Australia dự báo, cạnh tranh giữa các nước lớn trong khu vực sẽ gia tăng trong vòng 3-5 năm tới, tuy nhiên cũng có một số dấu hiệu tích cực khi ASEAN và Trung Quốc nhất trí triển khai DOC (Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông) và đàm phán COC (Quy tắc ứng xử Biển Đông).

 

Đến hội thảo về Biển Đông lần II trong một hình ảnh mới, trẻ trung, nói tiếng Anh lưu loát, diễn giả, học giả Trung Quốc cũng chia sẻ thẳng thắn về vấn đề Biển Đông.

 

Điển hình là phát biểu của Giáo sư Su Hao đến từ Đại học Ngoại giao Bắc Kinh. Ông Su Hao nhấn mạnh, Trung quốc luôn hành xử có trách nhiệm ở Biển Đông vì cần môi trường hòa bình với các nước xung quanh để phát triển. Nếu Trung quốc không hòa bình thì không thể có không khí hợp tác trong khu vực như hiện nay. Về “lợi ích cốt lõi” ở Biển Đông, giáo sư Su Hao cho rằng chưa bao giờ Trung Quốc sử dụng thuật ngữ đó trong các tài liệu chính thức. Về đường đứt khúc 9 đoạn, ông Su Hao cho rằng Trung Quốc quan niệm vùng nước bên trong đường đứt khúc là vùng nước lịch sử, trong công ước luật biển quốc tế cũng thừa nhận về các vùng biển lịch sử, như trường hợp vùng biển giữa Hy Lạp và Thổ nhĩ kỳ.

 

Giám đốc Học viện Ngoại giao Việt Nam, Dương Văn Quảng cho biết, cần nhìn Biển Đông dưới 3 góc độ. Thứ nhất, tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền cần được giải quyết thông qua đối thoại, đàm phán trực tiếp giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ có liên quan, không dùng vũ lực trong bất cứ hoàn cảnh nào. Một trong những cơ sở quan trọng nhất để giải quyết các tranh chấp này là Công ước về Luật Biển của Liên Hiệp quốc năm 1982.

 

Thứ hai, Biển Đông là một trong những vùng biển trọng yếu, có vị trí chiến lược và nhộn nhịp nhất thế giới, vì vậy, cần đảm bảo, duy trì tự do đi lại, an toàn trên vùng biển này.

 

Thứ ba, Biển Đông cung cấp sinh kế cho các cộng đồng dân cư ven bờ và đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển kinh tế của các nước ASEAN và Trung Quốc. Do vậy, hòa bình, ổn định, phát triển bền vững và an ninh con người, trong đó có cả cứu hộ, cứu nạn ở Biển Đông đã trở thành trọng tâm trong chương trình nghị sự của các cuộc gặp chính thức giữa ASEAN và Trung Quốc. Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) được ký kết năm 2002 trên tinh thần đó. Nhưng DOC chưa đủ, các nước kỳ vọng một bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) có tính ràng buộc hơn, chặt chẽ hơn và toàn diện hơn sẽ được đàm phán và ký kết trong tương lai.

 

Ông Quảng phân tích thêm, hội thảo quốc tế về Biển Đông có thể tạm gọi là kênh phụ hỗ trợ cho các nhà hoạch định chính sách có nhiều tham khảo để nghiên cứu những giải pháp phù hợp với lợi ích mỗi bên và được các bên chấp nhận.

 

Ngày mai, Hội thảo tiếp tục thảo luận về kinh nghiệm và bài học từ các hoạt động hợp tác ở Biển Đông, và các biện pháp thúc đẩy hợp tác nhằm củng cố hòa bình, ổn định ở Biển Đông.

]]>
Thượng đỉnh Mỹ -ASEAN nhấn mạnh trọng tâm An ninh, Kinh tế https://biendong.net/2010/09/30/thuong-dinh-my-asean-nhan-manh-trong-tam-an-ninh-kinh-te/ https://biendong.net/2010/09/30/thuong-dinh-my-asean-nhan-manh-trong-tam-an-ninh-kinh-te/#comments Thu, 30 Sep 2010 03:02:54 +0000 http://localhost/wp/2010/09/30/thuong-dinh-my-asean-nhan-manh-trong-tam-an-ninh-kinh-te/  Các nhà lãnh đạo Mỹ và khối ASEAN đã tìm kiếm các biện
pháp thắt chặt mối quan hệ kinh tế, chính trị và an ninh ngày càng thiết thân
giữa hai bên tại cuộc họp thượng đỉnh Mỹ-ASEAN lần hai, lần đầu tiên được tổ
chức tại Mỹ.

Hội nghị bắt đầu tại
New York vào chiều 24/9 (giờ Mỹ) với tuyên bố khai mạc của Tổng thống Mỹ Barack
Obama. Đồng chủ trì cuộc gặp này với Tổng thống Mỹ là Chủ tịch nước Việt Nam
Nguyễn Minh Triết, với cương vị là Chủ tịch ASEAN.

Nhà lãnh đạo Mỹ tuyên bố ông coi châu
Á là hòn đá tảng trong chính sách đối ngoại của Mỹ. “Vì vậy, chúng tôi muốn
tăng cường quan hệ với các đồng minh cũ, thắt chặt thêm quan hệ với các đối tác
mới, như chúng tôi đang làm với Trung Quốc, và tái cam kết hợp tác với các tổ
chức khu vực, trong đó có ASEAN”, ông nói.

Tổng thống Obama cho biết ông muốn
thảo luận với ASEAN về vấn đề thực hiện tăng trưởng kinh tế theo đường lối bền
vững; bày tỏ hy vọng hội nghị thưởng đỉnh kỳ này sẽ đưa đến những hợp tác chính
trị và an ninh sâu rộng hơn giữa các nước.

Tổng thống Mỹ nhấn mạnh ASEAN có tiềm
năng trở thành khối dẫn dắt thế giới thực sự, khẳng định chiến lược của ông tái
thiết ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực năng động này. Ông cũng xác nhận sẽ tham dự Hội
nghị thượng đỉnh Đông Á vào năm tới tại Jakarta (Indonesia).

Về phần mình, Chủ tịch Việt Nam
Nguyễn Minh Triết nêu rõ ASEAN mong muốn đưa quan hệ của khối này với
Washington lên một tầng nấc mới để duy trì hòa bình, ổn định và phát triển
trong khu vực.

Tại hội nghị, hai bên đã thống nhất
về tầm quan trọng của “giải quyết các bất đồng bằng phương pháp hòa bình” và
“tự do lưu thông hàng hải”, kể cả ở vùng Biển Đông.

Về lĩnh vực kinh tế, hai bên đã đồng
ý cùng hợp tác để mở rộng quan hệ thương mại vốn cũng đang phát triển mạnh. Kim
ngạch thương mại trong trao đổi hàng hóa hai chiều ASEAN-Mỹ đã đạt 84 tỷ USD
trong 6 tháng đầu năm nay, tăng 28% so với cùng kỳ năm ngoái.

Các nhà lãnh đạo cũng thảo luận vấn
đề chống khủng bố, các nỗ lực ngăn chặn nạn buôn lậu ma túy, cam kết chống phổ
biến hạt nhân và khẳng định sự cần thiết phải có các giải pháp hòa bình cho vấn
đề hạt nhân ở Iran và Triều Tiên.

Trong tuyên bố chung, các nhà lãnh
đạo ASEAN còn đặc biệt hoan nghênh sự ủng hộ của Mỹ đối với Cộng đồng và Kết nối
ASEAN, cam kết hợp tác với Mỹ trong các vấn đề liên quan đến năng lượng, đầu
tư, giáo dục, nông nghiệp, văn hóa…; nhấn mạnh tầm quan trọng của duy trì đối
thoại ở mức cao nhất giữa hai bên và cam kết tổ chức cuộc họp thượng đỉnh
ASEAN-Mỹ lần ba vào năm tới, cùng dịp diễn ra Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á 2011.

“Mỹ đang đi đúng hướng”

Cuộc họp thượng đỉnh
lần này diễn ra bên lề cuộc họp thường niên của Đại hội đồng LHQ.
Trước đó, ông Obama nhắc lại lời hứa sẽ thăm Indonesia, nước gắn bó
với ông tuổi thiếu thời. Tự nhận là "tổng thống Thái Bình Dương
đầu tiên của nước Mỹ", ông Obama sẽ coi vùng Đông Nam Á là khu vực
sống còn trong chính sách đối ngoại của mình.

Dư luận chung cho rằng nhà lãnh đạo
da màu đầu tiên của Mỹ đang dẫn dắt chiến lược đối ngoại của nước Mỹ với châu Á
đi đúng hướng.

Ngay trước khi cuộc họp diễn ra, ông
Jeff Bader, giám đốc phụ trách châu Á do tổng thống bổ nhiệm trong
Hội đồng An ninh Quốc gia nói: “Kể từ ngày đầu chính quyền Obama
nhậm chức, chúng tôi luôn nỗ lực xây dựng lại quan hệ với ASEAN”.

Ông Jeff Bader cho rằng bên cạnh
chủ đề thương mại và đầu tư, cuộc họp hai giờ giữa ông Obama và các
lãnh đạo ASEAN sẽ nói đến cả an ninh của vùng Đông Á nói chung.

Trong bài viết hôm 24/9, nhà bình
luận chuyên về Mỹ của hãng tin BBC, ông Nick Childs cho rằng có sự
liên hệ chặt chẽ giữa chính sách của Mỹ ở vùng Đông Bắc Á và Đông
Nam Á. Theo ông Nick Childs, “có nhiều lý do đang đẩy các nước ASEAN về gần
phía Mỹ”, trong khi thái độ của Mỹ muốn đảm bảo an ninh, nhất là an
toàn giao thông hàng hải cho vùng biển Đông Nam Á.

Về dư luận trong khu vực, hai ngày
trước khi hội nghị Mỹ-ASEAN diễn ra, tờ China Daily đăng bài viết nói
Trung Quốc luôn hoan nghênh quan hệ ba bên giữa Mỹ, Trung Quốc và ASEAN.

Sau hội nghị lần này tại Mỹ,
chính quyền Obama sẽ tiếp tục thúc đẩy quan hệ với vùng châu Á –
Thái Bình Dương bằng một loạt sự kiện ngoại giao: Dự kiến G20 sẽ
diễn ra tại Hàn Quốc, sau đó là Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình
Dương APEC ở Nhật Bản và hội nghị thượng đỉnh Đông Á ở Việt Nam.

Sang năm, dự kiến ông Obama sẽ
thăm Indonesia, nước làm chủ tịch luân phiên của ASEAN năm 2011.

Nguyễn Viết

Tổng hợp

 

]]>
https://biendong.net/2010/09/30/thuong-dinh-my-asean-nhan-manh-trong-tam-an-ninh-kinh-te/feed/ 1
ĐẠI SỰ KÝ VỀ CHỦ QUYỀN ĐỐI VỚI HAI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA KỲ CUỐI https://biendong.net/2010/06/29/dai-su-ky-ve-chu-quyen-doi-voi-hai-quan-dao-hoang-sa-va-truong-sa-ky-cuoi-sp-12029/ Tue, 29 Jun 2010 07:07:24 +0000 http://localhost/wp/2010/06/29/dai-su-ky-ve-chu-quyen-doi-voi-hai-quan-dao-hoang-sa-va-truong-sa-ky-cuoi-sp-12029/ Kỳ IV.

– Tháng  4-1956 :  Đội  quân  viễn  chinh  Pháp  rút  khỏi Đông  Dương.  Chính  quyền  Nam  Việt  Nam  đưa các  lực lượng  vũ  trang  đến  thay  thế các  đơn  vị  Pháp  ở đảo Hoàng Sa.

Nhưng,  khi  đó  Cộng  hòa nhân  dân  Trung  Hoa cho quân đổ bộ một cách kín đáo, chiếm bộ phận phía Đông của quần đảo Hoàng Sa (cụm An Vĩnh).

Như vậy, từ năm 1956, quần đảo Hoàng Sa đã bị quân đội  của Cộng  hòa nhân  dân  Trung  Hoa chiếm  đóng  ở phía Đông, và quân đội của chính quyền Nam Việt Nam ở phía Tây  là bên  đã cho  xúc  tiến  ở đó  việc  nghiên  cứu thủy văn và cho phép khai thác phốt phát.

Còn  ở Trường  Sa,  ngày  15-3-1956,  Thomas  Cloma, một  công  dân  Philippin  đã đổ  bộ  lên  một  số đảo  của quần  đảo  Trường  Sa.  Với  danh  nghĩa tư  nhân,  cùng  với một  số  bạn,  ông  có  ý  đồ  chiếm  hữu  một  số  hòn  đảo  và đặt tên là “Đất tự do” bằng lập luận  về quyền phát hiện và chiếm cứ. Ngày 15-5, ông ta thông báo cho Bộ trưởng Ngoại giao Philippin.

Ông này, trong một cuộc họp báo ở Manila ngày 19-5, lại dựa vào lập luận kế cận để đưa ra ý kiến về các quyền của Philippin  trên  quần  đảo  Trường  Sa.  Nhưng  khi Thomas  Cloma yêu  cầu  Chính  phủ  Philippin  ban  hành quy chế bảo hộ cho bộ máy quản lý mà ông ta dựng lên, người đại diện của Philippin tuyên bố là trừ bảy hòn đảo với tên gọi quốc tế là Spratleys, thì các thành phần  khác của quần đảo đều là res nullius (đất vô chủ).

Ngày  31-5,  Chính  phủ  Bắc  Kinh  ra một  Thông  cáo tuyên  bố  sẽ  không  dung  thứ  bất  kỳ  một  sự  xâm  phạm nào  đến  các  quyền  của Cộng  hòa Nhân  dân  Trung  Hoa trên quần đảo Trường Sa.

– Ngày 1-6-1956 : Bộ trưởng Bộ Ngoại giao chính quyền Nam  Việt Nam,  Vũ  Văn  Mẫn,  khẳng  định  lại  các  quyền của Việt Nam trên hai quần đảo.

Ngày  hôm  sau,  Pháp  nhắc  lại  với  Chính  phủ Philippin các quyền mà Pháp đã có từ năm 1933.

Ngày 22-8, lực lượng Hải quân Sài Gòn đổ bộ lên đảo chính của quần đảo Trường Sa, dựng một bia và kéo cờ.

Tháng  10 năm  đó,  Hải  quân  Đài  Loan  can  thiệp  tại chỗ, chống lại Thomas Cloma.

– Ngày  22-10-1956 :  Nghị định  (thực  ra là Sắc  lệnh  của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa – ND) của Việt Nam sáp nhập quần đảo Hoàng Sa vào tỉnh Phước Tuy.

– Tháng  2-1958 :  Nhiều  dân  chài  Trung  Quốc  định  đến đóng  trên  phần  phía Tây  quần  đảo  Hoàng  Sa nhưng không thành công.

– Ngày 4-9-1958 : Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa  ra một  bản tuyên  bố xác  định  bề  rộng  của lãnh  hải Trung Quốc là 12 hải lý.

Bản  tuyên  bố  nói  rõ  điều  khoản  này  được  áp  dụng cho các quần đảo.

– Ngày  11-7-1971 :  Tổng thống Philippin  cho biết quân đội  Trung  hoa dân  quốc  đã chiếm  đóng  và củng  cố đảo Ba Bình (quần đảo Trường Sa) nhưng ông lại không bày tỏ  bất  cứ  yêu  sách  nào  của  Philippin  về  quần  đảo  này mặc  dù  quân  lính  Philippin  đã chiếm  đóng  trên  một  số đảo  nhỏ.  Một  thông  cáo  ngày  13-7  cho  thấy  đang  tiếp diễn các cuộc đối thoại giữa Đài Loan và Philippin về vấn đề  quần  đảo  này.  Cũng  trong  ngày  đó,  Bộ trưởng  Bộ Ngoại giao Sài Gòn, Ông Trần Văn Lắm, có mặt ở Manila, nhắc lại yêu sách của Việt Nam và các danh nghĩa làm cơ sở cho yêu sách đó.

– Ngày  16-7-1971 :  Tân  Hoa Xã lên  án  Philippin chiếm  đóng  một  số đảo  của quần  đảo  Trường  Sa  và khẳng  định  các  yêu  sách  của Trung  Quốc  đối  với  quần đảo này.

– Năm 1973 :  Trong khi Hội nghị quốc tế Paris  đang diễn ra  vào tháng 3-1973, Bộ trưởng Bộ Nội vụ của chính quyền Nam Việt Nam, trong ngày 6-9, đã sửa đổi việc sáp nhập hành  chính  Trường  Sa (từ đây  thành  một  bộ  phận  của tỉnh Phước Tuy) (Nghị định  ngày 6-9-1973 sáp nhập các đảo  trên  quần  đảo  Trường  Sa vào  xã Phước  Hải,  quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy – ND).

– Ngày 11-1-1974 : Bắc Kinh tuyên bố đó là một việc lấn  chiếm  lãnh  thổ  Trung  Quốc  và  khẳng  định  lại  các  yêu sách của Trung Quốc về hai quần đảo.

– Ngày 15-1 : Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cho quân đội  đổ  bộ lên  các  đảo  phía  Tây  Hoàng  Sa  cụm  Nguyệt Thiềm  (Crescent)  mà từ trước  vẫn  do  Việt    Nam  chiếm đóng,  và trong  những  ngày  tiếp  theo  họ  hỗ  trợ  hành động trên bằng một cuộc triển khai hải quân mạnh mẽ.

– Ngày  18-1 :  Đại  sứ Đài  Loan  tại  Sài  Gòn  bằng  công hàm  ngoại  giao  đã  khẳng  định  lại  yêu  sách  của Trung Hoa Dân quốc.

– Ngày  19-1 và 20-1-1974 :  Cộng  hòa Nhân  dân  Trung  Hoa bắn phá các đảo và cho quân đổ bộ lên sau các trận đánh ác liệt chống lại lực lượng Việt Nam.

Quan sát viên của Việt Nam bên cạnh Liên hợp quốc yêu cầu Hội đồng Bảo an xem xét vấn đề này.

Chính phủ Cách mạng lâm thời Miền Nam Việt Nam công bố lập trường của mình cho rằng trước sự phức tạp của vấn đề, cần phải xem xét nó trên cơ sở những nguyên tắc bình  đẳng, tôn trọng lẫn  nhau,  hữu  nghị  và quan  hệ láng giềng tốt và giải quyết tranh  chấp bằng con  đường thương lượng.

Lầu Năm Góc, được chính quyền Nam Việt Nam yêu cầu can thiệp, quyết định đứng ngoài cuộc xung đột.

Qua  thông  điệp  ngoại  giao  được  gửi  đến  tất  cả  các nước ký các Hiệp định Paris ngày 2-3-1973, chính quyền  Nam  Việt  Nam  nhắc  lại  sự đảm  bảo  toàn  vẹn  lãnh  thổ của  Việt  Nam  đã  được  công  nhận.  Chính  quyền  Nam Việt  Nam  yêu  cầu  Hội  đồng  Bảo  an  họp  một  phiên  đặc biệt.

Ngày 2-7-1974, đoàn đại biểu của Nam Việt Nam ra tuyên bố  tại  Hội  nghị  của Liên  hợp  quốc  về  Luật  biển  nhằm khẳng  định  lại  chủ  quyền  của Việt  Nam  trên  các  quần đảo.

Chính  quyền  Sài  Gòn  quyết  định  tăng  cường  phòng thủ các  đảo  ở  quần  đảo  Trường  Sa,  điều  đó  đã làm  cho phía Philippin phản đối.

– Ngày  5 đến 6-5-1975 :  Hải  quân  nhân  dân  Việt  Nam giành lại quyền kiểm soát các đảo ở quần đảo Trường Sa từ quân đội Sài Gòn.

–  Ngày  12-5-1977 :  Chính  phủ  Cộng  hòa xã  hội  chủ nghĩa Việt Nam ra tuyên bố về các vấn đề các quyền trên đảo của mình (lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa).

Khoản 5 của Tuyên bố ghi các đảo và quần đảo, là bộ phận  lãnh  thổ  Việt  Nam  và nằm  ngoài  lãnh  hải,  đều  có các vùng biển riêng của chúng.

– Ngày 2-3-1978 : Lực lượng  vũ trang Philippin chiếm  thêm một đảo (đảo Lan Can) ở quần đảo của Trường Sa, ngoài các đảo đã chiếm từ trước.

– Năm 1979 :  Trong  một  sắc  lệnh  vào  tháng  2,  Tổng  thống Philippin coi gần như toàn bộ quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Philippin (ngoại trừ bản thân đảo Trường Sa).

– Năm 1982 : Vào tháng 6, Tân Hoa Xã loan tin thành lập một cảng lớn ở Hoàng Sa.

Ngày 12-11, Cộng  hòa xã hội chủ  nghĩa Việt Nam ra  tuyên  bố  về  đường  cơ  sở dùng  để  tính  chiều  rộng  lãnh hải. Tuyên bố này bao gộp các quyền đảo.

Ngày 9-12, việc phối hợp về mặt hành chính các quần đảo ở Việt Nam có những thay đổi.

– Năm 1983 : Ngày 23-2, Malaysia nêu lên vấn đề chủ quyền của Malaysia đối với ba hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Ngày 25-3, Bộ Ngoại giao Việt Nam phản kháng mọi quyền  của Malaysia đối  với  các  đảo  và đảo  nhỏ  này. Tháng 6 cùng  năm, quân đội Malaysia được gửi tới  đảo Hoa Lau  và tiến  hành  xây  dựng  các  công  trình  quan trọng ở đó. Việt Nam đã phản đối hành động này.

– Năm 1984 :  Ngày  2-6,  Quốc  hội  Trung  Quốc  quyết  định thành lập một khu vực hành chính đặc biệt gồm đảo Hải Nam và hai quần đảo. Chính phủ Việt Nam đã phản đối.

– Năm 1988 :  Vào  tháng  2,  lần  đầu  tiên  Cộng  hòa nhân  dân Trung  Hoa gửi  quân  đội  tới  một  số đảo  của quần  đảo Trường Sa và thể hiện sự có mặt về quân sự ở đó.

Ngày 14-3, một cuộc va chạm hải quân đã xảy ra xung quanh  đảo  Gạc  Ma,  đảo  Cô  Lin  và đảo  Lan  Đao.  Nhiều tàu Việt Nam bị hư hại.

Các  tàu  chiến  Trung  Quốc  đã sử  dụng  pháo  hạng nặng, 74 thủy thủ Việt Nam được coi là mất tích. Và các tàu  Trung  Quốc  đã ngăn  cản  các  tàu  cứu  trợ  Việt  Nam mang dấu hiệu chữ thập đỏ khi triển khai các hoạt động cứu nạn.

– Tháng 4-1988 : Chính  phủ Philippin  đã bầu  một  thị trưởng  cho  thị  trấn  được  thiết lập trên các  đảo nhỏ ở quần đảo Trường Sa mà họ kiểm soát (Thủ phủ là Thị Tứ), đặt một cơ sở hành chính có tổ chức hơn cho yêu sách của họ đối với các đảo.

– Ngày  8-7-1992 : Trung  Quốc  chiếm  thêm  một  số đá ngầm tại quần đảo Trường Sa.

– Năm 1995 : Ngày 9-2, Philippin phản kháng việc Cộng hòa nhân  dân  Trung  Hoa chiếm  một  đảo  nhỏ ở  quần  đảo Trường  Sa (đá  Vành  Khăn  Panganaban)  do  Chính  phủ Manila yêu sách, và đã bắt đầu xây dựng chỗ neo trú cho tàu thuyền tại đó.

Hết

 

]]>