Monday, May 20, 2024
Trang chủBiển ĐôngPháp luật biểnTuân thủ và thực thi nghiêm UNCLOS 1982, là bảo vệ nền...

Tuân thủ và thực thi nghiêm UNCLOS 1982, là bảo vệ nền tảng pháp lý quốc tế vững chắc và bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc ở Biển Đông

Trong quan hệ quốc tế giữa các quốc gia có chủ quyền trên thế giới, bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc là vấn đề nguyên tắc mang tính “bất biến”. Với Việt Nam, lãnh thổ không chỉ có phần diện tích trên đất liền, mà còn có cả các vùng biển, các đảo ở Biển Đông được xác định theo các quy định của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS 1982).

Hơn nữa, những lợi ích từ Biển Đông mang đến cho Việt Nam vô cùng to lớn và đương nhiên gắn liền với lợi ích quốc gia – dân tộc của Việt Nam, Vì vậy, việc tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982 cũng là bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia – dân tộc của Việt Nam.

Biển Đông có nhiều lợi ích gắn liền với lợi ích quốc gia – dân tộc của Việt Nam

Do có vị trí địa – kinh tế và địa – chính trị quan trọng, nên từ lâu Biển Đông đã trở thành nhân tố không thể thiếu trong chiến lược phát triển không chỉ của các nước, vùng lãnh thổ trong khu vực, mà còn của cả một số cường quốc hàng hải trên thế giới. Đó cũng là một trong nhiều lý do quan trọng dẫn đến những tranh chấp ở vùng biển này.

Việt Nam với bờ biển dài trên 3.260 km, trung bình khoảng 100 km2 đất liền có 1 km bờ biển, cao gấp 6 lần tỉ lệ của thế giới. Ven bờ có khoảng 3.000 đảo lớn, nhỏ, với diện tích khoảng l.700 km2, trong đó 3 đảo có diện tích hơn 100 km2, 23 đảo có diện tích hơn 10 km2, 82 đảo có diện tích hơn l km2 và hơn l.400 đảo chưa có tên. Vì vậy, Biển Đông gắn bó mật thiết, ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng – an ninh, bảo vệ môi trường của Việt Nam.

Tại Biển Đông có 2 quần đảo lớn là Hoàng Sa và Trường Sa. Đây là 2 quần đảo mà Việt Nam có đầy đủ bằng chứng địa lý, lịch sử và pháp lý cụ thể, thực tế, rõ ràng không thể tranh cãi, chứng minh về sự chiếm hữu và làm chủ thực sự, hòa bình và thực thi liên tục chủ quyền từ quá khứ đến hiện tại.

Biển, đảo Việt Nam nói chung và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nói riêng là một bộ phận quan trọng cấu thành phạm vi chủ quyền thiêng liêng của đất nước và dân tộc Việt Nam theo đúng quy định của UNCLOS 1982. Do đó, tuân thủ nghiêm chỉnh UNCLOS 1982 chính là bảo vệ vững chắc chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông, cũng chính là bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc của Việt Nam.

Việt Nam thực thi và tuân thủ nghiêm chỉnh UNCLOS 1982

Trước khi UNCLOS 1982 ra đời.

Từ năm 1967, Liên hợp quốc đã bắt đầu quá trình bàn thảo và xây dựng bộ luật quốc tế về biển cả và đại dương. Theo đó, các nước đã có các phiên họp trù bị và tiếp đó, từ năm 1973 chuyển sang các Hội nghị bàn về xây dựng Luật biển do Liên hợp quốc chủ trì. Trong những năm trên, Việt Nam do điều kiện đất nước bị tạm thời chia cắt, nên không có điều kiện tham gia vào quá trình trù bị (từ 1967 – 1973) và giai đoạn đầu của Hội nghị Luật Biển của Liên hợp quốc lần thứ ba (1973 – 1976). Việt Nam bắt đầu tham gia tiến trình trên tại khóa họp thứ sáu năm 1977 (tổng số có tất cả 11 phiên họp) và tham gia trong bối cảnh có rất nhiều khó khăn: đất nước vừa thoát khỏi chiến tranh, kiến thức và tư liệu về luật biển rất hạn chế, kinh nghiệm hoạt động tại diễn đàn đa phương đang còn thiếu, nhiều nội dung đã được hội nghị thảo luận.

Tuy nhiên, với nỗ lực là một thành viên tham gia đàm phán, Việt Nam đã vừa học hỏi, nắm bắt các khía cạnh lợi ích hoặc có tác động đối với mỗi nhóm nước, vừa xây dựng và thúc đẩy quan điểm pháp lý của Việt Nam trong các vấn đề mấu chốt với vị thế của một quốc gia ven biển trên một loạt vấn đề như: quy chế lãnh hải và quyền qua lại vô hại của tàu nước ngoài trong đó có tàu quân sự; qui định về đường cơ sở, quy chế các đảo và bãi đá, chế độ pháp lý vùng đặc quyền kinh tế và quyền tự do hàng hải; giới hạn ngoài cùng của thềm lục địa, các nguyên tắc về phân định biển, nguyên tắc và cơ chế giải quyết tranh chấp; chế độ khai thác đáy đại dương, chiến lược kinh tế biển… Đóng góp lớn nhất của Việt Nam là đã cùng Nhóm các nước ủng hộ nguyên tắc phân định biển công bằng, đưa ra được nhiều quy định mà sau này đã được chính thức hóa tại các Điều 74 và 83 của Công ước, như về chiều rộng lãnh hải là 12 hải lý, chế độ pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế… Đồng thời, trong quá trình tham gia, Việt Nam đã lên tiếng mạnh mẽ khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Mặt khác, Việt Nam đã tích cực vận dụng các quy định liên quan của luật pháp quốc tế để xây dựng các văn bản pháp luật trong nước về biển. Năm 1977, Việt Nam ban hành “Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam về các vùng biển Việt Nam” trong đó xác lập vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý, không chỉ giới hạn trong quyền đánh bắt cá mà còn có các quyền chủ quyền và quyền tài phán khác. Tuyên bố này đưa ra khi UNCLOS 1982 đang được xây dựng, điều đó thể hiện sự đóng góp của Việt Nam vào quá trình pháp điển hóa tiến bộ luật biển quốc tế. Với tuyên bố này, Việt Nam cùng với các quốc gia khác như Kenya, Mianmar, Cuba, Yemen, Cộng hòa Dominica, Guatemala, Ấn Độ, Pakistan, Mexico, Seychelles được coi như những quốc gia tiên phong trong việc đưa ra khái niệm vùng đặc quyền kinh tế, trở thành khái niệm có giá trị tập quán và sau này trở thành một nội dung quan trọng của UNCLOS 1982.

Sau khi UNCLOS 1982 ra đời

Việt Nam là một trong 107 quốc gia ký UNCLOS 1982 ngay sau khi văn kiện này được mở ký và cũng là một trong những quốc gia phê chuẩn sớm, trước khi Công ước có hiệu lực. Điều đó thể hiện thiện chí, sự coi trọng và kỳ vọng của Việt Nam vào một trật tự pháp lý mới về biển và đại dương. 

Từ khi Công ước ra đời (1982) đến nay, Việt Nam đã thực thi và tuân thủ nghiêm Công ước trên những mặt cơ bản sau:

Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện nhiều chủ trương, chính sách, luật pháp đúng đắn về biển để làm cơ sở cho việc thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền, quản lý, khai thác và sử dụng biển bền vững.

Về chủ trương, chính sách, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành một số văn kiện sau: Nghị quyết số 03-NQ/TW năm 1993 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong những năm trước mắt; Chỉ thị số 20-CT/TW của Trung ương Đảng năm 1997 về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Đặc biệt là sự ra đời Nghị quyết 09-NQ/TW (khóa X) năm 2007 về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, và Nghị quyết số 36-NQ/TW (khóa XII) năm 2018 về Chiến lược phát triển biển bền vững với tầm nhìn chiến lược sâu rộng, tính bao quát cao trên các lĩnh vực kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh, đối ngoại, hợp tác quốc tế, môi trường…

Nhà nước cũng đã ban hành hàng loạt văn bản pháp lý nhằm thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng, các quy định của UNCLOS 1982, như: Ngày 23/6/1994, Quốc hội Việt Nam ra Nghị quyết về việc phê chuẩn UNCLOS 1982, trong đó khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với nội thủy, lãnh hải, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam trên cơ sở các quy định của UNCLOS 1982 và các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, yêu cầu các nước tôn trọng các quyền nói trên của Việt Nam. Đồng thời, Nghị quyết còn khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và chủ trương giải quyết các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ cũng như các bất đồng khác liên quan đến Biển Đông thông qua thương lượng hòa bình, trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982.

Để thể hiện trách nhiệm và thiện chí của một quốc gia thành viên Công ước, Việt Nam luôn tôn trọng và thực thi đầy đủ các nghĩa vụ theo Công ước, từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia, vận dụng các quy định của Công ước trong xác định các vùng biển và phân định ranh giới biển với các nước láng giềng, quản lý và sử dụng biển, đồng thời hợp tác với các nước trong các lĩnh vực biển phù hợp với các quy định của Công ước theo hướng bảo tồn và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên biển, phục vụ phát triển bền vững.

Năm 2012, Việt Nam đã ban hành Luật Biển Việt Nam nhằm thống nhất việc hoạch định, sử dụng, thăm dò, khai thác tài nguyên biển và quản lý các vùng biển, thềm lục địa, hải đảo của Việt Nam, cũng như việc giải quyết tranh chấp trên biển giữa Việt Nam và các nước láng giềng. Đây được coi là bước tiến quan trọng trong việc chuyển hóa các quy định của UNCLOS 1982 vào hệ thống pháp luật trong nước, tạo thuận lợi cho việc quản lý thống nhất về biển và phát triển kinh tế biển của Việt Nam.

Cùng với việc ban hành Luật Biển, Quốc hội Việt Nam cũng đã thông qua Bộ Luật Hàng hải 2015, có hiệu lực từ ngày 01/7/2017 nhằm điều chỉnh các hoạt động giao thông hàng hải trên biển, chế độ ra vào các cảng biển Việt Nam. Đồng thời, Việt Nam đã thông qua nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đến quản lý và sử dụng biển, đại dương, như Luật Biên giới quốc gia (2003), Luật Bảo vệ môi trường (2014), Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (2015), Luật Cảnh sát biển năm 2018, Nghị định 143/2017/NĐ-CP ngày 14/12/2017 của Chính phủ quy định bảo vệ công trình hàng hải, Nghị định 71/2015/NĐ-CP ngày 03/9/2015 của Chính phủ về quản lý hoạt động của người và phương tiện trong khu vực biên giới biển.

Tất cả các văn kiện trên đã tạo bước chuyển mạnh về tư duy và hành động của toàn bộ hệ thống chính trị, là cơ sở pháp lý cho công tác quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo và đã đem lại các thành tựu to lớn trong việc khai thác, sử dụng, quản lý và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

Thứ hai, căn cứ các quy định của UNCLOS 1982, Việt Nam đã và đang tiến hành có hiệu quả và triển khai các hoạt động kinh tế biển trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa 200 hải lý, phục vụ phát triển đất nước. Việt Nam cũng chủ động thúc đẩy hợp tác cùng các bên liên quan trong việc bảo vệ môi trường biển, cứu hộ cứu nạn trên biển, phòng chống thiên tai và triển khai các biện pháp ngăn chặn tội phạm trên biển, góp phần thực hiện đầy đủ các quy định của Công ước. Đặc biệt là ngày 22/10/2018, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW về chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, thể hiện quyết tâm rất lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc phát triển bền vững kinh tế biển, đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển.

Thứ ba, với chủ trương nhất quán thông qua các biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp, bất đồng trên biển, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc áp dụng có hiệu quả UNCLOS 1982 để giải quyết các tranh chấp về phân định biển với các nước láng giềng, trong đó luôn đề cao nguyên tắc công bằng để tìm ra giải pháp hợp lý. Việt Nam đã ký với Thái Lan Hiệp định về phân định biển ngày 09/8/1997; ký với Trung Quốc Hiệp định về phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ ngày 25/12/2000; ký với Indonesia Hiệp định về phân định thềm lục địa ngày 26/6/2003.

Thực tiễn đàm phán và ký kết các văn kiện nêu trên đã thể hiện sự vận dụng sáng tạo các quy định của UNCLOS 1982 của Việt Nam, qua đó đóng góp và làm phong phú thêm luật pháp quốc tế về phân định biển.

Trên cơ sở các quy định của UNCLOS 1982, Việt Nam đang thúc đẩy đàm phán phân định và hợp tác cùng phát triển tại khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc; đàm phán phân định vùng đặc quyền kinh tế với Indonesia và đàm phán về các vấn đề trên biển với các nước láng giềng khác.

Thứ tư, trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS 1982, Việt Nam kiên quyết, kiên trì và kịp thời đấu tranh trước bất cứ vi phạm nào đối với chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam ở khu vực Biển Đông; tích cực định hình tiếng nói chung về vấn đề hòa bình, an ninh, ổn định ở khu vực Biển Đông trong các cơ chế khu vực, đa phương và toàn cầu; tham gia vào việc xây dựng các luật lệ quốc tế liên quan đến biển và đại dương ở quy mô khu vực và toàn cầu.

Tại các hội nghị bàn về vấn đề tranh chấp ở Biển Đông, Việt Nam luôn kiên trì yêu cầu các bên “tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982”, coi đây như một nguyên tắc để giải quyết và xử lý các tranh chấp liên quan đến biển, đảo. Việt Nam đã nỗ lực đưa nguyên tắc này vào các văn kiện của ASEAN, kể cả “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC); “Tuyên bố 6 điểm ngày 20/7/2012 của ASEAN về Biển Đông”; dự thảo Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC). Trong đàm phán COC, Việt Nam và các nước ASEAN thống nhất phải đưa UNCLOS 1982 vào trong tiến trình này, coi đây vừa là cơ sở, vừa là vấn đề có tính nguyên tắc.

Với nỗ lực của Việt Nam, nội dung “căn cứ luật pháp quốc tế, UNCLOS 1982 để tìm ra giải pháp cơ bản lâu dài cho các tranh chấp tại Biển Đông” đã được đưa vào “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc” ký ngày 10/11/2011. Điều đó cho thấy, Việt Nam không chỉ chủ động thực hiện nghiêm túc các quy định của Công ước, mà còn luôn có ý thức thúc đẩy việc tôn trọng và thực hiện đầy đủ các quy định của UNCLOS 1982.

Việt Nam còn tích cực tham gia các hoạt động trong khuôn khổ các cơ chế quốc tế được thành lập theo UNCLOS 1982. Việt Nam đã từng được bầu làm Phó Chủ tịch Đại hội đồng và thành viên Hội đồng của Cơ quan quyền lực quốc tế về đáy đại dương. Việt Nam tham gia đầy đủ Hội nghị các quốc gia thành viên UNCLOS 1982 được tổ chức hàng năm tại Đại hội đồng Liên hợp quốc và luôn có những đóng góp tích cực vào việc thúc đẩy thực thi hiệu quả Công ước; tham gia và có những đóng góp tích cực vào các hội nghị của Cơ quan quyền lực quốc tế về đáy đại dương; ủng hộ tăng cường hoạt động của Ủy ban Ranh giới thềm lục địa và nâng cao vai trò của Tòa án Luật Biển quốc tế…

Tại các diễn đàn liên quan, Việt Nam luôn khẳng định: trong hoạt động sử dụng biển, các quốc gia phải tuân thủ đúng các quy định của UNCLOS 1982, thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo Công ước. Việt Nam cũng đã tham gia xây dựng nhiều cơ chế, văn kiện pháp lý quốc tế và khu vực liên quan đến biển, như Công ước quốc tế về Tổ chức Vệ tinh hàng hải (INMARSAT), Hệ thống an toàn và cứu nạn hàng hải toàn cầu (GMDSS), tham gia Công ước Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO) và các công ước khác của IMO, như Công ước quốc tế về phòng ngừa ô nhiễm từ tàu 1973 và Nghị định thư bổ sung 1978 (MARPOL 73/78), Công ước về Tìm kiếm cứu nạn 1979 (SAR 79), Công ước quốc tế về an toàn sinh mạng trên biển 1974 (SOLAS 74), Công ước quốc tế về ngăn ngừa hành vi bất hợp pháp đe dọa an toàn hàng hải 1988 (SUA 88) và một số văn kiện pháp lý trong khuôn khổ Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO).

Ở cấp độ khu vực, Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định chung trong khuôn khổ hợp tác ASEAN liên quan đến vận tải biển và dịch vụ vận tải như: Hiệp định khung ASEAN về Tạo điều kiện thuận lợi cho vận tải hàng hóa quá cảnh 1998, Hiệp định khung ASEAN về Tạo điều kiện thuận lợi cho vận tải liên quốc gia 2012…

Những bằng chứng sinh động trên thể hiện thiện chí, sự tích cực, quyết tâm và cam kết thực tế của Chính phủ Việt Nam đối với việc tôn trọng và thực thi các quy định của UNCLOS 1982, đồng thời thể hiện nỗ lực và chủ trương nhất quán của Việt Nam trong việc hợp tác giải quyết các tranh chấp, bất đồng trên biển bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982, nhằm thúc đẩy hợp tác với các quốc gia, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của Việt Nam ở Biển Đông.

Có thể khẳng định rằng, kể từ khi ra đời cho đến nay, UNCLOS 1982 ngày càng thể hiện tầm quan trọng không thể phủ nhận trong đời sống pháp luật quốc tế. Văn kiện này đã thực sự trở thành căn cứ pháp lý vững chắc để xác định quyền và nghĩa vụ của các quốc gia ven biển, cũng như cách xử lý các vấn đề liên quan đến biển và đại dương, kể cả những tranh chấp về biển. Là một quốc gia gắn liền với biển, Việt Nam luôn đi đầu và không ngừng nỗ lực trong việc thực hiện UNCLOS 1982. Việt Nam tin tưởng chắc chắn rằng, nếu các quốc gia ven biển đều thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ được quy định bởi UNCLOS 1982 thì nhân loại không những sẽ tránh được những căng thẳng, xung đột trên biển mà còn có điều kiện tốt hơn để khai thác biển và đại dương bền vững, phục vụ lợi ích của con người.

RELATED ARTICLES

Tin mới