Với sức mạnh quân sự áp đảo, Trung Quốc có thể độc quyền kiểm soát Biển Đông, áp đặt các điều kiện với các nước xung quanh Biển Đông.
Biển Đông là biển nửa kín, nối Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương, có nhiều tuyến giao thông hàng hải quốc tế quan trọng. Đây là nơi 1/3 lượng hàng hóa của thế giới được vận chuyển qua lại trên 16 tuyến hàng hải, 12 tuyến hàng không từ đông sang tây, từ bắc xuống nam. Hàng hóa qua khu vực này chủ yếu là các nguyên vật liệu quan trọng như dầu thô (chiếm 20% lượng dầu thế giới), gas tự nhiên hóa lỏng (chiếm 2/3 số lượng thế giới), quặng sắt, than đá… Nhưng Biển Đông cũng đồng thời là nơi triển khai các hoạt động quân sự kiểm soát con đường huyết mạch của kinh tế thế giới. Giả dụ, một nước nào đó khống chế Biển Đông, hoặc chiến tranh xảy ra trên Biển Đông, đường giao thông trên biển sẽ tắc nghẽn, kinh tế thế giới sẽ suy sụp. Kinh tế Trung Quốc giỏi lắm chỉ đứng vững được trong vòng ba tháng vì thiếu nguồn tiếp tế nguyên, nhiên, vật liệu. Kinh tế Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc có thể còn sụp đổ nhanh hơn. Kinh tế nhiều nước khác sẽ bị ảnh hưởng nặng nề. Theo giới nghiên cứu nhận xét: “Chỉ cần đe dọa các đường giao thông biển ở Biển Đông là đã giáng một đòn chí tử đối với Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan mà không cần một hành động quân sự trực tiếp nào trên biển Hoa Đông”. Do đó, cho tới nay, chưa có nước nào dám mạo hiểm phát động chiến tranh ở Biển Đông.
Nhưng Biển Đông từ cả mấy chục năm nay không hề yên ổn. Nơi đây hết xảy ra sự kiện đánh chiếm đảo phi pháp lại có chuyện tuyên bố chủ quyền theo đường lưỡi bò tham lam; hết chuyện tôn tạo đảo bằng cát hút từ đáy biển lên lại có chuyện các bên cho tàu rượt đuổi nhau trong phạm vi 12 hải lý xung quanh một số đảo; hết chuyện mang giàn khoan nổi hiện đại đi cắm đại vào vùng biển nước láng giềng lại có chuyện kiện cáo nhau ra tòa quốc tế vì tranh chấp một bãi cạn… Hầu hết những chuyện trên đều có liên quan đến hai nước lớn tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương là Trung Quốc và Mỹ, cùng một số nước ở xung quanh Biển Đông. Rõ ràng, Biển Đông trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai sẽ còn đứng trước rất nhiều tình huống bất ổn do các bên có tuyên bố chủ quyền chưa tìm ra, chưa đi đến được giải pháp hữu hiệu nào nhằm giải quyết các tranh chấp. Vậy, những năm sắp tới, những kịch bản nào có thể xảy ra với Biển Đông? Dự báo vấn đề trên cho thật chính xác quả là khó đối với các nhà nghiên cứu. Nhưng cũng nên đặt ra các tình huống, giả thiết với những khả năng khác nhau để cùng nhìn nhận và định trước giải pháp phòng ngừa vì bất cứ vấn đề gì, nếu biết sớm, biết trước thì vẫn giảm thiểu được rất nhiều thiệt hại.
Trước hết, có thể khẳng định kịch bản chiến tranh, xung đột lớn trên Biển Đông không hoặc rất khó có khả năng xảy ra trong thời gian tới do tầm quan trọng của Biển Đông liên quan đến hầu hết các nước trong khu vực và trên thế giới như phân tích ở phần đầu của bài viết và quan trọng nhất là tương quan lực lượng giữa Trung Quốc với Mỹ hiện nay vẫn đang ở thế giằng co trên mọi phương diện và ở những nơi họ có lợi ích, cả hai bên đều không muốn đối đầu, sống mái với nhau bằng chiến tranh.
Vì vậy, trong những năm sắp tới có thể có một số kịch bản có thể xảy ra ở Biển Đông như sau:
Thứ nhất, nước Mỹ do có những thay đổi đột biến về chiến lược, rút lui khỏi khu vực hoặc nhường quyền kiểm soát cho Trung Quốc. Với sức mạnh quân sự áp đảo, Trung Quốc độc quyền kiểm soát Biển Đông, áp đặt các điều kiện với các nước xung quanh Biển Đông.
Nói Mỹ rút lui khỏi khu vực có thể hiểu là rút khỏi vấn đề Biển Đông, rộng hơn là rút khỏi Đông Á, rộng hơn nữa là rút khỏi Tây Thái Bình Dương. Vì việc nào đó mà buộc Mỹ phải rút khỏi khu vực có lẽ là điều không tưởng bởi Mỹ có cả một chiến lược giành cho khu vực được các đời tổng thống kế tục nhau thực hiện, có chăng chỉ là những sự điều chỉnh biện pháp theo từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Như vậy, chỉ có khả năng Mỹ chủ động rút do một sự thay đổi đột biến chiến lược nào đó. Điều này rất hãn hữu xảy ra nhưng chúng ta vẫn phải nhớ rằng, nước Nga đã từng rút hẳn sự hiện diện ra khỏi Cuba và Việt Nam sau thay đổi đột biến chiến lược là Liên Xô tan rã. Còn nhường quyền kiểm soát cho Trung Quốc thì có nghĩa giữa Mỹ và Trung Quốc phải đạt được một thỏa thuận nào đấy mà cái giá đặt ra phải tương đương những lợi ích mà Mỹ đang hưởng ở Biển Đông. Điều này không phải không có khả năng xảy ra vì năm 2016, Trung Quốc đã đánh tiếng với Mỹ về việc chia đôi Thái Bình Dương. Mỹ ngay lập tức đã không đếm xỉa gì đến gợi ý của Trung Quốc nên không biết được cái giá Trung Quốc sẽ trả cho việc chia đôi. Xem ra, tình huống này đã có một phần dấu hiệu. Tuy nhiên, kịch bản này khó xảy ra trong thời gian gần, ít nhất trong khoảng 10 năm tới.
Thứ hai, Trung Quốc thất bại trong chiến lược thu hồi chủ quyền đối với Đài Loan bằng biện pháp phi quân sự, buộc phải dùng giải pháp quân sự, tiến hành chiến tranh với Đài Loan. Biển Đông sẽ là một hướng chiến trường của Trung Quốc.
Những năm qua, chính quyền Trung Quốc đại lục đã kiên trì giải pháp thu hồi hòa bình Đài Loan về với Trung Quốc, kể cả đưa ra đối sách “một quốc gia, hai chế độ” và lấy hình mẫu thu hồi Hồng Kông, Ma Cao những năm trước đây để tác động, lôi kéo chính quyền và người dân Đài Loan đi theo. Nhưng hòn đảo này không phải dễ chinh phục. Dưới thời nhà lãnh đạo Mã Anh Cửu, có rất nhiều hoạt động giao lưu giữa giới lãnh đạo và người dân hai bờ và dấu hiệu cho thấy có vẻ Đài Loan chấp nhận là một phần lãnh thổ Trung Quốc. Nhưng mấy năm nay, dưới thời Thái Anh Văn, một người chủ trương độc lập cho Đài Loan thì mọi chuyện như ngừng lại, quan hệ Đài – Trung nổi lên nhiều sóng gió, trong khi Mỹ vẫn kiên trì đạo luật quan hệ với Đài Loan và bán vũ khí cho vùng lãnh thổ này. Nghị quyết và chiến lược lớn Trung Quốc đã đặt ra phải sớm thu hồi phần lãnh thổ Đài Loan về cho Tổ quốc. Một vài tướng lĩnh nóng tính của Trung Quốc đã tính tới việc phải phong tỏa hòn đảo này ở ba hướng Bắc, Đông, Nam để buộc Đài Loan bị bao vây, cô lập, từ đó phải quy phục. Như vậy, Biển Đông sẽ là một hướng Trung Quốc bao vây Đài Loan, đúng như kịch bản tướng lĩnh của Tưởng Giới Thạch đã tính đến từ những năm 40, 50 của thế kỷ trước khi buộc phải rời bỏ lục địa chạy ra đây.
Nếu kịch bản trên xảy ra, tình hình Biển Đông sẽ mất ổn định nghiêm trọng và nếu Mỹ can thiệp để bảo vệ Đài Loan, chiến tranh lớn sẽ xảy ra. Tuy nhiên, cho đến nay, lãnh đạo cấp cao Trung Quốc vẫn kiên trì giải pháp hòa bình nên kịch bản này khả năng xảy ra không cao, nhưng tương lai gần phải cảnh giác.
Thứ ba, Trung Quốc do có những khó khăn nội bộ, chủ động đẩy sức ép ra bên ngoài nên liều lĩnh tạo cớ gây hấn với một trong những nước xung quanh có liên quan ở Biển Đông nhằm ổn định giới lãnh đạo bên trong, cố kết lòng dân, giữ vững chế độ nên dẫn tới xung đột cục bộ ở Biển Đông.
Cung cách xử lý những vấn đề bất ổn bên trong bằng gây ra các sự cố ở bên ngoài để thu hút sự chú ý của dư luận xã hội hay để cố kết tinh thần dân chúng thường được giới lãnh đạo Trung Quốc áp dụng và cũng mang tính quy luật. Thực tế các vụ xung đột biên giới Trung – Ấn, Trung – Xô hay cả chiến tranh biên giới Trung – Việt trước đây đều bao hàm trong đó mục đích giải quyết vấn đề bên trong của Trung Quốc. Vì thế, Biển Đông luôn là một cứu cánh được tính đến khi bên trong Trung Quốc có điều bất ổn. Bởi vấn đề chủ quyền lãnh thổ là vấn đề nhạy cảm, dễ thu hút và kích động tinh thần dân tộc nhất.
Tuy nhiên, hiện nay có thể khẳng định kịch bản này ít khả năng xảy ra do sau Đại hội 19 Đảng Cộng sản Trung Quốc, nội bộ giới lãnh đạo Trung Quốc hiện thống nhất cao, xã hội ổn định, kinh tế tuy có tăng trưởng chậm lại nhưng khó có khả năng đổ vỡ. Trung Quốc xác định họ đang ở vào thời cơ phát triển chiến lược và cần phải tranh thủ thời cơ này. Chưa có yếu tố nào buộc Trung Quốc phải tìm đến cứu cánh.
Thứ tư, bằng các biện pháp phi quân sự là chính, với biện pháp quân sự hỗ trợ, Trung Quốc ngày càng chiếm ưu thế ở Biển Đông, kiểm soát rộng ở vùng biển này nhưng không phải độc quyền, chấp nhận một phần ảnh hưởng của Mỹ và tôn trọng tự do hàng hải quốc tế của các nước, chia sẻ lợi ích với các nước xung quanh nhưng theo điều kiện của Trung Quốc. Nếu các nước không chịu, Trung Quốc sẽ gây sức ép toàn diện, kể cả xung đột quân sự nhỏ, có kiểm soát để đạt mục đích. Tình huống này hiện đang diễn ra và nhiều khả năng tiếp tục kéo dài.
Phải nói, Trung Quốc đang được lợi trong tình huống này. Do có tiểm lực kinh tế, quân sự mạnh nên dù là triển khai các biện pháp phi quân sự như tôn tạo đảo, nuôi trồng thủy hải sản, tổ chức hoạt động du lịch, tiến hành tuần tra chấp pháp trên biển, ban hành lệnh cấm đánh bắt cá trên biển… nhưng hầu như Trung Quốc làm là được, các nước có liên quan tuy có lên tiếng phản đối nhưng cũng chỉ là lấy lệ vì không đủ sức đáp trả. Có viện dẫn đến tổ chức quốc tế nào hỗ trợ thì như người ta nói “chờ được mạ, má đã sưng”. Do đó, thỉnh thoảng Trung Quốc lại lấn tới một chút trong việc đòi hỏi chủ quyền và đi kèm đó là hành động trên thực tế. Đây chính là chiến thuật “tằm ăn dâu” của họ ở Biển Đông.
Thứ năm, do những tranh chấp lợi ích với các nước ở Biển Đông không có lợi cho Trung Quốc, hoặc do tình hình ở các khu vực khác trên thế giới có đột biến khiến các nước lớn mất tập trung đối với Biển Đông, Trung Quốc có thể tuyên bố thiết lập ADIZ trên toàn bộ hoặc một phần Biển Đông, các nước tập trung lên án, phản đối hoặc đáp trả bằng thiết lập ADIZ của nước mình. Tình hình Biển Đông căng thẳng, phức tạp khó lường.
Thực chất vấn đề là Trung Quốc toan tính thiết lập ADIZ ở Biển Đông tương tự như họ đã thiết lập ADIZ ở biển Hoa Đông. Tuy nhiên, biển Hoa Đông chỉ có Trung Quốc và Nhật Bản tranh chấp chủ quyền và biển này cũng không liên quan nhiều đến hàng hải, hàng không quốc tế. Biển Đông hoàn toàn khác với biển Hoa Đông nên vì thế, muốn lập ADIZ ở Biển Đông phải có điều kiện. Điều kiện thuận lợi nhất là các nước khu vực, quốc tế mất tập trung vào Biển Đông, không để ý đến thì tiến hành. Đến khi các nước, quốc tế nhận thức được, huy động phản đối, phản ứng thì việc cũng đã xong. Đây là kinh nghiệm Trung Quốc rút ra từ bài học nước Nga sáp nhập bán đảo Crưm thuộc U-crai-na vào lãnh thổ Liên bang Nga năm 2015. Sau sự kiện Crưm, thậm chí đã có quan chức Trung Quốc đặt câu hỏi: Nga thu hồi được Crưm, cớ sao Trung Quốc không thu hồi Biển Đông?
Như vậy, kịch bản này rất dễ xảy ra trong trường hợp tại những khu vực có liên quan khác như Đông Bắc Á, Tây Á, Nam Á… xảy ra xung đột, chiến tranh lớn và có sự kiện đột biến; hoặc ngay tại khu vực Đông Nam Á, nội bộ các nước ASEAN chia rẽ, mất đoàn kết, mất ổn định.
Thứ sáu, tiến trình đàm phán xây dựng Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) giữa Trung Quốc và các nước ASEAN suôn sẻ và COC được ký kết, trong đó có nhiều điều khoản có lợi cho Trung Quốc mà các nước phải chấp nhận. Trung Quốc sẽ hợp tác với các nước duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Đông để thực thi Bộ quy tắc. Ngược lại, đàm phán COC kéo dài, không đi đến kết quả, tình hình sẽ như tình huống thứ tư.
Cho đến nay, đàm phán liên quan đến COC đã đến vòng thứ 24 và cũng đã có một số tiển triển. Bộ khung COC đã được lãnh đạo các nước nhất trí xây dựng. Khung COC được hiểu như là mục lục của một cuốn sách bao gồm các vấn đề không gian địa lý; khu vực hợp tác hàng hải, đánh bắt cá, khai thác dầu khí…; nguyên tắc ứng xử; cơ chế theo dõi, xử lý các tranh chấp; sự tham gia của bên ngoài… Nhưng nhiều vấn đề chi tiết, cụ thể sẽ còn phải qua nhiều vòng tranh cãi, nhất là tính ràng buộc pháp lý của COC vì Trung Quốc dường như chưa muốn chấp nhận. Họ có xu hướng lái COC theo hướng khu vực hóa, nội luật hóa, ngăn cản không cho các nước bên ngoài khu vực tham gia vào.
Như vậy, sáu kịch bản có thể xảy ra đối với Biển Đông, không có kịch bản nào lạc quan cho các nước nhỏ, yếu có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông. Kịch bản sáng sủa nhất, các nước, các bên mong muốn và ủng hộ là kịch bản thứ sáu. Tuy nhiên, để Trung Quốc đặt bút ký vào COC thì các đối tác của Trung Quốc phải có sự tính toán nhất định, phải kiên trì và đồng thuận rất cao. Đối với Trung Quốc, vấn đề thời gian không có gì phải câu thúc. Đàm phán càng lâu, Trung Quốc càng có điều kiện duy trì tình huống hiện nay mà nước này đang có lợi.