Wednesday, October 5, 2022
Trang chủBiển nóngTổng quan chính sách của Mỹ ở Biển Đông (Kỳ 10)

Tổng quan chính sách của Mỹ ở Biển Đông (Kỳ 10)

Trung Quốc ngày càng hung hăng ở Biển Đông. Mục tiêu của Trung Quốc bất di bất dịch đó là phải độc chiếm Biển Đông. Và điều đó đã được thể hiện bằng những chính sách, việc làm, âm mưu mang nặng chủ nghĩa dân tộc Đại Hán, kèm vào đó là cách hành xử bất chấp Luật pháp quốc tế, thậm chí mang tính côn đồ, lưu manh.Trong tình hình này, Mỹ đã có những chính sách như thế nào? Biendong.net xin trích đăng bản nghiên cứu về chính sách của Mỹ ở Biển Đông của Michael McDevit.

Các lựa chọn ngoại giao bổ sung:

  • Khai thác chung các nguồn tài nguyên, bắt đầu là cá. Do những tranh chấp về ranh giới của các vùng EEZ có khả năng tồn tại trong tương lai không xác định, Hoa Kỳ nên khuyến khích các quốc gia đồi chủ quyền đạt được thỏa thuận về vùng đánh bắt cho phép ngư dân của tất cả các bên tranh chấp đánh bắt ở vùng biển truyền thống của họ mà không cần sự can thiệp – nhưng bị giới hạn tổng thể để ngăn chặn đánh bắt quá mức hoặc các mối nguy hại đối với các loài bị đe dọa. do không có chủ quyền được công nhận đối với các địa vật đất và vùng biển liên quan nên có những sai sót lớn về khả năng của các cơ quan quản lý biển ở tất cả các quốc gia ven biển trong việc ra vào khu vực này, tiến hành khảo sát ngư nghiệp và chủ động quản lý việc đánh bắt những loài được phép khai thác. Ví dụ, từ khi Trung Quốc ban hành lệnh cấm đánh cá vào tháng 1/2014, hầu như tất cả các nước trong khu vực cho biết, họ cho rằng lệnh cấm là bất hợp pháp và họ sẽ không thực thi lệnh cấm đối với tàu treo cờ của họ. Luật tranh chấp tay đôi sẽ tạo ra một khuôn khổ pháp lý vì không có ai chịu trách nhiệm. Kết quả thực gần như chắc chắn sẽ được coi là một lượng đánh bắt bất hợp pháp và không có kiểm soát đáng kể.

Tổ chức Nông Lương của Liên Hợp Quốc tại Rome (FAO) là một phóng viên tương đối trung lập về tình trạng ngư nghiệp của thế giới. FAO ghi nhận những xu hướng liên quan đến Biển Đông:

Số lượng các tàu trong khu vực ngày càng tăng và có xu hướng gia tăng cơ giới hóa và tổng công suất đội tàu trong khu vực mặc dù một phần lớn của ngành thủy sản được phân loại là hoạt động đánh bắt cá “quy mô nhỏ” (trái ngược với hoạt động của tàu “thương mại” hoặc “nhà máy”)… Hình ảnh nổi lên là một trong… thủy sản đã chịu áp lực đánh bắt cá nặng nề hơn 30 năm và đã được giảm thiểu đáng kể.

Phần IX (Điều 123) của Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển chủ yếu tập trung vào đánh bắt cá và đưa ra một yêu cầu hợp tác chính sách mạnh mẽ theo hình thức đa phương hoặc thông qua một tổ chức khu vực thích hợp, chẳng hạn như ASEAN. Thật không may, các yêu cầu pháp lý chính xác trong phần đó không được nêu ra. Ngoài ra, ASEAN không giống như Liên minh châu Âu, vốn có cả tính pháp lý và quyền lực pháp lý và tư pháp hơn, và chưa thể hiện bất kỳ ưu tiên nào để tự buộc phải tham gia vào vấn đề phức tạp và gây tranh cãi này.

Hoa Kỳ dường như có cơ hội để đưa mình vào, cùng với các quốc gia khác, nhằm tăng cường thiết lập các biện pháp tạm thời để ngăn ngành thủy sản tiếp tục sụt giảm trong khu vực và sự suy giảm sức khỏe môi trường của các vùng biển tranh chấp.

Rõ ràng sẽ là tốt nhất nếu một thỏa thuận phát triển chung có thể được đàm phán dưới sự bảo trợ của ASEAN hoặc Liên Hợp Quốc. Có lẽ, Hiệp ước Svalbard năm 1925 sẽ cung cấp một mô hình hữu ích để thiết lập một khu vực phát triển chung. Hiệp ước đó, vốn vẫn còn hiệu lực, trao cho Na Uy quyền chủ quyền đối với quần đảo Spitsbergen nhưng lại trao các quyền cho các quốc gia khác nhau (trong đó có Nga, Ý, Nhật Bản, Hà Lan và Hoa Kỳ) có mặt trên đảo Svalbard khi hiệp ước được ký kết, quyền duy trì trung tâm dân cư của họ và khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong khu vực mà họ nắm giữ.

Với tư cách là một giải pháp chính sách, một chương trình hành động có thể là mượn hoặc thích ứng với Hiệp ước Svalbard để giải quyết vấn đề phát triển đa phương trong khu khu vực Trường Sa của Biển Đông. Việc thiết lập một “khu vực Trường Sa” sẽ phải giải quyết vấn đề lựa chọn quốc gia cần được trao quyền chủ quyền, lựa chọn Trung Quốc hoặc Việt Nam (hai quốc gia có yêu sách bắt buộc hợp pháp nhất) có lẽ sẽ là một kẻ phá hoại thỏa thuận, do đó, một sự thích ứng Svalbard sáng tạo hơn có thể có hành động của Liên Hợp Quốc trong vai trò mà Na Uy thực hiện cho đảo Svalbard sau khi hoàn thành, việc giao quyền trong khu vực hàng hải (và nguồn lực) phát sinh từ các vùng lãnh thổ có thể tiếp tục. Vì mục đích chính của việc thiết lập khu vực này là để duy trì các nghĩa vụ hợp tác khu vực của các quốc gia trong Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển Điều 123, dường như khu vực này hoàn toàn tuân thủ Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển .

  • Quá trình phát triển chung của các nguồn tài nguyên hydrocacbon ở miền Nam Trung Quốc. Một khuyến nghị thường được đề cập là ý tưởng của dự án chung giữa các bên tuyên bố chủ quyền để phát triển các nguồn tài nguyên dầu mỏ và khí đốt của Biển Đông trong trường hợp các vùng EEZ trùng lặp. Một phân tích pháp lý chi tiết về các vấn đề liên quan gần đây đã được hoàn thành bởi các luật sự quốc tế tại Singapore. Họ cho biết:

Nếu một quốc gia tham gia Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển không thể đạt đượ một thỏa thuận thông quan đàm phán EEZ hay thềm lục địa ranh giới của nó với một quốc gia liền kề hoặc đối điện, và nước đó không sẵn sàng hoặc không thể yêu cầu tòa án hoặc tòa án quốc tế phân định ranh giới trên biển, những nghĩa vụ nhất định được khuyến khích theo Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển. Đầu tiên, cả hai quốc gia có nghĩa vụ phải thực hiện mọi nỗ lực để tham gia “dàn xếp tạm thời có tính chất thực tế” trong khi chờ một thỏa thuận cuối cùng về biên giới trên biển của họ. Thứ hai, họ có nghĩa vụ không thực hiện bất kỳ hành động nào có thể gây nguy hiểm hoặc cản trở việc đạt được một thỏa thuận cuối cùng về biên giới biển, bao gồm cả việc khai thác đơn phương các nguồn tài nguyên hydrocacbon ở các khu vực trùng lặp. Trong hoàn cảnh như vậy, việc dẹp qua một bên các cuộc đàm phán về biên giới và xem xét gia nhập một Khu vực phát triển Chung (JDA) như một sự sắp xếp tạm thời có tính chất thực tế có thể là mối quan tâm chung của họ.

Một Khu vực phát triển Chung cho phép hai nước chia sẻ các nguồn tài nguyên hydrocacbon mà không phương hại đến vị thế của họ trong biên giới biển cuối cùng. Tuy nhiên, Khu vực phát triển Chung không phải là một giải pháp dễ dàng. Nói chung là không thể nếu như không có một số yếu tố cần thiết. Đầu tiên, hai quốc gia phải có một mức độ tin tưởng ở nhau. Thứ hai, họ phải có một mong muốn chung là gạt sang một bên tuyên bố chủ quyền của họ và cùng nhau phát triển nguồn tài nguyên đó. Thứ ba, và có lẽ quan trọng nhất, họ phải có ý chí chính trị cần thiết để gạt sang một bên những khác biệt của họ và thuyết phục người dân trong nước của họ rằng hợp tác bằng cách chia sẻ các nguồn tài nguyên thiên nhiên chính là lợi ích quốc gia của họ. Thứ tư, họ phải đồng ý về một khu vực dành cho phát triển chung được cả hai bên chấp nhận về mặt chính trị.

Nếu các yếu tố này xuất hiện, các chi tiết của Khu vực phát triển Chung có thể thương lượng. Một số mô hình có sẵn, và các vấn đề pháp lý và kỹ thuật cần phải được giải quyết đã được hiểu khá rõ. Nếu có sự tin tưởng cần thiết và ý chí chính trị, các chi tiết có thể được tìm ra thông qua đàm phán. Nếu không có, thì giải quyết tranh chấp ranh giới biển bằng cách đệ trình lên tòa án sẽ đảm bảo lợi ích tốt nhất của hai nước.

Trên thực tế, để khiến một bên đồng ý, với một Khu vực phát triển Chung là rất khó, nhưng Hoa Kỳ có thể cố gắng tạo điều kiện để có được kết quả như vậy mà không phương hại đến quan điểm của nước này là không đứng về phe nào trong các vấn đề chủ quyền. Lặng lẽ tìm hiểu Philippines là điều mà Washington có thể làm, vì khu vực có vẻ là ứng cử viên rõ ràng nhất cho sự phát triển chung là trung tâm trong KIG do Philippines tuyên bố, nơi những hòn đảo lớn nhất (trừ đảo Ba Bình do Đài Loan chiếm đóng) được tuyên bố chủ quyền và chiếm đóng bởi Trung Quốc, Philippines và Việt Nam. Nếu ba bên tranh chấp có thể bắt đầu các cuộc thảo luận nghiêm túc về việc xác định các khu vực có tranh chấp. thì đó sẽ là bước tiến lớn. Tương tự như vậy, một Khu vực phát triển Chung tập trung vào việc quản lý việc đánh bắt ở các vùng lân cận của bãi cạn Scarborough là một ứng cử viên khác, vì chỉ có hai đơn vị tham gia, Trung Quốc và Philippines. Trong cả hai trường hợp các vấn đề NDL, nếu nó đã không được xác định là không tuân theo Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển bởi Hội đồng trọng tài, sẽ phải được đặt sang một bên để tránh các vấn đề của Bắc Kinh tuyên bố những gì thuộc về Trung Quốc là của Trung Quốc, và những gì thuộc về bên tranh chấp khác là 50% của Trung Quốc.

  • Áp dụng quan điểm trung lập khi có kết quả đàm phán. Quan điểm của Mỹ phát triển từ một sự nhấn mạnh vào các giải pháp đa phương, và bắt đầu lên tiếng ủng hộ cho toàn bộ phạm vi của các diễn đàn và phương pháp đàm phán có thể thực hiện mà không bày tỏ một sự nhấn mạnh vào bất kỳ yếu tố nào. Các cuộc đàm phán song phương, như gần đây đã được thể hiên bởi Philippines và Indonesia, có thể hữu ích trong việc giải quyết tranh chấp. Các cuộc đàm phàn hàng hải đa phương của các quốc gia liên quan trực tiếp gần như chắc chắn sẽ là cần thiết ở một số giai đoạn để dung hòa các yêu sách trùng lặp nơi những yếu tố này liên quan đến hơn hai bên.
  • Xem xét sự tham gia nhiều hơn của USG vào quá trình Quy tắc ửng xử (COC). Một yếu tố trung tâm của chính sách của Mỹ hiện tại là sự hỗ trợ mạnh mẽ của Washington đối với một Bộ quy tắc ứng xử đã được đàm phán các quốc gia thành viên ASEAN và Trung Quốc. Đề cập ở đây không phải là một sáng kiến mới, mà để làm nổi bật tầm quan trọng của việc đưa vào thực hiện một số loại thỏa thuận khung vốn có thể hệ thống hóa các quy định, thủ tục và các quy định liên quan đến hành vi. Như Trợ lý Ngoại trưởng Russel phát biểu:

Hiệp định về Bộ Quy tắc ứng xử đã hết hạn quá lâu và quá trình đàm phán cần được đẩy mạnh. Đây là điều mà Trung Quốc và ASEAN đã cam kết để trở lại vào năm 2002 khi họ thông qua Tuyên bố của họ về ứng xử của các bên ở Biển Đông. Một Bộ quy tắc ứng xử sẽ tăng cường khuôn khổ dựa trên quy tắc cho việc quản lý và điều tiết hành vi của các nước có liên quan ở Biển Đông. Một phần quan trọng trong khuôn khổ đó, mà chúng tôi và nhiều nước khác tin rằng nên được thông qua một cách nhanh chóng, là sự bao gồm các cơ chế như đường dây nóng và các thủ tục khẩn cấp để ngăn ngừa sự cố ở các khu vực nhạy cảm và quản lý chúng khi chúng xảy ra theo những phương pháp ngăn tranh chấp leo thang.

Vấn đề cơ bản với các quá trinh COC giữa ASEAN và Trung Quốc là nó đã chia ASEAN thành hai nhóm – bên tranh chấp và không tranh chấp. Kết quả là, ASEAN không thể đạt được sự đồng thuận trong chính nó. Điều này cho phép Trung Quốc chậm trễ khi thay đổi bất biến các sự kiện và địa lý của phần nắm giữ của mình tại quần đảo Trường Sa. Trong khi đó, các nhóm làm việc đã được thành lập để thực hiện Tuyên bố về ứng xử của các bên (DOC) năm 2002 vẫn chưa được hoàn thành; chúng đang bị trì hoãn qua các cuộc thảo luận về các biện pháp hợp tác. Ngẫu nhiên, Bắc Kinh đã đề xuất rằng nó muôn có một Tuyên bố về ứng xử các bên hoàn thành trước khi ký kết Bộ quy tắc ứng xử.

Các nhà hoạch định chính sách Nhà nước cần phải cân nhắc xem họ muốn đi xa hơn lời kêu gọi về COC, và bắt đầu đưa ra ý kiến cho rằng ASEAN tập trung nỗ lực của mình với Trung Quốc về thực hiện DOC đồng thời tập trung nội bộ để đạt được sự đồng thuận giữa các quốc gia thành viên về các yếu tố cần thiết của một COC. Nói cách khác, vấn đề đáng xem xét là liệu có thể có hiệu quả hơn khi đạt được một sự hiểu biết riêng biệt giữa Trung Quốc và các nước ven Biển Đông (Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia) chứ không phải là liên quan đến toàn bộ ASEAN.

Tăng cường vị thế quân sự của Mỹ và xây dựng các năng lực hàng hải của các nước ven biển

Rõ ràng là hành động của Trung Quốc trong vài năm qua đã khiến các nước ven biển ASEAN – đặc biệt là Việt Nam và Philippines, và giữ mức độ thấp hơn, là Malaysia và Indonesia, tìm kiếm quan hệ an ninh gần gũi hơn với Hoa Kỳ. Mỹ nên đáp ứng yêu cầu từ bất kỳ nước ven Biển Đông nào để cải thiện khả năng bảo mật và lập chính sách hàng hải của mình. Rõ ràng, mỗi yêu cầu sẽ phải được xem xét riêng, nhưng nói chung các quá trình liên cơ quan Washington nên dễ đáp ứng không chỉ thông qua viện trợ quân sự và bán hàng trực tiếp, mà còn bằng cách khuyến khích các đồng minh khác của Mỹ ở Đông Á như Nhật Bản và Australia tiếp tục, và nếu có thể, tăng cường sự đóng góp của họ để cải thiện năng lực hàng hải cho các quốc gia ven biển. Nó phát triển mà không đưa ra mục tiêu là cải thiện khả năng của các quốc gia ven biển để bảo vệ đầy đủ các vùng biển hợp pháp của mình.

  • Hoa Kỳ cần phải dốc “toàn lực” trong việc giúp Philippines hiện đại hóa lực lượng hải quân của mình

Sự bế tắc vào tháng 4 năm 2012 với Trung Quốc về bãi cạn Scarborough nêu bật thực tế rằng Philippines hầu như không có khả năng tự vệ trên biển. Mặc dù Manila đã tăng ngân sách quốc phòng, nhưng nước này vẫn hầu như không có khả năng tự vệ dọc biên giới hàng hải ở Biển Đông. Áp dụng “Băng cứu thương”, chẳng hạn như cung cấp cho Hải quân Philippines các thiết bị quốc phòng dư thừa (ví dụ, tàu hải quan cựu lính biển Hoa Kỳ 40 tuổi có khả năng nhanh chóng không thể hoạt động vì sự cố máy móc), chỉ đơn giản là không thể tha thứ nếu Washington thực sự muốn nâng cao năng lực của Philippines.

Thực tế là lực lượng quốc phòng Philippines đủ lớn để cho phép Philippines ngăn chặn sự quyết đoán của Trung Quốc sẽ đòi hỏi một nỗ lực viện trợ quân sự về phần Hoa Kỳ, giống như nỗ lực của Hoa Kỳ với Hàn Quốc sau chiến tranh Triều Tiên. Các nhà hoạch định chính sách cần phải đưa ra quyết định về việc liệu nó phục vụ lợi ích của Mỹ để Philippines dần dần có được khả năng bảo vệ Biển Đông phần mình nắm giữ chống lại một đất nước Trung Quốc sử dụng vũ lực. Quyết định phải là quyết định tích cực, ngay cả khi nó làm tăng triển vọng tham gia trực tiếp của Mỹ, với điều kiện là washington làm rõ với Manila về các nghĩa vụ mà Mỹ sẽ đáp ứng theo Hiệp ước phòng thủ chung. Bộ Quốc phòng phải cử cá nhà hoạch định có kinh nghiệm và chuyên môn quân sự để thực hiện nỗ lực có hệ thống thể chế giúp hiện đại hóa các lực lượng Philippines (AFP).

Thỏa thuận tháng 4 năm 2014 giữa Manila và Washington để bắt đầu một Hiệp định Hợp tác Quốc phòng kéo dài cả thế kỷ (EDCA) bao gồm sự hỗ trợ của Hoa Kỳ trong điều lệ của nó cho việc hiện đại hóa lâu dài AFP, với mục tiêu đưa vào thực hiện “quốc phòng đáng tin cậy tối thiểu”. Thật không may, Tòa án tối cao Philippines có thể thấy Hiệp định này là bất hợp hiến, và theo báo chí, khó khăn về pháp lý đã khiến kế hoạch thực hiện phải dừng lại. Điều này không có nghĩa là các cuộc thảo luận về hiện đại hóa quân đội Philippines cũng phải dừng lại; các cuộc thảo luận đó đã được tiến hành trong nhiều năm, từ lâu trước khi Hiệp định Hợp tác Quốc phòng được phát triển. Tầm nhìn của chương trình “ngăn chặn đáng tin cậy tối thiểu” phải được xác định cụ thể thông qua các cuộc thảo luận song phương có chiều sâu. Kế hoạch được nhất trí kéo theo xứng đáng nhận được sự ủng hộ của Washington, dù Hiệp định Hợp tác Quốc phòng có duy trì sự không chắc chắn của các tiến trình pháp lý của Philippines hay không.

  • MDT Mỹ – Philippines không nên được mở rộng một cách rõ ràng để áp dụng cho tất cả các yêu cầu của Philippines về địa vật trong Biển Đông

Với những gì dường như là cơ sở đáng nghi ngờ về mặt pháp lý đối với hầu hết các tuyên bố của Philippines ở quần đảo Trường Sa, đồng ý rõ ràng rằng Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ – Philippines bao trùm lãnh thổ chủ quyền của Philippines ở Biển Đông sẽ là một nỗ lực rất nguy hiểm để răn đe. Washington chắc chắn không muốn có một cuộc xung đột với Trung Quốc về những tuyên bố không đáng tin cậy về mặt pháp lý. Đối thoại chính thức riêng cần làm rõ rằng các nghĩa vụ hiệp ước Mỹ là cụ thể và không bao gồm tất cả các loại hành động của Đảng Cộng hòa.

  • Hoa Kỳ sẽ giúp Việt Nam cải thiện việc chỉ huy và kiểm soát của nước này và khả năng giám sát hàng hải

Việt Nam đang tăng cường thế trận an ninh hàng hải của mình. Trong thập kỷ qua, Hà Nội đã thiết lập mối quan hệ gần gũi hơn với các cường quốc ngoài khu vực, đặc biệt là Hoa Kỳ và Ấn Độ. Ngoài tìm kiếm các nước bạn là cường quốc, Việt Nam đã có những đầu tư nghiêm túc vào năng lực hàng hải của mình.

Tin có giá trị nhất là sáu tàu ngầm loại Kilo đặt hàng từ Nga vào năm 2009, hai trong số đó đã được chuyển giao trong năm 2014. Ngoài ra, Việt Nam đã đặt mua sáu chiếc tàu hộ tống loại Gepard do Nga sản xuất. Hai chiếc đầu tiên, được trang bị để tấn công các tàu nổi, đã được chạy thử; hai chiếc tiếp theo, vẫn đang được xây dựng, sẽ được tối ưu hóa cho chiến tanh chống tàu ngầm. Việt Nam cũng đang sản xuất theo giấy phép ít nhất mười tàu tấn công nhanh 550 tấn được trang bị tên lửa hành trình chống tàu. Khi kết hợp với Hệ thống phòng thủ pháo đài vùng biển, cũng được sản xuất tại Nga, vào bao gồm tên lửa hành trình chống tàu có gắn xe tải và việc mua bốn tàu hộ tống Hà Lan rất hiện đại lớp SIGMA đã được công bố. Việt Nam đang đưa vào thực hiện một lực lượng hải quân ngoài khơi khiêm tốn nhưng có năng lực. Cuối cùng, không quân Việt Nam có máy bay Su-27/30 có khả năng tấn công trên biển.

Lồng ghép tất cả những vụ mua bán hàng thiết kế sẵn lại với nhau thành một lực lượng tích hợp, đôi khi là điều mà Hoa Kỳ có thể và nên làm; nếu Hà Nội yêu cầu. Hoa Kỳ có thể giúp kết hợp chỉ huy và kiểm soát của lực lượng an ninh hàng hải của mình, bởi vì, vào ngày 02/10/2014, Washington thông báo đã một phần dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí gây chết người Việt Nam, để cho phép Hà Nội tăng cường thế trận an ninh hàng hải của mình. Dù các hãng quốc phòng Mỹ có được tiếp cận để giúp đỡ bằng việc phối hợp phòng thủ trên biển của Việt Nam hay không vẫn cần phải xem xét. Nhưng ý định chung của Hà Nội là rõ ràng. Hà Nội đang đầu tư nguồn lực đáng kể để chắc chắn có thể bảo vệ tuyên bố về biển của mình và tránh tài diễn cuộc đụng độ với hải quân Trung Quốc tại Bãi ngầm Johnson South (Gạc Ma) năm 1988, trong đó hai tàu đổ bộ đã bị chìm, một phần ba bị hư hỏng nặng, 64 người thiệt mạng.

  • Washington cần nhấn mạnh rằng vị thế của Mỹ trong trận Thái Bình Dương đang tập trung vào khả năng triển khai sức mạnh để hỗ trợ cho bạn bè và các nước đồng minh của Mỹ

Thay vì kích động một cuộc đối đầu trực tiếp với Trung Quốc trên biển, thông điệp của Mỹ phải là một sự bảo đảm. Cụ thể, Trung Quốc không thể đẩy Mỹ ra khỏi Đông Á mà không bắt đầu một cuộc chiến tranh. Quân đội Mỹ sẽ giành chiến thắng trong cuộc “cạnh tranh về năng lực” đang diễn ra với Trung Quốc tạo thúc đẩy sự từ chối ra vào của Trung Quốc đối với sự ra vào được đảm bảo của Mỹ. Để hỗ trợ cam kết này các tàu mới nhất, máy bay và các năng lực điện tử và mạng khác xâm nhập vào kho quân sự Mỹ đang được giao cho các trung tâm Thái Bình Dương.

Trực tiếp hơn, sự mở rộng trong thời gian của chương trình tập trận của Hải quân Hoa Kỳ với các quốc gia ASEAN cần được xem xét để các loạt tập trận Hải quân Hoa Kỳ đã tiến hành diễn ra trong một khoảng thời gian dài, và khi thích hợp, được tăng cường bởi các lực lượng Hải quân Mỹ bổ sung. Liên quan đến sự tham gia của các quốc gia hàng hải châu Á khác có lợi ích ở Biển Đông – như Nhật Bản, Austrailia, Hàn Quốc hoặc thậm chí Ấn Độ cũng sẽ đóng góp để xây dựng năng lực khu vực cũng như minh họa tầm quan trọng mà các nước láng giềng của Trung Quốc đặt vào các kết quả hòa bình ở Biển Đông.

  • Hải quân Mỹ nên duy trì một sự hiện diện hàng ngày ở một nơi nào đó trong vùng Biển Đông

“Có mặt” theo một ý nghĩa địa lý tương đương với khoảng cách. Về mặt chiến lược, khoảng cách mang lại ảnh hưởng và các tùy chọn. Đáng tiếc là trong trường hợp của Biển Đông, nó cũng có thể gây nên những nhận thức đe dọa và làm tăng tương tác tạo ma sát. Tuy nhiên, khoảng cách cũng góp phần tạo sự bảo đảm, một lợi ích quan trọng của Mỹ. Vì vậy, điều quan trọng là Hải quân Mỹ phải tiếp tục thường xuyên hoạt động tại Biển Đông. Các chuyến quá cảnh đến và từ cảng ở Việt Nam và Philippines đảm bảo khoảng cách. Thật may là Hiệp định Hợp tác Quốc phòng bị đình trệ không ảnh hưởng xấu đến tần suất ngày càng tăng của các chuyến thăm cảng thường xuyên của Hải quân Mỹ đến cảng Philippines. Trong năm 2011 đã có 44 lượt ghé thăm bằng tàu; con số này tăng gấp đôi lên 88 vào năm 2012, và tăng lên 140 năm 2013. (Số lượng không bao gồm các tàu Hải quân Hoa Kỳ đã tham gia vào các nỗ lực cứu trợ khắc phục hậu quả của siêu bão Yolanda). Các chuyến thăm này có nghĩa là sự hiện diện của Hải quân Mỹ ở Biển Đông gần như là một sự xuất hiện hàng ngày. Điều này sẽ tiếp tục diễn ra.

(còn tiếp)

RELATED ARTICLES

Tin mới

Bình luận