Tuesday, April 23, 2024
Trang chủThâm cung bí sửĐặng Tiểu Bình và vụ Thiên An Môn

Đặng Tiểu Bình và vụ Thiên An Môn

Vào ngày 4/6/1989, vụ thảm sát Thiên An Môn xảy ra ở Bắc Kinh khiến cả thế giới chấn động. Vụ thảm sát ngày 4/6 là một sự kiện bi thảm trong lịch sử Trung Quốc. Cho đến nay, vụ thảm sát này vẫn là một chủ đề nhạy cảm và bị chính quyền Trung Quốc kiểm duyệt chặt chẽ.

Bên cạnh Quốc lộ 15 nối Los Angeles và Las Vegas ở Hoa Kỳ, có tác phẩm điêu khắc kỷ niệm “Người đàn ông xe tăng ngày 4 tháng 6” do nghệ sĩ Chen Weiming tạo ra.

Theo hồi ký “Lịch trình cải cách” của nguyên Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) Triệu Tử Dương, người bị hạ bệ sau vụ thảm sát “Lục Tứ”, từ tối ngày 3/6 đến ngày 4/ 6/1989, Bắc Kinh không xảy ra “bạo loạn phản cách mạng”, mà là một vụ thảm sát do Đặng Tiểu Bình phát động, sử dụng quân đội, súng và xe tăng để đàn áp sinh viên và những người dân đang biểu tình ôn hòa.

Về số lượng quân đội được Đặng Tiểu Bình điều động, chính quyền Trung Quốc chưa bao giờ công bố con số chính xác. Dựa vào các báo cáo của chính quyền Trung Quốc, Đặng Tiểu Bình đã điều động các quân đoàn từ ba Quân khu Bắc Kinh, Thẩm Dương và Tế Nam đến Bắc Kinh. Có tổng cộng 13 quân khu, bao gồm: quân khu 15, 20, 24, 26, 27, 28, 38, 39, 40, 54, 63, 65 và 67, với tổng số quân khoảng 15 đến 25 vạn người.

Vậy vụ thảm sát này đã giết chết bao nhiêu người? Câu hỏi này vẫn còn gây tranh cãi.

Năm 2014, các tài liệu được giải mật từ Nhà Trắng Hoa Kỳ cho thấy khoảng 10.454 người thiệt mạng và 40.000 người bị thương (báo cáo của Nhà Trắng trích dẫn các tài liệu nội bộ Trung Nam Hải do các nguồn tin trong lực lượng thiết quân luật cung cấp).

Theo ĐCSTQ, chỉ có một số ít người chết, nhưng các nguồn tin khác ước tính số người chết lên đến hàng nghìn, thậm chí hàng chục nghìn.

Cho đến nay, vẫn chưa có con số chính thức và thống nhất về số người chết trong vụ thảm sát Thiên An Môn.

Dưới đây là một số nguồn thông tin khác nhau về số người chết: Theo Chính quyền Trung Quốc: 300-400 người; Hội Chữ thập đỏ Trung Quốc: 2.600 người; Tổ chức Ân xá Quốc tế: Hàng nghìn người; Liên minh Nhân quyền Quốc tế: Hàng chục nghìn người.

Đặng Tiểu Bình nghi ngờ Triệu Tử Dương?
Trong hồi ký của mình, Triệu Tử Dương nêu ba câu hỏi về tuyên bố của ĐCSTQ về phong trào dân chủ sinh viên ngày 4/6/1989:

Thứ nhất, lúc đó họ nói rằng phong trào học sinh là một cuộc đấu tranh chính trị ‘phản đảng, phản xã hội chủ nghĩa’ có lãnh đạo, có kế hoạch, có dự mưu. Bây giờ có thể hỏi một chút, rốt cuộc ai là người lãnh đạo? Kế hoạch như thế nào, dự mưu như thế nào? Có tài liệu nào có thể chứng minh cho điều này không?

Thứ hai, lúc đó người ta cho rằng mục đích của cuộc “bất ổn” này là nhằm lật đổ chính quyền nhà nước, lật đổ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, về vấn đề này có tài liệu gì? Lúc đó tôi đã nói rằng đa số mọi người muốn chúng tôi sửa chữa sai lầm chứ không phải lật đổ hệ thống của chúng tôi. Bao nhiêu năm đã trôi qua, trong quá trình điều tra thu thập được những tài liệu gì? Rốt cuộc là tôi nói đúng hay họ nói đúng?

Thứ ba, việc định tính ‘Lục Tứ’ là bạo loạn phản cách mạng có thể xác định được hay không? Sinh viên luôn tuân thủ trật tự. Nhiều tài liệu cho thấy, khi quân Giải phóng bị người dân tấn công, nhiều nơi chính là sinh viên đứng ra bảo vệ quân Giải phóng. Rất đông người dân cản trở quân Giải phóng vào thành phố, rốt cuộc là vì sao? Chẳng lẽ là để lật đổ chính quyền nhà nước?

Rõ ràng, Triệu Tử Dương không tin vào những gì chính quyền Trung Quốc nói.

Tại sao Đặng Tiểu Bình tạo ra vụ thảm sát ‘4/6’ ?
Theo quan điểm của nhà bình luận chính trị Vương Hữu Quần, có ba lý do chính:

Thứ nhất, giết chóc là phương tiện quan trọng nhất để chính quyền Trung Quốc nắm quyền, củng cố quyền lực và duy trì quyền lực.

Tư tưởng cách mạng của Mao Trạch Đông là sử dụng bạo lực để giành quyền lực và duy trì quyền lực, Mao nắm quyền trong 27 năm và đã phát động hàng chục phong trào chính trị đẫm máu và tàn bạo, giết chết 80 triệu người Trung Quốc. Dùng “nòng súng” (quân đội) và “cán dao” (cỗ máy độc tài) để hù dọa hàng trăm triệu người dân Trung Quốc là vũ khí của Mao nhằm duy trì chế độ.

Sau khi Đặng Tiểu Bình lên nắm quyền, ông không giữ các chức vụ lãnh đạo cao nhất của đảng, đất nước hay chính phủ, như Tổng bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch nước hay Thủ tướng Hội đồng Nhà nước, mà làm Chủ tịch Quân ủy Trung ương trong một thời gian dài. Tại sao? Đặng cũng như Mao, tin vào việc “cai trị đất nước bằng nòng súng”. Bất cứ khi nào Đặng cảm thấy quyền lực tuyệt đối của mình bị đe dọa, ông sẽ sử dụng nòng súng để củng cố quyền lực.

Thứ hai, sự cần thiết phải loại trừ Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Triệu Tử Dương.

Sau khi Đặng Tiểu Bình phát động cải cách mở cửa năm 1978, ông đã đưa ra một quan điểm quan trọng: “Để một số người làm giàu trước”. Những người này là ai? Họ là con của các ‘lão thành cách mạng’ do Đặng Tiểu Bình đứng đầu, trong đó có con trai cả của Đặng Tiểu Bình là Đặng Phác Phương.

Tuy nhiên, trước Phong trào ngày 4/6/1989, Triệu Tử Dương thực sự đã ra lệnh điều tra Công ty Kanghua của Đặng Phác Phương.

Theo hồi ký của Bảo Đồng, thư ký chính trị của Triệu Tử Dương: “Tôi nghĩ gia đình họ Đặng, gia đình Đặng Tiểu Bình không hài lòng với cuộc điều tra Công ty Kanghua vào thời điểm đó. Cơ sở của việc này là gì? Tôi có căn cứ cho điều này. Khi đó tôi là chủ nhiệm Phòng nghiên cứu cải cách thể chế chính trị, chủ đề chính được giao cho tôi là vấn đề liêm chính của Trung Quốc. Một ngày nọ, con gái của Đặng Tiểu Bình, Đặng Nam, chạy đến văn phòng của tôi và nói: “Lão Bảo, tại sao lại điều tra Khang Hoa?”. Tôi nói với cô ấy rằng: Điều tra Khang Hoa là quyết định của Quốc vụ viện”.

“Cô ấy hỏi tại sao lại điều tra? Tôi nói hiện tại về Kang Hua có rất nhiều ý kiến, trong dân có ý kiến, cán bộ có ý kiến, trung ương có ý kiến, địa phương cũng có ý kiến. Bào Đồng cho rằng việc điều tra sẽ giúp làm rõ sự việc, nếu Phác Phương không có vấn đề gì thì sẽ trả lại sự trong sạch cho anh ta, còn nếu có sai phạm thì có thể sửa chữa”.

“Nếu Phác Phương bị điều tra sẽ giúp làm rõ sự việc, nếu Phác Phương vô tội thì sẽ trả lại sự trong sạch cho Phác Phương, còn nếu sai phạm thì hãy sửa chữa. Điều đó chẳng tốt sao?”

Nghe Bảo Đồng nói xong, Đặng Nam nói: “Tôi có ý kiến riêng!” rồi bỏ đi.

“Rồi một ngày nọ, tôi đến chỗ Tử Dương, Tử Dương nói: Đặng Nam không lý trí. Kiểm tra Kanghua của Phác Khang có gì sai? Sau khi kiểm tra, nếu có thiếu sót, sai sót thì chỉ cần sửa chữa. Nếu không có vấn đề gì, thì cũng là đang đưa cho mọi người lời giải thích”.

Lệnh của Triệu Tử Dương điều tra Đặng Phác Phương, con trai Đặng Tiểu Bình chẳng khác nào chạm vào “pho mát” của các ‘lão thành’ do Đặng Tiểu Bình đứng đầu, đây có thể là một trong những lý do quan trọng khiến Đặng Tiểu Bình hợp tác với các lão thành khác của ĐCSTQ để loại bỏ Triệu Tử Dương.

Triệu Tử Dương đã phản đối việc Đặng Tiểu Bình triển khai quân đội để trấn áp sinh viên, đây có thể là một lý do quan trọng khác khiến Đặng loại bỏ Triệu.

Nguyên nhân bùng nổ Phong trào Dân chủ Sinh viên ngày 4/6 là cái chết bất ngờ của Hồ Diệu Bang, nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, vào ngày 15/4/1989. Khi đó, sinh viên Đại học Bắc Kinh và nhiều trường đại học khác đã tự phát đến Quảng trường Thiên An Môn để thương tiếc Hồ Diệu Bang. Sau đó, các hoạt động tưởng niệm phát triển thành phong trào chống tham nhũng, yêu cầu dân chủ và tự do.

Làm thế nào để giải quyết tình trạng bất ổn của sinh viên này?

Đặng Tiểu Bình chủ trương đưa quân vào Bắc Kinh và áp đặt thiết quân luật, tức là đàn áp bằng bạo lực; Triệu Tử Dương không đồng ý và chủ trương giải quyết vấn đề trên con đường dân chủ và pháp quyền.

Vào thời điểm đó, nhiều người trong chính quyền hàng đầu của Trung Quốc và các quan chức quân sự cũng đồng tình với chủ trương của ông Triệu.

Theo hồi ức của Triệu Tử Dương: “Ngày 21/5, (Ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc) Kiều Thạch nói rằng, nếu Đặng Tiểu Bình không điều động thêm quân tới Bắc Kinh thì thảm kịch có thể đã xảy ra. Bây giờ quân đội không vào được, thiết quân luật không có hiệu lực, hàng trăm vạn sinh viên và người dân đổ ra đường, vào quảng trường Thiên An Môn, thủ đô sẽ bị tê liệt. Lúc đó tôi nghĩ, chỉ có thể triệu tập sớm Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc, để cơ quan quyền lực cao nhất dùng hình thức dân chủ và pháp trị để xoay chuyển tình thế. Trước đó, (Phó Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc) Bành Xung đã đến gặp tôi nói rằng Phó Ủy viên trưởng nhất trí triệu tập sớm Ủy ban Thường vụ, (cựu Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ) Bành Chân cũng đồng ý”.

Trong Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, những người ủng hộ Triệu Tử Dương gồm có Hồ Khải Lập; trong Ban Cố vấn Trung ương có Lý Xương, Lý Nhuệ, Đỗ Nhuận Sinh, Vu Quang Viễn và những người khác phản đối việc quân đội đàn áp sinh viên. Trong Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 57 thành viên trong đó có Hồ Tích Vĩ phản đối việc quân đội đàn áp sinh viên.

Trong quân đội, bảy vị tướng bao gồm Trương Ái Bình, Tiêu Khắc, Diệp Phi, Lý Tụ Khuê, Dương Đắc Chí, Trần Tái Đạo và Tống Thời Lâm phản đối việc quân đội đàn áp học sinh.

Thiếu tướng Từ Cần Tiên, tư lệnh Quân đoàn 38, từ chối dẫn quân vào Bắc Kinh với lý do “lệnh quân sự không đầy đủ, bất hợp pháp và không có thông báo chính thức bằng văn bản”.

Thiếu tướng Trương Minh Xuân, chính ủy quân đoàn 28 của Lục quân và Thiếu tướng Hà Yến Nhiên, được lệnh dẫn quân từ thành phố Đại Đồng, tỉnh Sơn Tây, nơi họ đóng quân, đến Bắc Kinh để thi hành thiết quân luật, nhưng họ thụ động bất tuân mệnh lệnh và đội quân do họ chỉ huy trở thành những người duy nhất liên quan đến “Sự kiện 4/6” quân thiết quân luật không đến địa điểm được chỉ định đúng giờ. Điều này cho thấy họ không muốn tham gia vào vụ thảm sát.

Sau vụ thảm sát ngày 4/6, Triệu Tử Dương bị cáo buộc “chia rẽ đảng” và “ủng hộ tình trạng bất ổn”, bị cách chức tất cả các chức vụ, kể cả tổng bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, và chỉ giữ lại tư cách đảng viên.

Thứ ba, cần phải tuân thủ cái gọi là ‘Bốn Nguyên tắc Cơ bản’
Năm 1978, Đặng Tiểu Bình phát động cải cách mở cửa, thực chất là do Mao Trạch Đông phát động Cách mạng Văn hóa kéo dài 10 năm đã đưa Trung Quốc đến bờ vực sụp đổ, là một biện pháp được thực hiện để cứu chính quyền khỏi nguy hiểm.

Điều kiện tiên quyết trong công cuộc cải cách, mở cửa của Đặng là phải tuân thủ cái gọi là “bốn nguyên tắc cơ bản”, tức là bám sát chủ nghĩa Mác – Lênin, bám sát chủ nghĩa xã hội, tuân thủ chuyên chính dân chủ nhân dân, tuân thủ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Cốt lõi của việc kiên trì sự lãnh đạo của Đảng là kiên trì sự lãnh đạo tuyệt đối của Chủ tịch Quân ủy Trung ương Đặng Tiểu Bình đối với Đảng.

Năm 1987, Đặng Tiểu Bình lấy cớ “không kiên quyết chống đối tự do hóa tư sản” để hạ bệ Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc lúc bấy giờ là Hồ Diệu Bang.

Nguyên nhân thực sự là Hồ Diệu Bang bị buộc tội ép Đặng Tiểu Bình bàn giao quyền lực quân sự.

Mặc dù Đặng Tiểu Bình đã nhiều lần nói đến việc nghỉ hưu và trẻ hóa cán bộ nhưng ông không muốn từ bỏ quyền lãnh đạo tuyệt đối của đảng với tư cách là Chủ tịch Quân ủy Trung ương.

Mùa hè năm 1986, Đặng Tiểu Bình gặp Hồ Diệu Bang để trao đổi ý kiến về nhân sự cho Đại hội XIII Đảng Cộng sản Trung Quốc. Ông Đặng nói: “Tôi sẽ từ chức Chủ tịch Quân ủy, ông sẽ tiếp nhận chức vụ Quân ủy của tôi, Tử Dương cũng sẽ trở thành Chủ tịch nước, chức Tổng Bí thư và Thủ tướng sẽ do những người trẻ tuổi đảm nhiệm”.

Ông Đặng thực ra đang thử Hồ Diệu Bang xem sẽ phản ứng như thế nào. Ông Hồ Diệu Bang không suy nghĩ kỹ, tin là thật, trong lòng vui mừng, không kiềm chế được miệng, đã nhanh chóng tiết lộ cuộc trò chuyện chỉ giới hạn giữa hai người ra ngoài.

Cách tiếp cận của ông Hồ Diệu Bang vi phạm điều cấm kỵ lớn nhất của Đặng Tiểu Bình.

Tại Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1987, Triệu Tử Dương được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, còn Đặng tiếp tục giữ chức Chủ tịch Quân ủy Trung ương chỉ với tư cách là đảng viên.

Bề ngoài, Triệu Tử Dương là lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Về bản chất, Đặng Tiểu Bình vẫn là nhà lãnh đạo tối cao của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Vào ngày 25/4/1989, sau khi nghe báo cáo của Thủ tướng Lý Bằng và những người khác, Đặng Tiểu Bình đã mô tả tình trạng bất ổn của sinh viên là tình trạng hỗn loạn chống đảng và chống xã hội chủ nghĩa. Vào ngày 26/4, theo chỉ đạo của ông Đặng, tờ Nhân dân Nhật báo đã đăng bài xã luận “Hãy có quan điểm rõ ràng trước tình trạng bất ổn”.

Về quyết định của Đặng Tiểu Bình, Triệu Tử Dương đã vi phạm quan điểm của ông Đặng ít nhất 4 lần.

Lần đầu tiên là trong bài phát biểu kỷ niệm Phong trào 4/5 ngày 3/5. Triệu Tử Dương khẳng định tinh thần yêu nước của sinh viên và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì sự ổn định, nhưng hoàn toàn không đề cập đến “bất ổn”.

Lần thứ hai là trong bài phát biểu ngày 4/5 khi gặp đại diện Hội nghị Thống đốc thường niên của Ngân hàng Châu Á, Triệu Tử Dương đề xuất giải quyết vấn đề thông qua tham vấn và đối thoại theo phương thức dân chủ và pháp quyền, mà không đề cập đến “tình trạng hỗn loạn”.

Lần thứ ba là tại cuộc họp Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc ngày 16/5. Triệu Tử Dương chỉ ra rằng phản ứng đối với bài xã luận 4.26 từ các bên là rất lớn và đã trở thành nút thắt ảnh hưởng đến cảm xúc của học sinh. Liệu nút thắt này có thể được tháo gỡ một cách thích hợp để xoa dịu cảm xúc của sinh viên? Thủ tướng Lý Bằng nói rằng những gì được nói trong bài xã luận là “một âm mưu đã được lên kế hoạch” và “một sự hỗn loạn”. “Bản chất là phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc và hệ thống xã hội chủ nghĩa…”, đây là lời nói nguyên gốc của Đặng Tiểu Bình, không thể thay đổi. Triệu Tử Dương nói rõ rằng ông không đồng ý.

Lần thứ tư là sau khi ông Đặng đề xuất điều động quân tới Bắc Kinh vào ngày 17/5. Triệu Tử Dương không đồng tình với quyết định của ông Đặng và từ chức, và vạch rõ đường lối với Đặng Tiểu Bình, người chủ trương sử dụng vũ lực.

Theo quan điểm của Đặng Tiểu Bình, hàng loạt hành động của Triệu Tử Dương đã vi phạm quyền lãnh đạo tuyệt đối của Chủ tịch Quân ủy Trung ương đối với đảng, đồng thời vi phạm cái gọi là “bốn nguyên tắc cơ bản”.

“Bốn Nguyên tắc Cơ bản” là gì? Trên thực tế, đó là bốn cây gậy có thể dùng để gây đau đớn. Từ Mao Trạch Đông đến Đặng Tiểu Bình, mỗi khi họ muốn trừng phạt ai đó, họ sẽ dùng bốn cây gậy này để gán cho ‘đối tượng’ là phản đảng, phản xã hội chủ nghĩa, chuyên chính dân chủ chống nhân dân, phản chủ nghĩa Mác-Lênin và sẽ hạ gục ‘đối tượng’.

Ngày 9/6/1989, trong bài phát biểu khi gặp các cán bộ của lực lượng thiết quân luật trên cấp quân sự, Đặng Tiểu Bình lần đầu tiên nói rằng “náo loạn” đã xảy ra, sau đó là “bạo loạn phản cách mạng” đã xảy ra. Sau đó ông nói: “Họ muốn lật đổ đất nước và đảng của chúng ta…Mục đích là thành lập một nước cộng hòa tư sản hoàn toàn bị phương Tây chư hầu… Cốt lõi là lật đổ Đảng Cộng sản và lật đổ hệ thống xã hội chủ nghĩa”. Tất cả những vấn đề này đều bị dán nhãn chống lại Bốn Nguyên tắc Cơ bản.

Sau đó, tại Phiên họp toàn thể lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 13, Triệu Tử Dương bị cáo buộc “chia rẽ đảng” và “ủng hộ tình trạng bất ổn”, và cả “bốn cây gậy” chống lại Bốn Nguyên tắc Cơ bản đều được gán vào Triệu Tử Dương.

Triệu Tử Dương không chịu thừa nhận mình đã “chia đảng” và “ủng hộ tình trạng bất ổn” cho đến khi qua đời.

Phần kết luận
Sau vụ thảm sát 4/6, Đặng Tiểu Bình đã đích thân chấm dứt cải cách hệ thống chính trị của Trung Quốc.

Từ ngày 4/6/1989 đến hôm nay năm 2024, công cuộc cải cách hệ thống chính trị của ĐCSTQ không những không đạt được tiến bộ đáng kể nào. Ngược lại, sau khi Tập Cận Bình lên nắm quyền, ông dần quay trở lại Cách mạng Văn hóa và quay trở lại thời kỳ toàn trị.

Đặng Tiểu Bình từng nói: “Nếu chỉ tiến hành cải cách hệ thống kinh tế mà không cải cách hệ thống chính trị thì cải cách hệ thống kinh tế sẽ không đạt được”.

Đích thân Đặng Tiểu Bình đã chấm dứt cải cách hệ thống chính trị của ĐCSTQ, tương đương với việc chấm dứt cải cách hệ thống kinh tế của ĐCSTQ.

T.P

RELATED ARTICLES

Tin mới