Sunday, May 22, 2022
Trang chủSự thật Trung HoaNăm 2019, TQ chính là nhân tố thúc đẩy quốc tế hóa...

Năm 2019, TQ chính là nhân tố thúc đẩy quốc tế hóa vấn đề Biển Đông!

Theo tiết lộ của một quan chức cấp cao Trung Quốc vào tháng 11/2018, Trung Quốc và ASEAN đã đạt được thỏa thuận là sẽ hoàn thiện Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) trong vòng 3 năm, bắt đầu từ năm 2019. Điều đó nhen lên một tia hy vọng về triển vọng giải quyết hòa bình các tranh chấp giữa các bên có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông. Tuy nhiên, mới đây Trung Quốc lại đưa ra một số điều kiện đối với tiến trình đàm phán COC nhằm giúp Bắc Kinh ngăn chặn các đối thủ và các quốc gia khác bên ngoài khu vực tiếp cận những vùng biển tranh chấp. Đề xuất trên không chỉ vấp phải sự phản đối của các nước ASEAN, nhất là những nước có tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc ở Biển Đông, mà còn bị các nước lớn khác như Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản, Australia, Pháp… phản đối. Đặc biệt, mặc dù COC đang được đàm phán, nhưng trong khoảng thời gian từ đầu tháng 7 đến cuối tháng 10/2019, Trung Quốc đã ngang ngược đưa tàu khảo sát địa chất Hải Dương 8 vào vùng biển Việt Nam để tiến hành hoạt động thăm dò, khiến tình hình khu vực Biển Đông đang lắng dịu đột nhiên căng thẳng. Trở thành nguyên cớ khiến cho hầu hết các nước lớn bên ngoài can dự.

Đầu tiên, những gì Trung Quốc đề cập đến COC và triển vọng hoàn thành bộ quy tắc này đã vấp ngay phải sự nhạy cảm của người Mỹ. Ngày 18/11/2019, tại Bangkok/TháiLan, Bộ trưởng Quốc phòng mới của Mỹ Mark Esper khi đến dự hội nghị với các nước ASEAN đã cho rằng, ASEAN phải đảm bảo COC không bị Trung Quốc “thao túng” nhằm “hợp thức hóa hành vi quá đáng và yêu sách hàng hải phi pháp của nước này, cũng như lẩn tránh các cam kết mà Trung Quốc đã thống nhất”. Khi đến thăm Philippines một ngày sau đó (19/11/2019), ông chủ Lầu Năm Góc tiếp tục nhấn mạnh: “Tất cả chúng ta đều phải tôn trọng các quy định của luật pháp quốc tế và chúng tôi nghĩ, Trung Quốc cũng phải tôn trọng những điều này”. Ông M.Esper cũng đề nghị các nước có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc ở Biển Đông cần khẳng định mạnh mẽ hơn quyền chủ quyền của mình để cùng đưa Trung Quốc “về con đường đúng”. Còn Tư lệnh Bộ tư lệnh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương Mỹ Philip S.Davidson, hôm 24/11/2019 phát biểu tại Diễn đàn An ninh quốc tế Halifax ở Canada, đã lên tiếng chỉ trích việc Trung Quốc nhiều năm qua không ngừng cải tạo, quân sự hóa các thực thể chiếm đóng trái phép ở Biển Đông, khiến cho khu vực này có nhiều diễn biến vô cùng phức tạp. Bên cạnh đó, khi đề cập đến COC mà ASEAN và Trung Quốc đang đàm phán, ông Davidson cảnh báo, ASEAN cần phải đảm bảo rằng, COC ra đời sẽ không làm hạn chế quyền tự do hàng hải, hoạt động thương mại và chương trình tập trận của các nước trong khu vực. Theo ông S.Davidson: “Trong những năm qua, Trung Quốc đã quân sự hóa các đảo nhân tạo trên Biển Đông và tăng cường năng lực ở đó. Bây giờ, Trung Quốc lại muốn có được bộ quy tắc ứng xử giữa họ và ASEAN để tạo điều kiện có lợi nhất cho các hoạt động của Bắc Kinh ở vùng biển này, đây là điều đòi hỏi các nước ASEAN phải hết sức cảnh giác”, đồng thời ông tuyên bố: “Mỹ, Canada, New Zealand, Australia, Nhật Bản và Ấn Độ sẽ tiếp tục cho tàu, thuyền đi qua Biển Đông và tham gia tập trận quân sự ở đó”.

Tiếp theo, tại tuyên bố chung sau cuộc Đối thoại 2+2 giữa các Bộ trưởng Quốc phòng và Ngoại giao hai nước Nhật Bản và Ấn Độ được tổ chức ở New Delhi hôm 30/11/2019, hai bên đã nhấn mạnh rằng, COC không được làm phương hại đến các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan ở Biển Đông, cũng như các quyền tự do của tất cả các quốc gia chiểu theo luật pháp quốc tế.Với tuyên bố trên, các bộ trưởng đã gửi thông điệp mạnh mẽ tới Bắc Kinh, nhấn mạnh “tự do hàng hải và hàng không cũng như thương mại hợp pháp không bị cản trở ở Biển Đông, khu vực trung tâm của một cuộc xung đột leo thang giữa Trung Quốc và các nước láng giềng biển ở Đông Nam Á”. Hai bên cũng nhấn mạnh COC phải “hiệu quả, thực chất và phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm cả Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) và đảm bảo tự do hàng hải”.

Không thể phủ nhận, COC và tiến trình đàm phán ký kết COC đang được tất cả các nước trong và ngoài khu vực quan tâm, hy vọng sẽ là giải pháp tốt cho vấn đề Biển Đông, cớ sao bộ quy tắc còn đang đàm phán đã khiến cả Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản phải “nhảy cẫng” lên như vậy. Căn nguyên của nó không đâu xa, chính là do các nước trên đã phát hiện ra rằng, Trung Quốc đang muốn dùng COC để ngăn chặn quốc tế can thiệp vào vấn đề Biển Đông.

Đó là gần đây, Trung Quốc đang tăng cường gây sức ép để ASEAN nhất trí về một COC mà ở đó bộ quy tắc này sẽ hạn chế Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ và các quốc gia khác ngoài khu vực tham gia hợp tác an ninh hàng hải với các quốc gia Đông Nam Á, cũng như khai thác tài nguyên ở Biển Đông. Tờ The Nikkei của Nhật Bản cho biết, dự thảo COC mới nhất đã xuất hiện những nội dung hạn chế các quốc gia thành viên phát triển hàng hải và diễn tập quân sự chung với các công ty và quốc gia bên ngoài khu vực. Những công ty hay quốc gia này có thể bị yêu cầu phải có được sự chấp thuận của Trung Quốc mới được tiến hành hợp tác quân sự với các nước ASEAN. Thông tin này trùng khớp với những nội dung được một số quan chức ngoại giao Philippines công bố hồi tháng 9/2019. Theo đó, Trung Quốc có ba yêu cầu cơ bản về COC: Không đưa UNCLOS vào trong đàm phán COC; các nước ASEAN muốn tập trận quân sự chung với các nước bên ngoài khu vực phải được sự đồng ý của Trung Quốc; các nước có tranh chấp với Trung Quốc không được hợp tác khai thác tài nguyên với các nước bên ngoài khu vực.

Nếu Trung Quốc thành công trong việc đưa tất cả các điều khoản do nước này đề xuất vào COC, các quốc gia ASEAN có thể sẽ phải được Bắc Kinh phê chuẩn khi muốn tiến hành các cuộc tập trận quân sự chung ở Biển Đông với Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ hoặc bất kỳ quốc gia nào khác ngoài khu vực. Điều này cũng có thể gây khó khăn cho công ty ONGC Videsh của Ấn Độ và các thực thể tương tự của các quốc gia khác trong việc tiếp tục thăm dò dầu mỏ và các tài nguyên khác trong và xung quanh vùng biển tranh chấp.

Đánh giá yêu sách trên của Bắc Kinh, nhiều nhà quan sát khẳng định, ASEAN không thể chấp nhận các điều kiện đó, vì chúng sẽ vô hiệu hóa phán quyết của Tòa trọng tài thường trực quốc tế về Luật Biển (PCA) năm 2016. Các điều kiện này cũng sẽ xóa bỏ ảnh hưởng của Mỹ và đồng minh đối với khu vực.Bên cạnh đó, dự thảo COC không nói rõ liệu bộ quy tắc này có tính ràng buộc pháp lý hay không, cũng như có bất kỳ cơ chế nào nhằm ngăn chặn tranh chấpnếu xảy ra. Một quan chức Nhật Bản cho rằng: “Mục tiêu của Trung Quốc là trói buộc ASEAN vào những quy định có lợi cho Bắc Kinh và loại bỏ hoặc hạn chế ảnh hưởng từ bên ngoài về Biển Đông”.

Trong khi các điều kiện mà Trung Quốc đưa ra để đàm phán về COC còn đang bị cộng đồng quốc tế phản đối rầm rầm, thì trên thực địa, Bắc Kinh lại ngang nhiên đưa tàu khảo sát địa chất Hải Dương 8 xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam ở bãi Tư Chính trong khoảng thời gian từ đầu tháng 7 đến tháng 10/2019, hành động trên chẳng khác gì Trung Quốc coi các nước lớn ngoài khu vực “không bằng con tép”, buộc họ phải “xắn tay áo” lên.

Đối với Mỹ, trên thực địa, Người phát ngôn của Hạm đội 7 Mỹ, bà Reann Mommsen cho biết, ngày 20/11/2019, chiến hạm USS Gabrielle Giffords đã di chuyển trong phạm vi 12 hải lý quanh Đá Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Namnhưng bị Bắc Kinh chiếm đóng trái phép.Cùng ngày, tàu USS Montgomery của Hải quân Mỹ cũng đã thực hiện hành trình đi qua quần đảo Hoàng Sa nhằm thách thức tuyên bố chủ quyền phi lý của Trung Quốc.Theo bà Mommsen: “Những nhiệm vụ này được tiến hành dựa trên luật pháp quốc tế và thể hiện cam kết của Mỹ đối với việc duy trì quyền lợi, quyền tự do cũng như quyền sử dụng vùng biển và vùng trời được đảm bảo cho tất cả các quốc gia”.

Việc Mỹ triển khai hai tàu tác chiến duyên hải là USS Gabrielle Giffords và USS Montgomery đến Biển Đông cho thấy, Mỹ có dấu hiệu thay đổi chiến lược ở Biển Đông. Tờ báo SCMP của Trung Quốc cho rằng, Mỹ đi bước đi này là nhằm tăng cường sức mạnh tiến công ở Biển Đông, nơi Trung Quốc ngày càng gia tăng quân sự hóa. Trong khi đó, báo IBT Times nhận xét, động thái triển khai hai tàu tác chiến duyên hải là một sự phô diễn sức mạnh rất rõ ràng của Mỹ đối với Trung Quốc.

Điều đáng lưu ý là, phần lớn tàu chiến mà Mỹ triển khai tuần tra ở Biển Đông lâu nay là tàu khu trục và tàu tuần dương, đều có trang bị tên lửa. So với những tàu này thì USS Gabrielle Giffords và USS Montgomery lại có những lợi thế đặc biệt – theo nhận xét trong một báo cáo của tổ chức Sáng kiến điều tra tình hình chiến lược Biển Đông (SCS-SSPI) thuộc Viện Nghiên cứu Hải dương của Đại học Bắc Kinh.

Cũng theo đánh giá của SCS-SSPI, khả năng di chuyển ở khu vực nước nông giúp các tàu tác chiến duyên hải Mỹ thực hiện tốt các chiến dịch trinh sát ở các khu vực đá ngầm ở quần đảo Trường Sa (thuộc chủ quyền Việt Nam đang bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép). Tốc độ di chuyển của tàu có thể lên đến 50 hải lý (gần 100km/h), là một lợi thế khi thực hiện các chiến dịch tự do hàng hải. Đặc biệt, tàu USS Gabrielle Giffords vốn được trang bị tên lửa chống tàu tiên tiến có thể tham gia vào các chiến dịch của Hạm đội 7 Hải quân Mỹ. Đầu tháng 10/2019, tàu USS Gabrielle Giffords đã phóng thử một tên lửa tàng hình có tầm bắn 185km – vụ thử tên lửa tàng hình đầu tiên ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Bên cạnh đó, theo SCS-SSPI, việc triển khai hai tàu tác chiến duyên hải này cho thấy, Mỹ có dấu hiệu chuyển chiến lược từ quan sát và ngăn chặn sang tăng cường khả năng tiến công ở Biển Đông bằng cách chủ động tìm kiếm, phát hiện và ngăn chặn nguy cơ bị tiến công quân sự và chuẩn bị cho khả năng có xung đột quân sự.

Tuy nhiên, theo chuyên gia quân sự Song Zhongping (Hồng Công), hai tàu tác chiến duyên hải Gabrielle Giffords và Montgomery chưa đủ sức đe dọa đáng kể các đảo, đá Trung Quốc đang chiếm giữ và kiểm soát trái phép ở Biển Đông, vì các tàu này thiếu khả năng tàng hình và lại nhỏ, yếu. Ông Songcho rằng, để đối phó, Trung Quốc có thể tăng cường thêm tên lửa mặt đất và tên lửa phóng từ tàu cũng như máy bay, thậm chí triển khai cả tàu sân bay. Tất nhiên, Hải quân Mỹ thừa hiểu vấn đề này và thực tế cho thấy, Washington có thể sẽ huy động thêm nguồn lực khi Trung Quốc không có ý hoặc không có thiện chí giảm leo thang “không thể chấp nhận” ở khu vực.

Trên mặt trận ngoại giao, phát biểu tại Manila/Philippinesngày 19/11/2019, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ M.Esperkêu gọi: “Chúng ta có phận sự thể hiện quan điểm công khai và khẳng định chủ quyền và nhấn mạnh tầm quan trọng của luật pháp”.Ông M.Esper đã có chuyến thăm Philippines sau khi tham dự Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng tại Bangkok/Thái Lan vào ngày 18/11/2019. Ông cho biết, hầu hết những quốc gia tới tham gia cuộc họp này đều “rất quan ngại về yêu sách chủ quyền quá đáng của Trung Quốc tại Biển Đông và Bắc Kinh thiếu đi sự tuân thủ đối với luật pháp và quy chuẩn quốc tế”. Theo ông M.Esper: “Trung Quốc phải tuân thủ luật pháp quốc tế và các quốc gia đồng lòng hành động là cách tốt nhất để gửi thông điệp nhằm buộc Trung Quốc đi theo con đường đúng đắn”.

Ông M.Esper tuyên bố, Mỹ sẽ tiếp tục các hoạt động tuần tra đảm bảo “tự do hàng hải” trong vùng biển có tranh chấp chủ quyền để đảm bảo rằng, Trung Quốc hiểu được Washington “không từ chối nỗ lực bởi bất cứ quốc gia nào nhằm dùng sự cưỡng ép và đe dọa để đạt được lợi ích quốc gia bằng cách lấy đi từ nước khác”.Ông cũng chỉ ra việc Trung Quốc “sử dụng lực lượng dân quân biển để xua đuổi các thủy thủ và ngư dân Philippines, Indonesia, Malaysia và Việt Nam, đồng thời triển khai lực lượng hải cảnh để ngăn Việt Nam khoan dầu và khí tự nhiên ở ngoài khơi bờ biển của họ”. Bộ trưởng M.Esper khẳng định: “Thông qua những hành động khiêu khích liên tục để khẳng định yêu sách đường chín đoạn, Bắc Kinh đã cản trở các nước thành viên ASEAN trong việc tiếp cận nguồn dự trữ năng lượng có thể tái tạo trị giá hơn 2,5 nghìn tỷ USD, đồng thời góp phần gây ra sự bất ổn và gia tăng nguy cơ xung đột. Hành vi này trái ngược hoàn toàn với trật tự dựa trên luật lệ mà tất cả các nước đã cùng nhau xây dựng trong hơn 70 năm qua”.

Ngày 20/11/2019, khi đến thăm Việt Nam, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ M.Esper đã nhấn mạnh tầm quan trọng của khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương trong chính sách của Washington, đồng thời khẳng định cam kết không thay đổi đối với khu vực này.Ông M.Esper cho biết: “Mỹ là quốc gia nằm trong khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Washington có lợi ích chiến lược và kinh tế lâu dài ở khu vực và có sự cam kết đối với sự ổn định và thịnh vượng ở đây. Thông qua hợp tác chặt chẽ với các đồng minh và đối tác, Mỹ sẽ cạnh tranh quyết liệt để thúc đẩy tầm nhìn của mình và chống lại những nỗ lực nhằm hạn chế quyền tự chủ và tự do lựa chọn”.

Bộ trưởng M.Esper lưu ý, tầm nhìn bao trùm của Mỹ mở rộng đến tất cả các nước, bao gồm cả Trung Quốc. Washington sẽ theo đuổi mối quan hệ mang tính xây dựng, hướng đến kết quả với Bắc Kinh và tìm kiếm các lĩnh vực hợp tác và điểm tương đồng vì lợi ích chung. Tuy nhiên, Mỹ sẽ không ngại ngần “vạch mặt chỉ tên” và chống lại những hành vi cưỡng ép khi phát hiện ra điều này.Ông M.Esper chỉ rõ: “Các nước Đông Nam Á đang chịu đựng sự cưỡng ép và dọa nạt thông qua nhiều cách thức, trực tiếp thách thức những nền tảng cơ bản của một trật tự dựa trên luật lệ, rộng mở và tự do. Những gì chúng ta đang chứng kiến ở Biển Đông là một ví dụ tiêu biểu cho hành vi ứng xử này. Thời kỳ hòa bình lâu dài đã tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế ở hầu hết các quốc gia châu Á đang phải nhường chỗ cho một phong cách ứng xử kiểu Trung Quốc, vi phạm quyền chủ quyền của các nước khác”.

Có cùng quan điểm với Bộ trưởng Quốc phòng M.Esper, Đô đốc Davidson khẳng định: “Trung Quốc đang mở rộng sự hiện diện quân sự ở Biển Đông. Họ cũng đang hoạt động trên toàn cầu, bao gồm các khu vực xung quanh Nam Mỹ, châu Âu và châu Phi. Việc triển khai hải quân trên toàn cầu của Trung Quốc trong 30 tháng qua còn nhiều hơn 30 năm trước đó”.Ông Davidsoncho biết thêm, Trung Quốc cũng đang phát triển và khai thác các tên lửa đạn đạo, tên lửa siêu âm tiên tiến. Để đáp trả, Mỹ sẽ tăng cường hệ thống phòng thủ tên lửa và phát triển các vũ khí chính xác cao như một biện pháp răn đe. Ông kết luận: “Tự do và việc đảm bảo trật tự quốc tế là những điều đáng để bảo vệ”.

Đối với Pháp, vào lúc Trung Quốc lên tiếng cảnh cáo Mỹ phải dừng việc phô trương sức mạnh tại Biển Đông, phát biểu tại Ấn Độ ngày 18/11/2019, Đô đốc Christophe Prazuck – Tư lệnh Hải quân Pháp cho rằng, luật biển quốc tếđang bị đe dọa ở Biển Đông và điều đó đã thúc đẩy Pháp thường xuyên đến Biển Đông vì muốn “cổ vũ” cho quyền tự do hàng hải.

Tư lệnh Hải quân Pháp cũng khẳng định, với tư cách là một quốc gia có vùng đặc quyền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, nước Pháp không thể lơ là đối với khu vực Biển Đông khi luật biển quốc tế tại khu vực này đang bị đe dọa. Đô đốc C.Prazuck thừa nhận rằng, Trung Quốc đang bành trướng sự hiện diện quân sự trong khu vực, nhưng Pháp cũng là một tác nhân có quyết tâm phát huy một trật tự trên cơ sở tôn trọng luật lệ quốc tế tại Biển Đông.

Giải thích về các hoạt động của chiến hạm Pháp trong khu vực, Tư lệnh Hải quân Pháp cho rằng: “Có nhiều cách hành xử khác nhau ở Biển Đông. Trước hết, tại sao chúng tôi lại đến đó 6, 7 lần trong năm? Đó là vì luật biển quốc tế bị đe dọa trong khu vực này. Chúng tôi không muốn can dự vào tình hình khu vực liên quan đến các đảo, nhưng chúng tôi đến đó và sẽ tiếp tục bằng hành động của mìnhđể hậu thuẫn cho việc thực thi quyền tự do hàng hải”. Đô đốc C.Prazukkhẳng định, dù nước Pháp ở xa Biển Đông, nhưng rõ ràng khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương là một ưu tiên của Paris. Hải quân Phápđang tiến tới việc cùng phối hợp với Hải quân Ấn Độ để tổ chức tuần tra chung kể từ năm 2020.

Như vậy có thể thấy rằng, trong khi tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc và một số nước ASEAN chưa có giải pháp hữu hiệu, tiến trình đàm phán COC vẫn đang mờ mịt thì những hoạt động phi pháp của Trung Quốc đã khiến các nước lớn ngoài khu vực quan ngại và buộc phải can dự vào đây để ngăn chặn ý đồ biến Biển Đông thành “ao nhà” của Trung Quốc, nhằm đảm bảo quyền tự do hàng hải theo đúng quy định của luật pháp quốc tế. Biển Đông rõ ràng đang ngày càng bị quốc tế hóa và sẽ còn nhiều diễn biến phức tạp, khó lường hơn khi Bắc Kinh chưa từ bỏ tham vọng chủ quyền theo yêu sách “đường chín khúc” – một yêu sách phi lý cả về pháp lý quốc tế và thực tiễn.

RELATED ARTICLES

Tin mới

Bình luận